LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thế tất yếu khách quan, tác động mạnh mẽ đến hầu hết các quốc gia trên thế giới. Biểu hiện qua việc tiến hành tự do hóa thƣơng mại, cải cách toàn diện theo hƣớng mở cửa thị trƣờng, quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đƣợc xem là một động lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội đất nƣớc. Trong bối cảnh đó, hoạt động xuất nhập khẩu lại càng giữ vai trò quan trọng và chính vì vậy, đây luôn là một đề tài nghiên cứu rất đƣợc quan tâm.
Không thể phủ nhận những lợi ích mà việc phát triển giao thƣơng ngoài lãnh thổ mang lại, các quốc gia ngày càng ký nhiều cam kết, hiệp định thƣơng mại và tham gia vào tổ chức kinh tế… nhằm củng cố và phát triển quan hệ kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh việc nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp giữa các quốc gia thì hoạt động thƣơng mại quốc tế cũng tiềm ẩn những mối nguy hại vô hình, tạo điều kiện cho tội phạm kinh tế có thể thực hiện hàng loạt tiểu xảo, mánh khóe và hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, có thể nói, GLTM quốc tế là vấn nạn chung của toàn thế giới. Bằng phƣơng thức điển hình là gian lận thông qua hóa đơn xuất nhập khẩu, các tội phạm đã thu đƣợc những nguồn lợi bất chính khổng lồ.
Gian lận hóa đơn là việc cố tình khai báo sai giá trị, số lƣợng hoặc bản chất của một giao dịch thƣơng mại trên hóa đơn nộp cho các cơ quan hải quan thông qua việc khai thừa hoặc thiếu giá trị xuất nhập khẩu. Cụ thể, thông thƣờng hóa đơn nhập khẩu đƣợc khai thừa giá trị với mục đích chuyển vốn ra ngoài hoặc tăng giả tạo chi phí đầu vào nhằm giảm thiểu thu nhập chịu thuế còn khai thiếu giá trị nhằm trốn thuế nhập khẩu; trƣờng hợp khai thừa giá trị xuất khẩu thƣờng để tăng mức trợ cấp xuất khẩu đƣợc hƣởng hoặc chuyển vốn bất hợp pháp đƣợc cất giấu từ nƣớc ngoài vào Việt Nam và khai thiếu giá trị hóa đơn nhằm trốn thuế hoặc né tránh các biện pháp phòng vệ thƣơng mại hay rào cản kỹ thuật. Sự bất bình ổn giá, khan hiếm hàng hóa, triệt tiêu động lực sản xuất trong nƣớc, thất thoát nguồn thu ngân sách Nhà nƣớc hay gián tiếp tạo bàn đỡ cho vô vàn tội phạm khác đƣợc thực hiện chính là những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế quốc gia mà GLTM trong hoạt động xuất nhập khẩu gây ra. Nói đến những động cơ thúc đẩy hiện tƣợng này, chúng ta không thể không kể đến: mong muốn thu đƣợc nguồn lợi bất chính, lợi nhuận siêu khủng từ việc kinh doanh không lành mạnh, trốn thuế, rửa tiền, chuyển vốn, né tránh các biện pháp phòng vệ thƣơng mại….
5 Thông qua việc lập sai hóa đơn thƣơng mại, các tội phạm kinh tế không chỉ cố gắng phá vỡ các hàng rào kiểm soát vốn mà một số quốc gia đang phát triển đã tạo ra để hạn chế về số vốn mà một cá nhân hay doanh nghiệp có thể mang vào hay chuyển ra khỏi nền kinh tế của họ mà còn nhằm mục đích rửa tiền. Nói cách khác, rửa tiền và chuyển vốn phi pháp xuyên biên giới là một trong những động lực chính để các đối tƣợng thực hiện hành vi gian lận hóa đơn xuất nhập khẩu. Mối quan hệ giữa GLTM thông qua hóa đơn và rửa tiền vì thế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có tác động không chỉ đến lĩnh vực kinh tế mà còn liên quan đến an ninh chính trị của một quốc gia. Rửa tiền – hoạt động thƣờng đƣợc chú ý ở các quốc gia có tính liêm chính không cao, mức độ gian lận mạnh mẽ và có nhiều biến động chính trị cũng nhƣ bất ổn trên nhiều lĩnh vực đã và đang xảy ra âm thầm nhƣng đƣợc trá hình dƣới các loại hình thức khác là rất nguy hiểm.
