Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, hoạt động thương mại của Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến tích cực, đóng góp lớn vào sự tăng trưởng kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình mở cửa thị trường là sự gia tăng nhanh chóng của các hiện tượng tiêu cực, nổi cộm là vấn nạn buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại. Các hành vi này thường tập trung vào những ngành hàng có mức tỷ suất lợi nhuận cao như rượu bia ngoại, thuốc lá, mỹ phẩm, dược phẩm và thực phẩm chức năng. Tình trạng này không chỉ gây thất thu ngân sách nhà nước, bóp nghẹt các cơ sở kinh doanh chân chính, mà còn tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, an ninh trật tự xã hội và môi trường đầu tư.

Lào Cai là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Tây Bắc của Việt Nam, giữ vị trí địa bàn chiến lược với 182,086 km đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Tỉnh sở hữu cửa khẩu quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu, giữ vai trò điểm nối trung tâm trên tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, đóng vai trò cửa ngõ giao thương giữa các nước ASEAN với thị trường Tây Nam Trung Quốc. Cùng với quy mô dân số 801.345 người, Lào Cai vừa là thị trường tiêu thụ trực tiếp, vừa là địa bàn trung chuyển trọng điểm hàng hóa xuất nhập khẩu của cả nước. Do địa hình hiểm trở nhiều đồi núi, sông suối và lối mở biên giới, địa phương này trở thành địa bàn thường xuyên diễn ra các hoạt động buôn bán, vận chuyển hàng lậu, gian lận xuất xứ và sản xuất, tiêu thụ hàng giả với tính chất ngày càng tinh vi, phức tạp. Do đó, việc nghiên cứu công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này tại địa phương có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận quản lý kinh tế lẫn thực tiễn thi hành công vụ.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là: Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai, đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này trên địa bàn tỉnh thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định theo 4 nội dung cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại cũng như công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này.
  2. Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong giai đoạn từ năm 2018 đến tháng 8 năm 2021.
  3. Xác định và làm rõ các nhân tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại tại địa phương.
  4. Đề xuất quan điểm, định hướng và các nhóm giải pháp nhằm phát triển, nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại tại tỉnh Lào Cai trong giai đoạn 2022 - 2025.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động quản lý nhà nước đối với công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước thông qua các hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, cơ chế phối hợp liên ngành, kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong thương mại.
  • Về không gian: Giới hạn trong địa bàn hành chính tỉnh Lào Cai, kết hợp tham khảo kinh nghiệm quản lý của một số địa phương trong nước.
  • Về thời gian: Dữ liệu và số liệu thực trạng được thu thập, phân tích từ năm 2018 đến hết tháng 8 năm 2021; các định hướng và giải pháp đề xuất phục vụ cho giai đoạn 2022 - 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên khung khổ pháp luật hiện hành và các nguyên lý quản lý kinh tế. Tác giả vận dụng các khái niệm pháp lý gồm:

