Giải Pháp Phòng Chống Gian Lận Thương Mại Trong Lĩnh Vực Hải Quan Việt Nam

Bài viết phân tích biện pháp phòng chống gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2023

132
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI, PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN

1.1. Tổng quan về GLTM trong lĩnh vực Hải quan

1.1.1. Khái niệm về gian lận thương mại và gian lận thuơng mại trong lĩnh vực hải quan

1.1.2. GLTM trong lĩnh vực Hải quan

1.2. Phân loại GLTM trong lĩnh vực Hải quan trên thế giới

1.3. Nguyên nhân, hậu quả của GLTM

1.3.1. Nguyên nhân

1.3.2. Hậu quả và tác hại của GLTM

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG GLTM TẠI TỔNG CỤC HẢI QUAN VIỆT NAM

2.1. Giới thiệu về Tổng cục Hải quan

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Tổng cục Hải quan

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục Hải quan

2.2. Tình hình GLTM trong lĩnh vực Hải quan ở Việt Nam trong thời gian qua

2.2.1. GLTM theo tuyến và địa bàn

2.2.2. Các biểu hiện GLTM theo loại hình

2.3. Thực trạng công tác đấu tranh chống các hình thức GLTM

2.3.1. Đấu tranh chống lại hình thức GLTM qua chính sách thuế của Nhà nước

2.3.2. Đấu tranh chống lại hình thức GLTM qua giá hàng hoá xuất nhập khẩu

2.3.3. Đấu tranh chống lại hình thức GLTM qua việc cố ý xác định sai xuất xứ hàng hoá

2.3.4. Đấu tranh chống lại hình thức GLTM trong lĩnh vực liên doanh đầu tư

2.3.5. Đấu tranh đẩy lùi nạn hàng giả, hàng kém chất lượng

2.4. Đánh giá công tác phòng chống GLTM tại Tổng cục Hải quan Việt Nam thời gian qua

2.4.1. Kết quả đạt được trong công tác phòng chống GLTM của Tổng cục Hải quan Việt Nam

2.4.2. Tồn tại và nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÒNG CHỐNG GLTM CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

3.1. Định huớng và mục tiêu phấn đấu của ngành Hải quan đến 2020

3.2. Dự báo tình hình GLTM thời gian tới

3.2.1. Xác định địa bàn, tuyến trọng điểm

3.2.2. Xác định đối tượng trọng điểm

3.2.3. Xác định mặt hàng trọng điểm

3.3. Quan điểm cơ bản về phòng chống GLTM

3.4. Các giải pháp phòng chống GLTM trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Tổng cục Hải quan Việt Nam

3.4.1. Triển khai có hiệu quả Luật Hải quan sửa đổi đã ban hành

3.4.2. Tiếp tục hoàn thiện Quản lý rủi ro

3.4.3. Kiểm tra sau thông quan

3.4.4. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, chống GLTM, đặc biệt tại các cửa khẩu

3.4.5. Tiến hành tham vấn với doanh nghiệp

3.5. Các giải pháp phòng ngừa và hạn chế vi phạm pháp luật hải quan

3.5.1. Phổ biến, tuyên truyền chủ trương

3.5.2. Phát huy hết năng lực của các phương tiện nghiệp vụ

3.5.3. Phối hợp tốt các lực lượng chống GLTM trong và ngoài nước để nâng cao năng lực chống GLTM

3.5.4. Các biện pháp về kinh tế, xã hội

3.5.5. Các biện pháp về cơ chế quản lý

3.6. Một số kiến nghị

3.6.1. Kiến nghị với Nhà nước

3.6.2. Kiến nghị với Doanh nghiệp

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Gian Lận Thương Mại và Hải Quan Việt Nam

