PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới ở vùng Đông Bắc với diện tích tự nhiên trên 6.700 km2, dân số trên 533,5 ngàn ngƣời, thuộc 8 dân tộc. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc với đƣờng biên dài trên 333km; phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn; phía Tây giáp tỉnh Hà Giang. Tỉnh có 13 đơn vị hành chính cấp huyện (01 thành phố và 12 huyện); với 199 xã, phƣờng, thị trấn.
Hệ thống cơ sở hạ tầng của Cao Bằng đang đƣợc tập trung đầu tƣ xây dựng. Cao Bằng có một số lợi thế tự nhiên cho phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên chƣa đƣợc khai thác tƣơng xứng với tiềm năng. Lợi thế nổi bật của tỉnh là kinh tế cửa khẩu, du lịch, nông nghiệp sạch, có tài nguyên khoáng sản và tiềm năng khai thác thuỷ điện, tài nguyên rừng. Cao Bằng đã và đang chuẩn bị các điều kiện phấn đấu trở thành trung tâm kết nối nội vùng, cùng với các địa phƣơng trong cả nƣớc, hình thành phát triển và kết nối hợp tác xuyên biên giới với các cụm phát triển năng động của Tây và Tây Nam Trung Quốc.
Tinh thần của Nghị quyết 25 - NQ/HĐND ngày 12/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh Cao Bằng về kế hoạch phát triển kinh tế - Xã Hội năm 2019. Nội dung trong nghị quyết đã nhấn mạnh khuyến khích phát triển các loại hình thƣơng mại; Triển khai quy hoạch phát triển ngành thƣơng mại, thƣơng mại biên giới để kêu gọi thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tƣ. Quan tâm công tác điều tra, dự báo xu hƣớng thị trƣờng trong và ngoài tỉnh theo hƣớng đáp ứng tốt hơn nhu cầu kinh doanh và tăng cƣờng nâng cao vai trò của nhà quản lý trong lĩnh vực hoạt động thƣơng mại. trải qua 33 năm hình thành và phát triển, ngày nay, Cao Bằng đã và đang bƣớc vào giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Cao Bằng đã phát huy tinh thần tự chủ, tự lực, tự cƣờng, đổi mới tƣ duy và phong cách làm việc, kiện toàn cơ cấu tổ chức cán bộ, xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp, chuyển hoạt động kinh tế sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đạt thành tích cao, tạo tiền đề cho những năm tiếp theo. 2 Là tỉnh miền núi biên giới vùng Đông Bắc, có nhiều tiềm năng cho phát triển kinh tế và hợp tác đầu tƣ, đặc biệt cho phát ngành thƣơng mại dịch vụ và du lịch; Sau hơn 30 năm đổi mới (giai đoạn 1986-2019), nắm bắt thời cơ của thời kỳ hội nhập, kinh tế tỉnh hiện tăng trƣởng ở mức khá cao, cơ cấu chuyển dịch đúng hƣớng, kết cấu hạ tầng đô thị, trật tự, kỷ cƣơng văn minh đô thị chuyển biến rõ nét, văn hóa xã hội phát triển, quốc phòng, an ninh đƣợc chủ động kiểm soát và giữ vững. Tốc độ tăng trƣởng kinh tế (GRDP) đạt bình quân 7% /năm; thu nhập bình quân đầu ngƣời đạt 1. Tỷ trọng ngành thƣơng mại dịch vụ tăng từ 52,33% lên 53,3% so với năm 2010.