  • Khái niệm buôn lậu và định nghĩa 5 trường hợp hàng hóa nhập lậu theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ.
  • Khái niệm và 8 nhóm hành vi cấu thành hàng giả căn cứ khoản 8 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP; hàng hóa giả mạo sở hữu trí tuệ căn cứ Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
  • Khái niệm và các hành vi gian lận thương mại theo quy định tại khoản 2 Điều 71 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005.
  • Khái niệm quản lý nhà nước về thương mại và quản lý nhà nước đối với hoạt động chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại.
  • Cơ chế quản lý và phối hợp liên ngành: Quán triệt Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới; Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 19/03/2014 thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389); các Quyết định sửa đổi, bổ sung số 09/QĐ-TTg ngày 06/01/2017 và số 73/QĐ-TTg ngày 16/01/2021; Quyết định số 08/QĐ-BCĐ389 sửa đổi Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia.
  • Nguyên tắc quản lý: Nguyên tắc tập trung dân chủ; kết hợp hài hòa quản lý theo ngành và lãnh thổ; kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo chức năng.
  • Công cụ quản lý: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật; công cụ kế hoạch hóa (chiến lược phát triển, kế hoạch dài/trung/ngắn hạn, chương trình hành động); công cụ chính sách (chính sách phát triển thương nhân, chính sách phát triển hàng hóa, chính sách hỗ trợ kiểm tra hải quan, đào tạo cán bộ).
  • Tiêu chí đánh giá: Đánh giá theo hiệu lực quản lý (mức độ tuân thủ pháp luật, mức độ thực thi quyền lực nhà nước) và hiệu quả quản lý (chi phí hành chính, mức độ hoàn thành chỉ tiêu kiểm tra, số vụ xử lý và biến động giá trị xử phạt).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai đồng bộ:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Trích xuất từ các báo cáo định kỳ về tình hình kinh tế - xã hội của Sở Công Thương tỉnh Lào Cai; các báo cáo thống kê, tổng kết công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thị trường của Cục Quản lý thị trường tỉnh Lào Cai và Ban Chỉ đạo 389 tỉnh Lào Cai; văn bản chỉ đạo từ Cổng thông tin Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực tế thông qua bảng hỏi phát cho 50 cơ sở kinh doanh gồm các cửa hàng và doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Thang đo được áp dụng là thang đo quãng Likert 5 mức độ (1: Rất không đồng ý; 2: Không đồng ý; 3: Bình thường; 4: Đồng ý; 5: Rất đồng ý) theo chuẩn khoảng cách của Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008): 1,00 - 1,80 (Rất không đồng ý); 1,81 - 2,60 (Không đồng ý); 2,61 - 3,40 (Bình thường); 3,41 - 4,20 (Đồng ý); 4,21 - 5,00 (Rất đồng ý).
  • Phân tích và xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp để đánh giá thực trạng; phương pháp mô hình hóa dữ liệu thông qua hệ thống bảng biểu, đồ thị; phương pháp lượng hóa số liệu trên phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word để tính toán giá trị trung bình, tỷ lệ cơ cấu phần trăm và độ lệch chuẩn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại

Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về các hiện tượng tiêu cực trong lưu thông hàng hóa và xác lập khung quản lý nhà nước tương ứng. Tác giả phân tích cụ thể bản chất pháp lý của 3 hành vi vi phạm: buôn lậu (vận chuyển, buôn bán hàng cấm hoặc trốn thuế, né tránh kiểm tra hải quan qua biên giới), sản xuất buôn bán hàng giả (sai lệch bản chất, chất lượng dưới 70% công bố, giả mạo nhãn mác, vi phạm sở hữu trí tuệ), và gian lận thương mại (dối trá trong hợp đồng, giả mạo xuất xứ hàng hóa, trốn thuế). Tác giả nhận diện 4 đặc điểm chung của các hành vi này: tính lén lút trốn tránh cơ quan chức năng; tính thời vụ tăng mạnh vào dịp giáp Tết Nguyên đán do sức mua tăng cao; ứng dụng công nghệ làm giả bao bì, mã vạch ngày càng tinh vi; và sự tinh xảo trong việc mượn danh nhãn hiệu nổi tiếng để trục lợi bất chính.

Tiếp đó, chương luận giải 3 vai trò căn bản của quản lý nhà nước: bảo hộ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chân chính, bảo vệ quyền lợi và sức khỏe người tiêu dùng, và chống thất thu ngân sách quốc gia. Về nội dung quản lý, tác giả chuẩn hóa 4 trụ cột nghiệp vụ: ban hành văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng và thực thi các kế hoạch định kỳ hoặc chuyên đề; tổ chức bộ máy và điều phối cơ chế phối hợp liên ngành (Sở Công Thương, Quản lý thị trường, Công an, Hải quan, Thuế); thanh tra, kiểm soát, giải quyết khiếu nại và xử phạt hành chính hoặc chuyển hồ sơ khởi tố hình sự. Khung lý thuyết cũng định hình hệ thống chỉ tiêu đánh giá dựa trên tính hiệu lực và hiệu quả, 3 nguyên tắc quản trị (tập trung dân chủ, kết hợp ngành - lãnh thổ, kết hợp ngành - chức năng), cùng 3 công cụ điều hành chính (pháp luật, kế hoạch hóa, chính sách).

