Chương 1: Một số vấn đề lý luận về gian lận thương mại (GLTM) và phòng chống GLTM trong lĩnh vực Hải quan. Chương 2: Thực trạng công tác phòng chống gian lận thương mại tại Tổng cục Hải quan Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh phòng chống gian lận thương mại của Tổng cục Hải quan trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. -4- CHUƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAN LẬN THUƠNG MẠI, PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THUƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN 1.1 Tổng quan về GLTM trong lĩnh vực Hải quanKhái niệm về GLTM và GLTM trong lĩnh vực Hải quan 1.1 Khái niệm về gian lận thương mại và gian lận thuơng mại trong lĩnh vực hải quan 1.1 Khái niệm Gian lận thương mại (commercial fraud) là những hành vi dối trá, lừa lọc trong thương mại nhằm mục đích thu được một khoản lợi bất chính nào đó mà lẽ ra những khoản lợi thu được này họ không được hưởng.
Chủ thể tham gia hành vi GLTM bao gồm: người mua, người bán hoặc cả người mua và người bán thông qua đối tượng là hàng hoá. Mục đích của hành vi GLTM là nhằm thu lợi bất chính do thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo, dối trá. Người mua, người bán sử dụng các thủ đoạn khác nhau để lừa dối cơ quan Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát hàng hoá. Ngoài ra, đối với hàng cấm, do cơ quan Nhà nước quản lý và hạn chế nhập khẩu, các chủ hàng cũng dùng thủ đoạn GLTM để trốn tránh sự kiểm soát của các cơ quan chức năng.
GLTM là một hiện tượng mang tính lịch sử vì chỉ khi có sản xuất hàng hoá, khi các sản phẩm được mang ra trao đổi trên thị trường, có người mua và người bán nhằm thực hiện phần giá trị được kết tinh trong hàng hoá thì -5- GLTM mới xuất hiện. Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, thị trường ngày càng mở rộng, các sản phẩm đưa ra trao đổi buôn bán trên thị trường ngày càng nhiều, tiêu chuẩn và chủng loại hàng hoá ngày càng đa dạng, phong phú, đa công dụng thì GLT M cũng càng phức tạp và tinh vi hơn. Ngày nay, mặc dù người ta khó có thể tiến hành xã hội hoá toàn cầu nhưng toàn cầu hoá về kinh tế lại là một quá trình tất yếu, khách quan dẫn đến GLTM mang tính toàn cầu trên cơ sở sự khác biệt các Nhà nước, quốc gia độc lập. GLTM ở Việt Nam đã có từ xa xưa.
Hành vi GLTM đã được đúc kết thành câu thành ngữ: “Buôn gian, bán lận” để chỉ những mặt trái của việc buôn bán, để mọi người cảnh giác với thủ đoạn, mánh khoé, lừa dối khách hàng của các gian thương. Ngày nay, chúng ta đang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chấp nhận cơ chế thị trường tất yếu phải chấp nhận cạnh tranh. Trong cạnh tranh chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều hình thức GLTM phức tạp và thủ đoạn tinh vi GLTM thể hiện ở hành vi trốn thuế, lẩn tránh sự kiểm soát của Nhà nước, buôn lậu, lừa đảo, hối lộ, lấy cắp các bí mật sản xuất, cạnh tranh tiêu cực phi kinh tế… Như vậy, theo cách tiếp cận hệ thống, hành vi GLTM là sự thể hiện ra bên ngoài của hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại nhằm đạt được lợi nhuận không chính đáng.2 GLTM trong lĩnh vực Hải quan Vấn đề xác định rõ khái niệm GLTM cũng được Hội đồng hợp tác Hải quan quốc tế (nay là Tổ chức Hải quan Thế giới WCO- World Customs Organization) thảo luận, đề cập nhiều lần. Ngày 09/06/1977, các nước thành viên đã ký kết công ước quốc tế về giúp đỡ hành chính giữa các nước nhằm -6- ngăn ngừa, điều tra, trấn áp các hành vi vi phạm pháp luật Hải quan (gọi tắt là công ước NAROBI- Cộng hoà Kenia) đã đưa ra định nghĩa: “GLTM trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm pháp luật Hải quan, lừa dối Hải quan để lẩn tránh một phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế xuất nhập khầu, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế các biện pháp do Hải quan quy định, để thu được một khoản lợi nhuận nào đó qua việc vi phạm Pháp luật này”.