Với những kết quả đạt đƣợc trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, hoạt động thƣơng mại Cao Bằng đã có nhiều chuyển biến tích cực, phát huy tốt chức năng cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, hệ thống phân phối bắt đầu đƣợc hình thành các luồng hàng hóa khá dồi dào, phong phú. Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 5 năm qua bình quân đạt 127,8% kế hoạch giao (năm 2005: 321 tỷ đồng, năm 2015: 5.638 tỷ đồng, tăng xấp xỉ 18 lần); Qua những con số trên để nói tỉnh Cao Bằng có thế lực để phát triển các lĩnh vực trong đó ngành thƣơng mại dịch vụ đóng góp khá cao trong tổng các lĩnh vực phát triển kinh tế tại địa phƣơng; Thƣơng mại của Tỉnh Cao Bằng đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể, đóng góp không nhỏ vào tăng trƣởng kinh tế Cao Bằng. Với 60% cơ cấu kinh tế là ngành thƣơng mại dịch vụ, nguồn thu ngân sách từ các hoạt động thƣơng mại năm 2015 ƣớc đạt hơn 300 tỷ đồng. Thƣơng mại phát triển cả về lƣợng và chất nhƣ phƣơng thức kinh doanh thƣơng mại hiện đại; số lƣợng thƣơng nhân phát triển mạnh, năng lực quản lý ngày càng đƣợc nâng cao; thị trƣờng xuất khẩu hàng hoá ngày càng mở rộng, hàng hóa nhập khẩu phong phú về chủng loại, chất lƣợng đảm bảo; các trung tâm thƣơng mại, siêu thị đƣợc xây dựng dần thay thế cho hình thức chợ buôn bán truyền thống.
Doanh nghiệp thƣơng mại phát triển mạnh, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ liên quan đến các lĩnh vực thời trang, máy tính, điện thoại, điện máy và các ngành dịch vụ khác. Cùng với quá trình phát triển thƣơng mại của tỉnh, vai trò quản lý nhà nƣớc của các tổ chức đơn vị chức năng liên quan ngày càng đƣợc nâng cao, hoàn thiện. 3 Căn cứ vào định hƣớng chỉ đạo chung của tỉnh, chính quyền tỉnh Cao bằng đã nâng cao vai trò hoạt động của sở Công Thƣơng. Tăng cƣờng hiệu lực quản lý thống nhất giữa các ngành, coi trọng việc thống nhất hóa quy hoạch ngành thƣơng mại với quy hoạch xây dựng của Cao Bằng trên cơ sở chuẩn hóa, tổ chức hóa mạng lƣới thƣơng mại, ban hành các kế hoạch tổ chức thực hiện để nhằm hỗ trợ khuyến khích các loại hình thƣơng mại văn minh, hiện đại phát triển; hỗ trợ cho doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu có lợi thế, khuyến khích nhập khẩu công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ có hàm lƣợng chất xám cao; khuyến khích các thƣơng nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động thƣơng mại, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ và ƣu đãi về vốn, mặt bằng để kinh doanh, buôn bán; ngoài ra thông tin đa chiều, minh bạch về các hoạt động xúc tiến thƣơng mại, hỗ trợ đào tạo để xây dựng đội ngũ thƣơng nhân ngày càng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn hoạt động kinh doanh thƣơng mại cũng đƣợc tỉnh chú trọng chỉ đạo thực hiện; hạ tầng cơ sở về thƣơng mại nhƣ trung tâm thƣơng mại, siêu thị hiện đại, quy hoạch các tuyến phố thƣơng mại đang đƣợc gấp rút đầu tƣ xây dựng.
Tuy nhiên, sự phát triển của thƣơng mại tại tỉnh Cao Bằng thời gian qua vẫn còn nhiều tồn tại. Công tác QLNN về phát triển thƣơng mại giữa các ngành, lĩnh vực chƣa đồng bộ. Chất lƣợng tăng trƣởng thƣơng mại chƣa đƣợc coi trọng, thiên về số lƣợng mà chƣa quan tâm đến chất lƣợng. Việc kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong hoạt động thƣơng mại của các cơ quan chức năng chƣa đƣợc thƣờng xuyên, kịp thời vẫn còn tình trạng buôn bán hàng lậu, hàng giả, trốn thuế gây thất thu cho ngân sách, hàng hóa kém chất lƣợng, nhãn mác hàng hóa không phù hợp với công bố sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm còn chƣa tốt ảnh hƣởng đến sức khỏe của ngƣời tiêu dùng.