Gian lận thương mại (GLTM) là hành vi dối trá, lừa lọc trong thương mại nhằm thu lợi bất chính. Chủ thể tham gia có thể là người mua, người bán, hoặc cả hai, thông qua đối tượng là hàng hóa. Mục đích là thu lợi bất chính bằng cách lừa dối cơ quan nhà nước kiểm tra, kiểm soát hàng hóa. GLTM là hiện tượng lịch sử, xuất hiện khi có sản xuất hàng hóa và trao đổi trên thị trường. Khi sản xuất phát triển, thị trường mở rộng, GLTM cũng trở nên phức tạp và tinh vi hơn. Toàn cầu hóa kinh tế dẫn đến GLTM mang tính toàn cầu, dựa trên sự khác biệt giữa các quốc gia. Ở Việt Nam, GLTM đã có từ xa xưa, được đúc kết trong câu "Buôn gian, bán lận". Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là tất yếu, và GLTM thể hiện ở hành vi trốn thuế, lẩn tránh kiểm soát, buôn lậu, lừa đảo, hối lộ, cạnh tranh tiêu cực. Hành vi GLTM là sự thể hiện ra bên ngoài của hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại nhằm đạt được lợi nhuận không chính đáng.

1.1. Định Nghĩa Gian Lận Thương Mại Trong Lĩnh Vực Hải Quan

Hội đồng Hợp tác Hải quan Quốc tế (WCO) định nghĩa GLTM trong lĩnh vực hải quan là hành vi vi phạm pháp luật hải quan, lừa dối hải quan để lẩn tránh nộp thuế xuất nhập khẩu, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế do hải quan quy định, để thu lợi nhuận bất chính. Định nghĩa này đã khái quát được hành vi GLTM. Hội nghị quốc tế lần thứ 5 về chống GLTM đã đưa ra định nghĩa mới, cụ thể hơn, chính xác hơn và có tính khái quát cao hơn, liệt kê 16 loại hành vi GLTM chủ yếu. Với thực tiễn thương mại Việt Nam, GLTM là hành vi gian lận các luồng sản phẩm xuất nhập khẩu bằng cách lợi dụng sự sơ hở của luật pháp, chính sách quản lý của cơ quan nhà nước để lẩn tránh việc kiểm tra, kiểm soát của Hải quan nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với nhà nước và thu lợi bất chính cho riêng mình.

1.2. Phân Loại Gian Lận Thương Mại Quốc Tế 16 Hình Thức

Theo WCO, GLTM tồn tại dưới 16 hình thức, bao gồm: buôn lậu hàng hóa (kể cả hàng cấm), khai báo tăng/giảm giá trị hàng hóa, lợi dụng chế độ ưu đãi xuất xứ, lợi dụng chế độ hàng gia công, lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất, lợi dụng yêu cầu về giấy phép xuất nhập khẩu, lợi dụng chế độ quá cảnh, khai sai số lượng/chất lượng/trọng lượng hàng hóa, lợi dụng chế độ/mục đích sử dụng, vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại, sản xuất và lưu thông hàng giả, hàng giao dịch buôn bán không sổ sách, yêu cầu giả/khống việc hoàn thuế, kinh doanh "ma", tuyên bố thanh lý có chủ đích. GLTM còn biểu hiện trong việc chuyển tải hàng hóa, sử dụng nước thứ ba để che giấu nguồn gốc thực sự của hàng hóa.

II. Thực Trạng Gian Lận Thương Mại Trong Hải Quan Việt Nam

Tình hình gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan Việt Nam diễn biến phức tạp, gây thất thu ngân sách và ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh. Các hình thức gian lận phổ biến bao gồm khai sai mã HS, khai sai trị giá, khai sai số lượng, khai báo sai về xuất xứ hàng hóa, và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Các đối tượng thường lợi dụng các kẽ hở trong chính sách, quy định của pháp luật, cũng như sự thiếu sót trong công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan. Tình trạng này đòi hỏi các cơ quan chức năng cần có các biện pháp phòng chống gian lận hiệu quả hơn để bảo vệ lợi ích quốc gia và tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.

