Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý kinh tế vùng biên giới của chính quyền cấp tỉnh Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thực trạng quản lý kinh tế vùng biên giới tỉnh Cao Bằng Chương 5: Quan điểm, định hướng và giải pháp tăng cường quản lý kinh tế vùng biên giới tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2023-2025, tầm nhìn đến 2030 6 CHƯ NG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong nhiều thập kỷ, các nhà hoạch định, các nhà nghiên cứu chính sách của các quốc gia trên thế giới đã đưa ra những chính sách, những nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề phát triển KT-XH liên quan đến nền kinh tế trong nước, hoặc mối quan hệ kinh tế giữa các nước với nhau. Còn vấn đề phát triển kinh tế KVBG mỗi quốc gia ít được chú ý hơn. Tuy nhiên, từ những năm 60 của thế kỷ 20, đã bắt đầu có các nghiên cứu của các nhà kinh tế, hoạch định chính sách trên thế giới về vấn đề này.
Các nghiên cứu liên quan đến phát triển các quan điểm về biên giới và chính sách quản lý KVBG của các quốc gia Hansen (1977) đã đưa ra những đánh giá tóm tắt về bản chất, ý nghĩa của lý thuyết vị trí và cực tăng trưởng, chính sách liên quan đến phát triển KT-XH KVBG. Khu vực biên giới giữa ba quốc gia Alsace-Baden-Basel được tác giả phân tích một số chi tiết để làm rõ sự cần thiết và phù hợp của 2 lý thuyết phát triển trên cho việc xây dựng chính sách phát triển KVBG. Vì vậy, theo tác giả, đây là căn cứ xây dựng cơ sở lý thuyết thỏa đáng cho việc xây dựng chính sách, phát triển KVBG các quốc gia thông qua nghiên cứu một số quốc gia Châu Âu. Bài viết cũng đưa ra những nhân tố tác động đến vấn đề phân tích đặc điểm KVBG, với việc nhấn mạnh lợi thế khu vực cũng như những khó khăn của chúng.
Hansen (1983), tiếp tục sử dụng lý thuyết cực tăng trưởng để nghiên cứu mô hình phát triển KVBG Mexico và Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, KVBG là một rào cản đối với các tác động lan tỏa từ trung tâm đến các khu vực lân cận và vùng nội địa, do đó, trung tâm không thể tận dụng được những lợi ích thu được từ lợi thế quy mô và các yếu tố tích tụ. Việc mở cửa biên giới sẽ loại bỏ những trở ngại này và với việc khởi động lại các quá trình khuếch tán, các trung tâm củng cố vị trí của chúng và bắt đầu phát triển. Tuy nhiên, việc nghiên cứu một khu vực điển hình cũng khiến cho phạm vi ứng dụng của nghiên cứu có tính hạn chế, khi xem x t việc ứng dụng lý thuyết này cho các địa phương khác cần xem x t nhiều hơn đến sự tương đồng với khu vực nghiên cứu này.
7 Nhóm tác giả Gibson, Lay James và Alfonso Corona Renteria (1985) tập hợp các nghiên cứu về mối quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và Mexico với mục đích phát triển KVBG nói riêng, kinh tế quốc gia nói chung của hai nước. Từ những đánh giá về đặc điểm vị trí KVBG, sự dịch chuyển của luồng hàng hóa, dịch vụ, vốn; tác giả đã đưa ra những nhận định về sự tác động của những vấn đề về văn hóa, kinh tế, nhân khẩu học của KVBG giữa hai quốc gia tới sự phát triển công nghiệp KVBG, cũng như những vấn đề tác động tới nền kinh tế quốc gia, mối quan hệ hợp tác kinh tế KVBG nói riêng, hợp tác kinh tế giữa Hoa Kỳ và Mexico nói chung. Tuy nhiên, như chính nhóm tác giả đề cập, cuốn sách được viết theo cách chọn lọc các bài viết theo các chủ đề nóng liên quan đến vấn đề biên giới Hoa Kỳ và Mexico giai đoạn thập niên 70 và đầu 80. Vì vậy một số nhận định có thể không còn phù hợp với giai đoạn hiện tại.
Annekatrin Niebuhr Silvia Stiller (2002), đưa ra nội dung một cuộc khảo sát thực tế nhằm tìm hiểu, so sánh giữa lý thuyết kinh tế và nghiên cứu thực nghiệm đối với vấn đề KVBG và hiệu quả hội nhập của khu vực này trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu như lý thuyết kinh tế chỉ cho ph p đưa ra những nhận định chung về những lợi ích hay khó khăn mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, thì nghiên cứu thực nghiệm trên khu vực cửa khẩu, biên giới cụ thể sẽ mang lại những kết luận khác nhau liên quan đến các vấn đề KT-XH và văn hóa tại vùng biên giới. Tóm lại, cuộc khảo sát cho thấy vấn đề phân tích lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm một cách nghiêm túc sẽ đưa ra đánh giá chính xác về tác động của hội nhập kinh tế đối với khu KTCK nói riêng và kinh tế biên giới nói chung. Bilchak (2014), phân tích các khía cạnh lý thuyết của nền kinh tế biên giới trong điều kiện của các quá trình hội nhập hiện đại, trong đó nhấn mạnh vai trò điều tiết của quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế.