Nói về Việt Nam, theo xếp hạng của Uỷ ban Basel năm 2020 thì nƣớc ta đứng thứ 12/125 quốc gia về nguy cơ rửa tiền và tài trợ khủng bố, thứ hạng này vào năm 2019 là 8 (1). Điều này có thể xuất phát từ nguyên nhân Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở cửa cao nhất thế giới với con số đạt khoảng 200% GDP vào năm 2020. Mặt khác, gian lận hóa đơn xuất nhập khẩu là một phƣơng thức rất phổ biến mà các tội phạm kinh tế sử dụng nhằm rửa tiền, chuyển vốn giữa các quốc gia. Hành vi điều chuyển tài chính không hợp pháp này là vấn đề cấp bách mà Chính phủ cần lƣu tâm, nhất là tìm ra quốc gia mình có tồn tại hiện tƣợng này hay không, bằng cách nào và với mức độ ra sao để có thể đƣa ra những biện pháp phòng, tránh hay khắc phục phù hợp, hiệu quả nhất trong thời gian tới.
Nhận thấy đƣợc vấn đề rất cấp thiết này ở Việt Nam, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng và xác định các nhân tố chính ảnh hƣởng tới GLTM quốc tế. Trong đó, chúng tôi tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa Gian lận hóa đơn thƣơng mại và rửa tiền với mong muốn có thể xác định nguy cơ và rủi ro đẩy Việt Nam trở thành địa điểm thuận lợi cho hoạt động rửa tiền và GLTM, từ đó xây dựng những phƣơng pháp, kiến nghị và đề xuất để hạn chế vấn đề này. Vì vậy, việc nghiên cứu và triển khai áp dụng đề tài “Các nhân tố tác động đến gian lận thương mại quốc tế ở Việt Nam” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu, tác giả tiến hành đo lƣờng gian lận hoá đơn thông qua sử dụng phƣơng pháp đƣợc đề xuất bởi Kwaramba và cộng sự (2016) và dữ liệu thƣơng mại HS2 của Việt Nam với các nƣớc bạn hàng từ 2000-2019.
Tiếp đó, tác 6 giả sử dụng mô hình hồi quy bình phƣơng nhỏ nhất (OLS) và hiệu ứng cố định (Fixed effect model) để đánh giá tác động của các nhân tố tới gian lận hoá đơn của Việt Nam. Tổng quan tình hình nghiên cứu Bài viết này dựa trên ba nhánh nghiên cứu: Thứ nhất là các nghiên cứu về gian lận hóa đơn và phương pháp đo lường gian lận hoá đơn. GLTM có thể đƣợc thực hiện bằng cả bốn biện pháp là khai thừa hoặc thiếu giá trị hóa đơn hàng nhập khẩu và xuất khẩu. Tuy nhiên, trên thực tế, việc gian lận này lại xảy ra chủ yếu trong trƣờng hợp khai thừa giá trị hàng nhập khẩu với mục đích chuyển vốn và khai thiếu giá trị hàng xuất khẩu để trốn thuế.