2.1. Các Hình Thức Gian Lận Thương Mại Phổ Biến Hiện Nay

Các hình thức gian lận thương mại phổ biến bao gồm khai sai mã HS để trốn thuế, khai sai trị giá để giảm số thuế phải nộp, khai sai số lượng để trốn thuế hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, khai báo sai về xuất xứ hàng hóa để hưởng ưu đãi thuế quan không đúng quy định. Ngoài ra, còn có các hành vi buôn lậu, chống buôn lậu, chống trốn thuế, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.

2.2. Địa Bàn và Tuyến Đường Trọng Điểm Gian Lận Thương Mại

Các địa bàn trọng điểm về gian lận thương mại thường là các cửa khẩu lớn, các khu vực biên giới, và các khu công nghiệp, khu chế xuất. Các tuyến đường trọng điểm thường là các tuyến đường biển, đường bộ, và đường hàng không kết nối Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới. Việc xác định các địa bàn và tuyến đường trọng điểm giúp cơ quan hải quan tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu quả kiểm soát hải quan.

III. Giải Pháp Quản Lý Rủi Ro Trong Phòng Chống Gian Lận Hải Quan

Quản lý rủi ro là một trong những giải pháp quan trọng để phòng chống gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan. Phương pháp này giúp cơ quan hải quan xác định, đánh giá, và kiểm soát các rủi ro liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu. Bằng cách tập trung nguồn lực vào các lô hàng có rủi ro cao, cơ quan hải quan có thể nâng cao hiệu quả kiểm tra sau thông quan, ngăn chặn gian lận, và tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế hợp pháp. Việc áp dụng công nghệ thông tinphân tích dữ liệu đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro.

3.1. Hoàn Thiện Hệ Thống Quản Lý Rủi Ro Hiện Đại

Để hoàn thiện hệ thống quản lý rủi ro, cần xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ và chính xác về các doanh nghiệp, hàng hóa, và tuyến đường xuất nhập khẩu. Đồng thời, cần áp dụng các phương pháp phân tích dữ liệu tiên tiến để xác định các dấu hiệu gian lận thương mại tiềm ẩn. Việc đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ hải quan về quản lý rủi ro cũng là yếu tố quan trọng.

3.2. Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin và Trí Tuệ Nhân Tạo AI

Việc ứng dụng công nghệ thông tintrí tuệ nhân tạo (AI) giúp tự động hóa quá trình phân tích dữ liệu, phát hiện các hành vi gian lận thương mại phức tạp, và đưa ra các quyết định kiểm soát hải quan chính xác hơn. Các công nghệ như blockchain cũng có thể được sử dụng để tăng cường an ninh chuỗi cung ứngngăn chặn gian lận.

IV. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế Chống Gian Lận Thương Mại

Trong bối cảnh thương mại quốc tế ngày càng phát triển, việc hợp tác quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống gian lận thương mại. Các hoạt động gian lận thương mại thường có yếu tố xuyên quốc gia, do đó cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hải quan của các nước để trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, và phối hợp điều tra các vụ việc gian lận. Việc tham gia các tổ chức quốc tế và tuân thủ các điều ước quốc tế về phòng chống gian lận cũng là yếu tố quan trọng.

4.1. Chia Sẻ Thông Tin và Kinh Nghiệm Với Các Nước

Việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm với các nước giúp cơ quan hải quan Việt Nam nâng cao năng lực phòng chống gian lận, học hỏi các phương pháp kiểm soát hải quan hiệu quả, và phát hiện các hành vi gian lận thương mại mới. Các hoạt động trao đổi thông tin có thể được thực hiện thông qua các kênh song phương và đa phương.