Tác giả diễn giải hội nhập xuyên biên giới là sự kết hợp của các yếu tố kinh tế, chính trị và pháp lý được phát triển dần dần từ dưới lên. Sự kết hợp này đòi hỏi các giai đoạn thành công trong việc thành lập khu vực thương mại tự do, liên minh hải quan, thị trường chung, liên minh kinh tế và hội nhập kinh tế đầy đủ. Quá trình chuyển đổi xảy ra từ giai đoạn thấp nhất sang giai đoạn cao nhất - từ các quá trình hội nhập liên quan trước hết tới thị trường thương 8 mại và sau đó là thị trường vốn và lao động sang hội nhập của lĩnh vực xã hội. Những phân tích về mặt lý luận này là cơ sở để xem x t việc lựa chọn mô hình phát triển KTVBG mỗi quốc gia với sự quản lý của nhà nước một cách hợp lý.
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý KTVBG, còn cần làm rõ thêm các yếu tố ảnh hưởng cũng như nội dung quản lý. Các nghiên cứu về mô hình phát triển KVBG Có nhiều cơ chế đa dạng để phát triển KVBG và hợp tác xuyên biên giới, có thể kể đến một số nghiên cứu sau: Abonyi và cộng sự (2014) xác định ba dạng khác nhau của KTVBG dựa trên khả năng khai thác lợi thế của địa phương và khu vực xuyên biên giới: i) Khu giao lưu kinh tế biên giới trong phạm vi hẹp nó bao gồm các hoạt động trao đổi hàng hoá, trao đổi thương mại giữa các cư dân hay các đơn vị sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ trên địa bàn các địa phương biên giới, thường là nơi có các cửa khẩu biên giới; ii) Đặc khu KTVBG là một khu vực không gian kinh tế gắn với vùng biên giới, mà ở đó thiết lập một chế độ ưu tiên riêng, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập; iii) Khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới là khu vực được chỉ định tại biên giới giữa các quốc gia, nơi chính phủ các quốc gia thông qua các chính sách đặc biệt để thu hút con người, hàng hoá, vốn, công nghệ, thông tin và các yếu tố khác của sản xuất thúc đẩy sự phát triển của khu vực, đồng thời sẽ kích thích sự phát triển của các khu vực xung quanh. Massoni Hubert và Masato Abe (2019), đánh giá sự phát triển của các “thành phố sinh đôi” xuyên biên giới nói chung cho thấy lợi ích KT-XH cho các KVBG, cho thấy tiềm năng mạnh mẽ để phát triển bền vững và toàn diện. Các “thành phố sinh đôi” xuyên biên giới được định nghĩa là hai trung tâm đô thị: (i) nằm sát biên giới quốc tế; (ii) có thể giao thương qua lại thông qua mạng lưới giao thông, thông tin và tiện nghi đô thị; (iii) được xây dựng dựa trên sự cấu trúc của các nền kinh tế biên giới, nền kinh tế của quy mô và sự tích hợp chung vào các chuỗi giá trị xuyên biên giới; (iv) tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ thông qua các chính sách chính định hình các ngành công nghiệp và thúc đẩy thương mại và đầu tư; và (v) hợp tác ở nhiều cấp độ trong các chính sách và dự án.
Để các thành phố 9 sinh đôi xuyên biên giới hình thành và phát triển, điều cần thiết là phải thực hiện các chính sách phù hợp. Nghiên cứu này nhấn mạnh bảy lĩnh vực chính sách để thúc đẩy phát triển KT-XH giữa hai thành phố xuyên biên giới quốc tế: (i) dữ liệu và CNTT, (ii) phát triển đô thị, (iii) phát triển công nghiệp, (iv) di chuyển lao động, (v) kiểm soát biên giới, (v) chính sách xã hội và (vi) hợp tác hành chính. Các nghiên cứu về nội dung quản lý KTVBG Ruth A. Duggan (2008) trong nghiên cứu về mô hình hệ thống quản lý KTVBG đã chỉ ra rằng để quản lý hiệu quả an ninh hoặc kiểm soát biên giới của mình, một đất nước phải hiểu các hoạt động quản lý biên giới của nó như là một hệ thống.
Duggan đã phát triển một cách tiếp cận như vậy để phân tích các hệ thống và xây dựng mô hình quản lý biên giới. Mô hình tham khảo bao gồm ba điểm cơ bản mô tả hệ thống quản lý biên giới, mỗi quan điểm đã liên kết các khía cạnh và các yếu tố thành phần. Một hệ thống quản lý KVBG được hình thành dựa trên 03 mức độ: (1) Mức độ liên kết giữa các quốc gia; (2) Cấp độ quốc gia; (3) Cấp độ địa phương. Việc phân cấp và nắm rõ nội dung quản lý KTVBG ở từng cấp độ chính là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý KTVBG của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, giới hạn ứng dụng của nghiên cứu này là chủ yếu dừng lại phân tích ảnh hưởng của hoạt động quản lý hướng tới đảm bảo an ninh và kiểm soát KVBG, những vấn đề về nội dung quản lý KVBG liên quan đến phát triển kinh tế chỉ được đề cập sơ lược như một nội dung quản lý chức năng.