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Chương 2 cung cấp bức tranh toàn diện về tình hình vi phạm và hoạt động quản lý tại Lào Cai giai đoạn 2018 - tháng 8/2021. Do ảnh hưởng từ địa bàn biên giới phức tạp kết hợp sự bùng phát dịch Covid-19, phương thức hoạt động của các đối tượng thay đổi linh hoạt: từ việc chia nhỏ hàng cất giấu ven sông suối, lợi dụng chính sách miễn thuế cư dân biên giới đến vận chuyển hàng lậu tinh vi trên các tuyến cao tốc hoặc chuyển đổi sang mô hình kinh doanh trực tuyến. Đáng chú ý, từ cuối tháng 8/2021, phía Trung Quốc dựng hàng rào dây thép gai dọc tuyến biên giới, khiến các hoạt động buôn lậu truyền thống qua đường mòn giảm sút nhưng lại nảy sinh các hành vi vận chuyển thiết bị y tế phòng dịch không qua kiểm định.

Dữ liệu thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong giai đoạn nghiên cứu được tổng hợp qua bảng số liệu sau:

STT Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị tính Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 8 tháng đầu năm 2021
1 Tổng số vụ kiểm tra Vụ 2.877 1.427 1.333 801
2 Tổng số vụ xử lý Vụ 685 490 1.042 629
3 Tiền phạt vi phạm hành chính Tỷ đồng 1,334 1,301 204 5,28
4 Trị giá hàng vi phạm Tỷ đồng 4,420 3,965 7 4,3
5 Phạt bổ sung, truy thu thuế Tỷ đồng - - 77 8,50692
6 Tổng giá trị xử lý Tỷ đồng 5,754 5,266 288 19,1

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Sở Công Thương và Ban Chỉ đạo 389 tỉnh Lào Cai.

Nội dung chương trình bày hàng loạt vụ việc vi phạm quy mô lớn:

  • Vụ Công ty CP Diệp Bảo Anh (từ 12/2017 đến 10/2018): Lợi dụng 79 tờ khai xuất khẩu khai man là "xỉ bột luyện thép" để xuất lậu sang Trung Quốc 56.781,29 tấn tinh quặng sắt trái phép (thuộc diện không được xuất khẩu theo Thông tư 41/2012/TT-BCT và Thông tư 12/2016/TT-BCT), trị giá lô hàng vi phạm khoảng 66,6 tỷ đồng.
  • Vụ tổng kho hàng lậu online tại TP. Lào Cai (ngày 8/7/2020): Kho hàng có diện tích 10.000 m2 bọc tôn kín, ngụy trang biển quảng cáo nhôm kính để bán hàng qua mạng xã hội; lực lượng kiểm tra đã thu giữ 237 chủng loại với 158.300 sản phẩm không hóa đơn chứng từ và 6.688 mặt hàng giả mạo các thương hiệu quốc tế (Nike, Adidas, LV, Gucci, Chanel), phải dùng tới 34 container để niêm phong.
  • Xử lý vi phạm vật tư phòng dịch Covid-19 (9 tháng đầu năm 2020): Cục Quản lý thị trường xử lý 34 vụ việc, tạm giữ 6.000 găng tay y tế, 152.050 chiếc khẩu trang với tổng giá trị xử lý khoảng 270 triệu đồng.
  • Vụ 350 kg mực khô ăn liền nhập lậu (ngày 18/3/2021): Đội QLTT số 5 xử phạt vi phạm hành chính 70 triệu đồng.
  • Vụ kiểm tra xe 24H-004.86 trên cao tốc Nội Bài - Lào Cai (ngày 22/8/2021): Thu giữ 2.380 bộ van máy thở Regulator, 6.750 bộ kit test nhanh SARS-CoV-2, 5.200 tuýp mỡ Skin Doctor, 1.480 máy xay và hơn 1.000 sản phẩm viên giặt giả nhãn hiệu OMO chưa được cấp phép lưu hành.