4.2. Tham Gia Các Tổ Chức và Điều Ước Quốc Tế

Việc tham gia các tổ chức quốc tế như WCO và tuân thủ các điều ước quốc tế về phòng chống gian lận giúp Việt Nam tăng cường vị thế và vai trò trong cuộc chiến chống gian lận thương mại toàn cầu. Đồng thời, việc này cũng giúp Việt Nam tiếp cận các nguồn lực và hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế.

V. Hoàn Thiện Chính Sách và Pháp Luật Về Hải Quan Việt Nam

Để phòng chống gian lận thương mại hiệu quả, cần có một hệ thống chính sách hải quanluật hải quan hoàn thiện, minh bạch, và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Các quy định cần rõ ràng, dễ hiểu, và có tính khả thi cao. Đồng thời, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, và xử lý vi phạm để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Việc cải cách thủ tục hành chính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu cơ hội gian lận.

5.1. Rà Soát và Sửa Đổi Các Quy Định Bất Cập

Cần thường xuyên rà soát và sửa đổi các quy định bất cập, chồng chéo, hoặc không phù hợp với thực tiễn để tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch và thuận lợi cho hoạt động thương mại. Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế và lấy ý kiến của các doanh nghiệp cũng là yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

5.2. Nâng Cao Năng Lực Cán Bộ Thực Thi Pháp Luật

Để thực thi pháp luật hiệu quả, cần nâng cao năng lực cho cán bộ hải quan về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng kiểm tra sau thông quan, và kiến thức về thương mại quốc tế. Đồng thời, cần tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp và người dân.

VI. Đào Tạo Nguồn Nhân Lực và Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh

Để phòng chống gian lận thương mại hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh, cần chú trọng đào tạo nghiệp vụ hải quan cho đội ngũ cán bộ. Cán bộ hải quan cần được trang bị kiến thức chuyên sâu về luật hải quan, thủ tục hải quan, kiểm soát hải quan, và các kỹ năng mềm cần thiết để thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, cần tạo điều kiện để cán bộ hải quan được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, và cập nhật kiến thức mới về thương mại quốc tế.

6.1. Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Hải Quan Chuyên Nghiệp

Để xây dựng đội ngũ cán bộ hải quan chuyên nghiệp, cần có chính sách tuyển dụng, đào tạo, và sử dụng cán bộ hợp lý. Đồng thời, cần tạo môi trường làm việc năng động, sáng tạo, và khuyến khích cán bộ hải quan học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn. Việc đánh giá và khen thưởng cán bộ hải quan cần dựa trên kết quả công việc và đóng góp thực tế.

6.2. Nâng Cao Nhận Thức Về Tuân Thủ Pháp Luật Cho Doanh Nghiệp

Để nâng cao nhận thức về tuân thủ pháp luật cho doanh nghiệp, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hải quan cho các doanh nghiệp. Đồng thời, cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp được tiếp cận thông tin về các quy định mới, các chính sách ưu đãi, và các biện pháp phòng chống gian lận. Việc tổ chức các hội thảo, khóa đào tạo, và diễn đàn đối thoại giữa cơ quan hải quan và doanh nghiệp cũng là yếu tố quan trọng.

07/06/2025
Phòng chống gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan việt nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về gian lận thương mại (GLTM) và phòng chống GLTM trong lĩnh vực Hải quan. Chương 2: Thực trạng công tác phòng chống gian lận thương mại tại Tổng cục Hải quan Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh phòng chống gian lận thương mại của Tổng cục Hải quan trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. -4- CHUƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAN LẬN THUƠNG MẠI, PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THUƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN 1.1 Tổng quan về GLTM trong lĩnh vực Hải quanKhái niệm về GLTM và GLTM trong lĩnh vực Hải quan 1.1 Khái niệm về gian lận thương mại và gian lận thuơng mại trong lĩnh vực hải quan 1.1 Khái niệm Gian lận thương mại (commercial fraud) là những hành vi dối trá, lừa lọc trong thương mại nhằm mục đích thu được một khoản lợi bất chính nào đó mà lẽ ra những khoản lợi thu được này họ không được hưởng.