Nhằm phát hiện và phân tích nguyên nhân của sự chuyển vốn từ các nƣớc Châu Phi cận Sahara, Ndikumana và Boyce (2003) đã tiến hành một nghiên cứu với dữ liệu của 40 quốc gia Châu Phi từ năm 1970 đến năm 2004 thông qua đo lƣờng các yếu tố nhƣ lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, các chỉ số chính sách tài khóa… Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 420 triệu đô vốn đƣợc dịch chuyển thông qua khai báo sai hóa đơn nhập khẩu. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra rằng tốc độ tăng trƣởng giữa các quốc gia Châu Phi và các đối tác thƣơng mại OECD có liên quan tiêu cực tới việc chuyển vốn ra nƣớc ngoài (2). Cũng theo hƣớng nghiên cứu này, hai tác giả Buehn và Eichler (2011) đã phân tích các yếu tố tác động tới việc gian lận hóa đơn thƣơng mại bằng cách sử dụng bộ dữ liệu mảng của 86 quốc gia từ năm 1980 đến năm 2005. Bài nghiên cứu của họ đã chỉ ra rằng, phí bảo hiểm chợ đen là nhân tố tác động lớn nhất đến mức độ lập sai hóa đơn xuất nhập khẩu để từ đó làm tăng vấn nạn rửa tiền; đồng thời, trốn thuế là động cơ chính của việc gian lận hóa đơn thƣơng mại (3).
Nhóm tác giả Kwaramba và cộng sự (2016) đã sử dụng phƣơng pháp luận Morgenstern (1963) và cơ sở dữ liệu thƣơng mại từ năm 1980 đến năm 2014 để phân tích, ƣớc tính mức độ gian lận hóa đơn trong lĩnh vực xuất khẩu kim cƣơng, vàng và niken ở Zimbabwe với các đối tác lớn nhƣ Ý, Hoa Kỳ, Đức, Trung Quốc. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra tác động của các chính sách khai thác và cấu trúc quyền sở hữu tài nguyên khoáng sản đến việc tháo chạy vốn trong điều kiện môi trƣờng thể chế và kinh tế vĩ mô của Zimbabwe. (4) Trong nghiên cứu về chuyển vốn thông qua gian lận hóa đơn ở Châu Phi, deBoyrie và cộng sự (2007) đã sử dụng Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa 7 với hơn 15.000 danh mục hàng hóa nhập khẩu và hơn 8.000 danh mục hàng hóa xuất khẩu. Bằng cách sử dụng độ lệch so với giá trung bình trong các loại hàng hóa này, các tác giả đã xác định đƣợc giá bất thƣờng và đƣa ra ƣớc tính về lƣợng vốn chuyển từ 58 quốc gia ở Châu Phi sang Hoa Kỳ.
Kết quả của nghiên cứu này cho biết từ năm 2000 đến 2005, dòng vốn chảy ra từ tất cả 58 quốc gia ở Châu Phi đến Hoa Kỳ đã tăng hơn 50%, cả thông qua xuất khẩu giá thấp và nhập khẩu giá cao. (5) Nhằm đƣa ra các minh chứng về việc khai báo sai giá trị hóa đơn xuất nhập khẩu ở Ấn Độ trong giai đoạn từ năm 2007-2017, tác giả Aastha Jain (2020) đã sử dụng cơ sở dữ liệu từ UN COMTRADE với HS 2007 trong phạm vi nghiên cứu 20 loại hàng hóa chủ yếu thƣờng xuyên xuất nhập khẩu với các đối tác chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ba nhóm sản phẩm dẫn đầu về gian lận hóa đơn xuất khẩu là dầu, đá quý và đồ trang sức, hàng hóa thiết yếu với đối tác chính nhƣ Các Tiểu vƣơng quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Ả Rập Xê Út, Nam Phi, Hoa Kỳ, Hồng Kong và Trung Quốc. Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra nhiên liệu khoáng sản, đá quý và đồ trang sức là hai nhóm hàng chủ yếu bị khai báo sai giá trị hóa đơn nhập khẩu.
Một điểm đáng lƣu ý khác là trong suốt giai đoạn đƣợc nghiên cứu, UAE liên tục là quốc gia đối tác có giá trị gian lận hóa đơn lớn nhất ở cả xuất khẩu và nhập khẩu với Ấn Độ (6). Nghiên cứu của chúng tôi cũng sử dụng dữ liệu điều tra của UN ComTrade về giá trị giao dịch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và tất cả các nƣớc bạn hàng từ năm 2000 đến năm 2019 nhƣng chi tiết hơn với HS2 nên phản ánh chính xác hơn thực trạng GLTM.