Kết quả điều tra thực nghiệm 50 cửa hàng, doanh nghiệp trên địa bàn cho thấy nhận định về các bất cập:

Nhóm nội dung khảo sát (n=50) Rất không đồng ý Không đồng ý Bình thường / Trung bình Đồng ý Rất đồng ý
Đánh giá mức độ xử lý vi phạm hiện nay 20% 54% 12% 14% 0%
Mức độ phối hợp thường xuyên, hiệu quả liên ngành 0% 54% 32% 14% 0%

Qua đó, 100% doanh nghiệp và cửa hàng được khảo sát khẳng định mức xử phạt hiện nay chưa đủ tính răn đe. Tác giả tổng kết 7 mặt hạn chế chính: hệ thống pháp luật còn kẽ hở và mức phạt tiền thấp; nhân lực thực thi công vụ thiếu, cá biệt có cán bộ tiếp tay cho buôn lậu; quy trình hành chính chậm khiến đối tượng kịp tẩu tán tang vật; cơ chế phối hợp giữa các lực lượng còn lỏng lẻo; thông tin báo cáo giữa các ngành trong Ban Chỉ đạo 389 tỉnh còn chậm trễ; ý thức chấp hành của các hộ kinh doanh tự phát còn kém; và hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật chưa thường xuyên, sâu rộng.

Chương 3: Các đề xuất giải pháp và kiến nghị quản lý nhà nước đối với hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Dựa trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 41/NQ-CP về kết hợp hài hòa giữa "xây" và "chống", lấy phòng ngừa xã hội làm gốc, tác giả xây dựng 5 nhóm giải pháp quản trị trọng tâm:

  1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các nghị định xử phạt vi phạm hành chính theo hướng tăng mạnh khung tiền phạt, quy định khung chế tài lũy tiến đối với hành vi tái phạm nhiều lần nhằm triệt tiêu động cơ trục lợi kinh tế.
  2. Hoàn thiện tổ chức bộ máy và cải cách thủ tục hành chính: Rút gọn các quy trình xin phê duyệt văn bản đột xuất khi kiểm tra dấu hiệu vi phạm nhằm đảm bảo tính kịp thời, cơ động, ngăn chặn tình trạng tẩu tán tang vật; phân định ranh giới trách nhiệm cụ thể giữa các đơn vị quản lý theo địa bàn và chuyên ngành.
  3. Tăng cường nguồn nhân lực quản lý: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng định kỳ kiến thức kiểm tra thương mại điện tử, kỹ năng phát hiện giả mạo xuất xứ; luân chuyển cán bộ phụ trách địa bàn định kỳ; thiết lập cơ chế kiểm tra giám sát nội bộ để xử lý nghiêm minh các biểu hiện tiêu cực, bao che sai phạm.
  4. Đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị: Trang bị các thiết bị kiểm tra nhanh tại chỗ, máy phân tích chất lượng hàng hóa, nhận diện mã số mã vạch và chỉ dẫn địa lý; cấp bổ sung kinh phí lưu kho, bảo quản và quy trình tiêu hủy hàng hóa bảo đảm môi trường.
  5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận động quần chúng: Đa dạng hóa hình thức truyền thông đến các bản làng, vùng đồng bào thiểu số khu vực biên giới; vận động hộ kinh doanh ký cam kết không buôn bán hàng lậu; xây dựng thói quen tự bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Phần cuối chương đưa ra hệ thống kiến nghị đồng bộ tới Sở Công Thương và các ban ngành liên quan (Hải quan, Công an, Thuế, Quản lý thị trường), cộng đồng các cơ sở sản xuất kinh doanh tại địa phương và tầng lớp người tiêu dùng.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả thực chứng, khóa luận đã lượng hóa chi tiết toàn bộ số liệu đấu tranh kiểm soát thị trường tại tỉnh Lào Cai trong giai đoạn 2018 - tháng 8/2021:

  • Chứng minh rõ nét bước nhảy vọt trong công tác xử phạt năm 2020: Dù số vụ kiểm tra giảm (từ 2.877 vụ năm 2018 xuống 1.333 vụ năm 2020), song tổng số vụ xử lý đạt đỉnh với 1.042 vụ, tiền phạt vi phạm hành chính tăng lên gần 204 tỷ đồng (gấp hơn 4 lần cùng kỳ) và tổng giá trị xử lý đạt mức kỷ lục trên 288 tỷ đồng nhờ Cục Hải quan và Cục Thuế đẩy mạnh thanh tra sau thông quan và truy thu thuế.
  • Ghi nhận diễn biến 8 tháng đầu năm 2021: Kiểm tra bắt giữ 801 vụ, xử lý vi phạm hành chính 629 vụ, tổng giá trị xử lý đạt trên 19,1 tỷ đồng (trong đó tiền phạt VPHC hơn 5,28 tỷ đồng; phạt bổ sung và truy thu thuế đạt hơn 8,5 tỷ đồng).
  • Kết quả khảo sát mẫu 50 đơn vị kinh doanh cung cấp bằng chứng định lượng rõ rệt: 74% cơ sở kinh doanh đánh giá chế tài xử phạt hiện tại là không phù hợp hoặc rất không phù hợp; 54% nhận định cơ chế phối hợp liên ngành chưa đạt hiệu quả thường xuyên.