Chủ thể tham gia hành vi GLTM bao gồm: người mua, người bán hoặc cả người mua và người bán thông qua đối tượng là hàng hoá. Mục đích của hành vi GLTM là nhằm thu lợi bất chính do thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo, dối trá. Người mua, người bán sử dụng các thủ đoạn khác nhau để lừa dối cơ quan Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát hàng hoá. Ngoài ra, đối với hàng cấm, do cơ quan Nhà nước quản lý và hạn chế nhập khẩu, các chủ hàng cũng dùng thủ đoạn GLTM để trốn tránh sự kiểm soát của các cơ quan chức năng.

GLTM là một hiện tượng mang tính lịch sử vì chỉ khi có sản xuất hàng hoá, khi các sản phẩm được mang ra trao đổi trên thị trường, có người mua và người bán nhằm thực hiện phần giá trị được kết tinh trong hàng hoá thì -5- GLTM mới xuất hiện. Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, thị trường ngày càng mở rộng, các sản phẩm đưa ra trao đổi buôn bán trên thị trường ngày càng nhiều, tiêu chuẩn và chủng loại hàng hoá ngày càng đa dạng, phong phú, đa công dụng thì GLT M cũng càng phức tạp và tinh vi hơn. Ngày nay, mặc dù người ta khó có thể tiến hành xã hội hoá toàn cầu nhưng toàn cầu hoá về kinh tế lại là một quá trình tất yếu, khách quan dẫn đến GLTM mang tính toàn cầu trên cơ sở sự khác biệt các Nhà nước, quốc gia độc lập. GLTM ở Việt Nam đã có từ xa xưa.

Hành vi GLTM đã được đúc kết thành câu thành ngữ: “Buôn gian, bán lận” để chỉ những mặt trái của việc buôn bán, để mọi người cảnh giác với thủ đoạn, mánh khoé, lừa dối khách hàng của các gian thương. Ngày nay, chúng ta đang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chấp nhận cơ chế thị trường tất yếu phải chấp nhận cạnh tranh. Trong cạnh tranh chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều hình thức GLTM phức tạp và thủ đoạn tinh vi GLTM thể hiện ở hành vi trốn thuế, lẩn tránh sự kiểm soát của Nhà nước, buôn lậu, lừa đảo, hối lộ, lấy cắp các bí mật sản xuất, cạnh tranh tiêu cực phi kinh tế… Như vậy, theo cách tiếp cận hệ thống, hành vi GLTM là sự thể hiện ra bên ngoài của hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại nhằm đạt được lợi nhuận không chính đáng.2 GLTM trong lĩnh vực Hải quan Vấn đề xác định rõ khái niệm GLTM cũng được Hội đồng hợp tác Hải quan quốc tế (nay là Tổ chức Hải quan Thế giới WCO- World Customs Organization) thảo luận, đề cập nhiều lần. Ngày 09/06/1977, các nước thành viên đã ký kết công ước quốc tế về giúp đỡ hành chính giữa các nước nhằm -6- ngăn ngừa, điều tra, trấn áp các hành vi vi phạm pháp luật Hải quan (gọi tắt là công ước NAROBI- Cộng hoà Kenia) đã đưa ra định nghĩa: “GLTM trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm pháp luật Hải quan, lừa dối Hải quan để lẩn tránh một phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế xuất nhập khầu, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế các biện pháp do Hải quan quy định, để thu được một khoản lợi nhuận nào đó qua việc vi phạm Pháp luật này”.