Quá trình quản lý, kiểm tra, giám sát, đôn đốc nhắc nhở chính quyền cơ sở và các tổ chức, cá nhân còn yếu kém là một phần không nhỏ làm hạn chế sự phát triển của thƣơng mại. Bản thân công tác quản lý các hoạt động thƣơng mại của các cấp chính quyền còn có nhiều điểm chƣa phù hợp với thực tiễn, chậm thay đổi cũng là một nguyên nhân gây khó khăn thậm chí là các rào cản đối với các hoạt động thƣơng mại diễn ra ngày càng sôi động, đa dạng, phong phú. 4 Trƣớc những yêu cầu phát triển mới đó, chúng ta cần phải có phƣơng hƣớng và giải pháp đồng bộ, hiệu quả nhằm hoàn thiện các nội dung về QLNN đối với hoạt động thƣơng mại trên địa bàn trong đó nội dung tăng cƣờng công tác kiểm tra cần phải đặc biệt quan tâm, chú trọng. Việc tăng cƣờng công tác quản lý nhằm đảm bảo các hoạt động thƣơng mại diễn ra một cách bình thƣờng, thông suốt, thuận lợi, đảm bảo môi trƣờng kinh doanh tốt cho các doanh nghiệp thƣơng mại.
Đây cũng là cơ sở để đánh giá hiệu quả công tác quản lý nhà nƣớc đối với thƣơng mại nhằm kịp thời điều chỉnh các chính sách, kế hoạch đã đề ra. Có thể nói, việc nghiên cứu và phát triển cơ sở lý luận về tăng cƣờng quản lý các hoạt động thƣơng mại của các cấp chính quyền là cần thiết, đồng thời đƣa ra những giải pháp có tính khoa học và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về thƣơng mại trên địa bàn tỉnh là vấn đề vừa có ý nghĩa cấp thiết vừa có tầm quan trọng chiến lƣợc lâu dài. Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Tăng cường quản lý của Sở Công thương tỉnh Cao Bằng đối với hoạt động thương mại” để làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế và Quản lý thƣơng mại. Tác giả hy vọng với công trình khoa học nhỏ này phần nào đóng góp vào việc tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động thƣơng mại trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 2.
Tình hình nghiên cứu các đề tài có liên quan Hiện nay, đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề quản lý về lĩnh vực thƣơng mại, phát triển thƣơng mại.nhƣng thƣờng là những vấn đề lý luận chung bao gồm nhiều mặt của quản lý nhà nƣớc hoặc những khía cạnh về quan hệ thƣơng mại trong từng ngành sản xuất; đổi mới hình thức quản lý trong thƣơng mại tầm vĩ mô, chiến lƣợc; hoặc là nghiên cứu về các giải pháp về hoạt động thƣơng mại. Một số công trình tác giả đã nghiên cứu: - Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện nội dung quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại hàng hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020” của tác giả Nguyễn Mạnh Hoàng, trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2008. Luận án tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của thƣơng mại hàng hóa của Thủ đô, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại hàng hóa. Đề tài đã đƣa ra kiến nghị 5 về cách thức tổ chức, mối quan hệ và quy trình giải quyết của các cơ quan chức năng trực thuộc UBND Thành phố, kiến nghị một số vấn đề đối với Trung ƣơng trong quản lý các hoạt động thƣơng mại.
Tuy nhiên, sau năm 2008, cơ cấu kinh tế đã có nhiều thay đổi, ngành nông nghiệp có tỷ trọng cao hơn trƣớc đây, mặt khác hội nhập kinh tế quốc tế trở nên “phẳng” hơn, cần phải hoàn thiện lại QLNN đối với hoạt động thƣơng mại.