Về đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận đã khắc phục được sự đơn lẻ của các công trình nghiên cứu trước đây vốn chỉ xem xét một khía cạnh riêng biệt (như chống buôn lậu của Hải quan hay kiểm soát thị trường của một vài tỉnh nội địa như Hà Nam, Bắc Giang, Sơn La, Kiên Giang). Nghiên cứu của tác giả là công trình tổng hợp nghiên cứu cùng lúc cả 3 hành vi (buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại) đặt trong bối cảnh thực địa phức tạp tại địa bàn biên giới Lào Cai qua giai đoạn biến động đặc thù (trước và trong dịch Covid-19, gắn liền với việc Trung Quốc thiết lập hàng rào kỹ thuật dọc biên giới). Nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ thực tế cho các cơ quan hoạch định chính sách thương mại và chính quyền tỉnh Lào Cai trong việc điều chỉnh chế tài xử lý và quy chế phối hợp liên ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế nhất định do điều kiện nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát sơ cấp mới chỉ dừng lại ở quy mô mẫu 50 cơ sở (cửa hàng, doanh nghiệp), chưa mở rộng khảo sát điều tra trực tiếp các tầng lớp người tiêu dùng và cư dân biên giới sinh sống giáp các đường mòn, lối mở.
  • Chuỗi dữ liệu phân tích năm 2021 chưa bao quát được trọn vẹn cả năm tài chính mà mới chỉ cập nhật số liệu 8 tháng đầu năm.
  • Tác giả chưa đi sâu phân tích toàn diện tác động dài hạn của việc phía Trung Quốc hoàn thiện hàng rào dây thép gai biên giới và sự dịch chuyển phương thức gian lận thương mại sang các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới.

Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quy mô điều tra thực địa trên mẫu lớn hơn, đa dạng hóa các nhóm đối tượng khảo sát gồm doanh nghiệp vận tải, đơn vị chuyển phát nhanh và người tiêu dùng.
  • Nghiên cứu sâu cơ chế kiểm soát và phòng ngừa các hành vi gian lận thương mại trên không gian số, các sàn thương mại điện tử và mạng xã hội (Facebook, Zalo).
  • Đánh giá chuyển dịch phương thức kiểm soát biên giới trong giai đoạn bình thường mới sau đại dịch Covid-19 khi hàng rào biên giới được khép kín hoàn toàn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công, Luật kinh tế và Kinh doanh quốc tế tham khảo cấu trúc đề tài quản lý nhà nước theo ngành và lãnh thổ; quy trình thiết kế bảng hỏi và áp dụng thang đo khoảng cách Likert trong nghiên cứu thực trạng chính sách công.
  • Cán bộ làm công tác chuyên môn tại Sở Công Thương, Cục Quản lý thị trường, Cục Hải quan và cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 389 các tỉnh biên giới phía Bắc tham khảo để nhận diện thủ đoạn gian lận thương mại và những bất cập trong quy trình phối hợp liên ngành.
  • Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật nhất nằm ở chuỗi số liệu thống kê chi tiết các vụ án buôn lậu điển hình (vụ quặng sắt Diệp Bảo Anh, tổng kho lậu 10.000 m2) và hệ thống phân tích định lượng về sự bất cập của khung tiền phạt hiện hành.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao tổng giá trị xử lý vi phạm trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2020 lại tăng vọt lên mức hơn 288 tỷ đồng so với các năm trước?
Trả lời: Năm 2020, tổng giá trị xử lý tăng đột biến (đạt hơn 288 tỷ đồng so với 5,754 tỷ đồng năm 2018 và 5,266 tỷ đồng năm 2019) chủ yếu do lực lượng Cục Hải quan và Cục Thuế tỉnh Lào Cai đã tăng cường kiểm tra, truy thu thuế và xử phạt vi phạm hành chính với quy mô lớn, trong đó riêng số tiền phạt vi phạm hành chính là gần 204 tỷ đồng và xử phạt bổ sung, truy thu thuế lên tới hơn 77 tỷ đồng.