Về cơ bản, định nghĩa này đã khái quát được hành vi GLTM trong lĩnh vực Hải quan. Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hoá, thương mại quốc tế ngày càng phát triển thì GLTM ngày càng phức tạp và tinh vi. Vì vậy, định nghĩa trên chưa đưa ra được một cách đầy đủ và chính xác các hành vi GLTM trong lĩnh vực Hải quan. Do đó, tại hội nghị quốc tế lần thứ 5 về chống GLTM trong lĩnh vực Hải quan do WCO triệu tập tại Brussels – Bỉ từ ngày 09/10/1995 đến ngày 13/10/1995 đã xem xét, thống nhất đưa ra một định nghĩa mới: „GLTM trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm các điều khoản pháp quy hoặc pháp luật Hải quan nhằm trốn tránh việc nộp thuế Hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc di chuyền của hàng hoá thương mại và/hoặc nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp và phụ cấp cho hàng hoá không thuộc đối tượng đó và/hoặc đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục thương mại chân chính.

Hội nghị cũng đã phân tích, tổng hợp, đúc kết, liệt kê 16 loại hành vi GLTM chủ yếu. Như vậy, có thể thấy định nghĩa mà hội nghị Quốc tế lần thứ 5 đưa ra so với định nghĩa trong Công ước NAIROBI cụ thể hơn, chính xác -7- hơn và có tính khái quát cao hơn thể hiện tính chất vi phạm và mục đích của hành vi GLTM. Trên cơ sở đó với thực tiễn thương mại Việt Nam, khái niệm GLTM được biết đến như sau: “GLTM trong lĩnh vực Hải quan là hành vi gian lận các luồng sản phẩm xuất nhập khẩu bằng cách lợi dụng sự sơ hở của luật pháp, chính sách quản lý của cơ quan Nhà nước để lẩn tránh việc kiểm tra, kiểm soát của Hải quan nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với nhà nước và thu lợi bất chính cho riêng mình”. Định nghĩa này đã thể hiện được hành vi, đối tượng, chủ quan, khách thể, nghĩa vụ và mục đích của GLTM trong lĩnh vực Hải quan.

Ví dụ: Chủ hàng để lẫn lộn nhiều loại hàng hoá với nhau và khi hải quan kiểm tra thì xuất trình những mặt hàng có thuế suất thấp. Hàng là sản phẩm hoàn chỉnh được khai là linh kiện, là nguyên phụ liệu để gia công, lắp ráp để trốn thuế. Hàng có xuất xứ từ nước này lại khai báo là hàng có xuất xứ từ nước khác để được hưởng ưu đãi thuế… 1.2 Phân loại GLTM trong lĩnh vực Hải quan trên thế giới Theo tài liệu số 36623 ngày 28/06/1995 của Hội nghị Quốc tế lần thứ 5 về chống GLTM do WCO hợp tác Brussels – Bỉ đã khằng định GLTM tồn tại dưới 16 hình thức sau: 1. Buôn lậu hàng hoá ( kể cả hàng hoá bị cấm xuất nhập khẩu và đặc biệt hàng thuộc Công ước Washington về bảo vệ động thực vật quý hiếm và các quy định quốc gia về bảo vệ môi trường) qua biên giới hoặc ra khỏi kho ngoại quan.

Khai báo tăng, giảm giá trị hàng hoá 4. Lợi dụng chế độ ưu đãi xuất xứ hay những quy định về chế độ ưu tiên đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, kể cả chế độ hạn nghạch. Lợi dụng ưu đãi chế độ hàng gia công, nhập sản xuất xuất khẩu 6. Lợi dụng chế độ tạm nhập, tái xuất ( kể cả dùng thẻ ATA – Agreement on Temporary Admission).

Lợi dụng yêu cầu về giấy phép xuất nhập khẩu. Lợi dụng chế độ quá cảnh (mang hàng hoá quá cảnh để tiêu dùng ở nước hàng đi qua). Khai sai về số lượng, chất lượng, trọng lượng hàng hoá. Lợi dụng chế độ, mục đích sử dụng, kể buôn bán trái phép hàng được ưu đãi thuế nhằm giảm thuế hàng hoá (lợi dụng sự ưu đãi của Chính phủ về thuế xuất khẩu dành cho những đối tượng sử dụng thuế nhất định).

Vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại hoặc quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Sản xuất và lưu thông hàng giả, hàng ăn cắp mẫu mã. Hàng giao dịch buôn bán không sổ sách. Yêu cầu giả, khống việc hoàn hoặc truy hoàn thuế Hải quan (kể cả làm chứng từ về hàng hoá đã xuất khẩu).

Kinh doanh „ma‟, đăng ký kinh doanh lậu tức doanh nghiệp kinh doanh chỉ trên giấy tờ hoặc đăng ký kinh doanh bất hợp pháp để hưởng ưu đãi thuế. Tuyên bố thanh lý có chủ đích khi công ty kinh doanh một thời gian ngắn, nợ thuế đã leo lên cao rồi tuyên bố thanh lý để tránh nộp thuế, giám đốc công ty đó thành lập công ty mới ngay sau đó với cùng ý định. Ngoài ra, GLTM còn biểu hiện trong việc chuyển tải hàng hoá. Đó là việc sử dụng một nước thứ ba để che giấu nguồn gốc thực sự của hàng hoá nhằm che mắt Hải quan nước nhập khẩu.

Tại nước thứ ba, nguồn gốc hàng hoá bị làm giả, thay đổi để tránh được các hạn chế của nước nhập khẩu. Trong trường hợp này, nước thứ ba là nước cung cấp tài liệu giả hoặc dùng các thủ đoạn thay đổi nguồn gốc hàng hoá từ nước xuất khẩu sang nước quá cảnh. Đến khi hàng được nhập vào nước nhập khẩu sẽ tránh được các quy định hạn chế mặt hàng của nước nhập khẩu như: hạn nghạch, chế độ ưu đãi, bản quyền sản xuất… Các cách thức thông thường là đem hàng vào nước chuyển tải dưới dạng hoàn chỉnh hoặc bán thành phẩm nhưng được khai báo là nguyên phụ liệu để sản xuất hoặc chế biến và nghiễm nhiên trở thành sản phẩm chuyển tải. Hàng hoá được đưa vào kho của nước chuyển tải để thay đổi nhãn mác rồi bốc lên tàu và được xem là hàng của nước chuyển tải.

Hàng mang giấy tờ giả để chứng minh là hàng của nước thứ ba trên đường đi từ nước xuất hàng đến nước nhập hàng… Cách phân loại trên là kết quả nghiên cứu các vấn đề thực tiễn trong nhiều năm của hoạt động thương mại Quốc tế ở nhiều nước trên Thế giới, trong đó có Việt Nam. Tình hình thực tế ở nước ta trong thời gian qua cho thấy các thủ đoạn GLTM trong hoạt động thương mại Quốc tế cũng chính là các hình thức mà tổ chức Hải quan Thế giới đã xác định.3 Nguyên nhân, hậu quả của GLTM 1.1 Nguyên nhân - Nguyên nhân kinh tế: Nguyên nhân và động cơ cuối cùng là lợi nhuận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải Pháp Phòng Chống Gian Lận Thương Mại Trong Lĩnh Vực Hải Quan Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp cần thiết để ngăn chặn gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện quy trình kiểm tra và giám sát, cũng như việc áp dụng công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả quản lý. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ các giải pháp này, giúp họ nắm bắt được cách thức bảo vệ doanh nghiệp và tuân thủ quy định pháp luật.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế tăng cường quản lý nhà nước về hải quan qua hệ thống hải quan điện tử tại cục hải quan thành phố hải phòng, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý hải quan điện tử. Ngoài ra, tài liệu Các nhân tố tác động đến gian lận thương mại quốc tế ở việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận thương mại. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nâng cao hiệu quả kiểm tra trị giá hải quan trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại cục hải quan tp hải phong sẽ cung cấp thêm thông tin về quy trình kiểm tra trị giá hải quan, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.