Câu hỏi 2: Vụ việc kho hàng lậu online tại TP. Lào Cai bị lực lượng chức năng phát hiện ngày 8/7/2020 có quy mô vi phạm như thế nào?
Trả lời: Kho hàng có diện tích khoảng 10.000 m2 được bao quanh bằng tôn và ngụy trang biển hiệu quảng cáo nhôm kính. Cơ quan Quản lý thị trường đã kiểm đếm và phát hiện 237 chủng loại hàng hóa với hơn 158.300 sản phẩm không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, cùng 6.688 sản phẩm có dấu hiệu giả mạo các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới như Nike, Adidas, Gucci, Chanel, LV; toàn bộ hàng hóa bị tạm giữ phải chất đầy vào 34 container để niêm phong.

Câu hỏi 3: Thủ đoạn gian lận của Công ty CP Diệp Bảo Anh trong vụ án buôn lậu quặng sắt qua cửa khẩu Lào Cai được thực hiện ra sao?
Trả lời: Từ tháng 12/2017 đến tháng 10/2018, công ty này mở 79 tờ khai xuất khẩu 56.781,29 tấn hàng sang Trung Quốc và cố ý khai báo sai tên hàng là "xỉ bột luyện thép" có thành phần Fe2O3, SiO2. Cơ quan chức năng xác định đây là tinh quặng sắt không thuộc danh mục được phép xuất khẩu theo Thông tư 41/2012/TT-BCT và Thông tư 12/2016/TT-BCT của Bộ Công Thương, được lập khống hồ sơ đầu vào với tổng trị giá vi phạm khoảng 66,6 tỷ đồng.

Câu hỏi 4: Kết quả khảo sát 50 cửa hàng và doanh nghiệp tại Lào Cai chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất trong cơ chế xử phạt hiện nay là gì?
Trả lời: 100% cơ sở kinh doanh tham gia khảo sát nhận định mức độ xử phạt hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước; trong đó 54% đánh giá không phù hợp và 20% đánh giá rất không phù hợp. Nguyên nhân do mức phạt tiền còn quá nhẹ so với siêu lợi nhuận thu được và chưa có quy định chế tài riêng nghiêm khắc đối với các đối tượng vi phạm nhiều lần, dẫn đến tình trạng tái phạm kéo dài.

Câu hỏi 5: Tình hình buôn lậu và gian lận thương mại tại tuyến biên giới Lào Cai có chuyển biến gì sau mốc tháng 8/2021?
Trả lời: Từ cuối tháng 8/2021, phía Trung Quốc đồng loạt dựng hàng rào dây thép gai dọc tuyến biên giới, khiến tình trạng vận chuyển hàng lậu tiểu ngạch qua đường mòn, lối mở giảm hẳn so với trước. Tuy nhiên, các đối tượng chuyển hướng lợi dụng các quy định phòng chống dịch Covid-19 và tuyến cao tốc để vận chuyển trái phép các mặt hàng thiết bị y tế chưa được cấp phép (như vụ bắt giữ xe ô tô 24H-004.86 chở hàng nghìn bộ kit test SARS-CoV-2 và van máy thở vào ngày 22/8/2021).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Ngô Thu Trang đã hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết quản lý nhà nước trong kiểm soát thị trường thương mại và phản ánh chính xác bức tranh thực tiễn chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại tại địa bàn biên giới Lào Cai giai đoạn 2018 - 8 tháng đầu năm 2021. Bằng việc kết hợp hài hòa số liệu thống kê hành chính liên ngành với khảo sát thực chứng từ 50 cơ sở kinh doanh, tác giả đã bóc tách được các bất cập cốt lõi về kẽ hở văn bản pháp lý, sự lỏng lẻo trong phối hợp liên ngành và thủ tục hành chính kiểm tra. Hệ thống 5 nhóm giải pháp quản lý kinh tế được đề xuất mang tính đồng bộ và bám sát định hướng chỉ đạo của Chính phủ, là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho công tác quản lý thương mại vùng biên.