Về cơ bản, định nghĩa này đã khái quát được hành vi GLTM trong lĩnh vực Hải quan. Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hoá, thương mại quốc tế ngày càng phát triển thì GLTM ngày càng phức tạp và tinh vi. Vì vậy, định nghĩa trên chưa đưa ra được một cách đầy đủ và chính xác các hành vi GLTM trong lĩnh vực Hải quan. Do đó, tại hội nghị quốc tế lần thứ 5 về chống GLTM trong lĩnh vực Hải quan do WCO triệu tập tại Brussels – Bỉ từ ngày 09/10/1995 đến ngày 13/10/1995 đã xem xét, thống nhất đưa ra một định nghĩa mới: „GLTM trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm các điều khoản pháp quy hoặc pháp luật Hải quan nhằm trốn tránh việc nộp thuế Hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc di chuyền của hàng hoá thương mại và/hoặc nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp và phụ cấp cho hàng hoá không thuộc đối tượng đó và/hoặc đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục thương mại chân chính.
Hội nghị cũng đã phân tích, tổng hợp, đúc kết, liệt kê 16 loại hành vi GLTM chủ yếu. Như vậy, có thể thấy định nghĩa mà hội nghị Quốc tế lần thứ 5 đưa ra so với định nghĩa trong Công ước NAIROBI cụ thể hơn, chính xác -7- hơn và có tính khái quát cao hơn thể hiện tính chất vi phạm và mục đích của hành vi GLTM. Trên cơ sở đó với thực tiễn thương mại Việt Nam, khái niệm GLTM được biết đến như sau: “GLTM trong lĩnh vực Hải quan là hành vi gian lận các luồng sản phẩm xuất nhập khẩu bằng cách lợi dụng sự sơ hở của luật pháp, chính sách quản lý của cơ quan Nhà nước để lẩn tránh việc kiểm tra, kiểm soát của Hải quan nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với nhà nước và thu lợi bất chính cho riêng mình”. Định nghĩa này đã thể hiện được hành vi, đối tượng, chủ quan, khách thể, nghĩa vụ và mục đích của GLTM trong lĩnh vực Hải quan.
Ví dụ: Chủ hàng để lẫn lộn nhiều loại hàng hoá với nhau và khi hải quan kiểm tra thì xuất trình những mặt hàng có thuế suất thấp. Hàng là sản phẩm hoàn chỉnh được khai là linh kiện, là nguyên phụ liệu để gia công, lắp ráp để trốn thuế. Hàng có xuất xứ từ nước này lại khai báo là hàng có xuất xứ từ nước khác để được hưởng ưu đãi thuế… 1.2 Phân loại GLTM trong lĩnh vực Hải quan trên thế giới Theo tài liệu số 36623 ngày 28/06/1995 của Hội nghị Quốc tế lần thứ 5 về chống GLTM do WCO hợp tác Brussels – Bỉ đã khằng định GLTM tồn tại dưới 16 hình thức sau: 1. Buôn lậu hàng hoá ( kể cả hàng hoá bị cấm xuất nhập khẩu và đặc biệt hàng thuộc Công ước Washington về bảo vệ động thực vật quý hiếm và các quy định quốc gia về bảo vệ môi trường) qua biên giới hoặc ra khỏi kho ngoại quan.
Khai báo tăng, giảm giá trị hàng hoá 4. Lợi dụng chế độ ưu đãi xuất xứ hay những quy định về chế độ ưu tiên đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, kể cả chế độ hạn nghạch. Lợi dụng ưu đãi chế độ hàng gia công, nhập sản xuất xuất khẩu 6. Lợi dụng chế độ tạm nhập, tái xuất ( kể cả dùng thẻ ATA – Agreement on Temporary Admission).
Lợi dụng yêu cầu về giấy phép xuất nhập khẩu. Lợi dụng chế độ quá cảnh (mang hàng hoá quá cảnh để tiêu dùng ở nước hàng đi qua). Khai sai về số lượng, chất lượng, trọng lượng hàng hoá. Lợi dụng chế độ, mục đích sử dụng, kể buôn bán trái phép hàng được ưu đãi thuế nhằm giảm thuế hàng hoá (lợi dụng sự ưu đãi của Chính phủ về thuế xuất khẩu dành cho những đối tượng sử dụng thuế nhất định).
Vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại hoặc quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Sản xuất và lưu thông hàng giả, hàng ăn cắp mẫu mã. Hàng giao dịch buôn bán không sổ sách. Yêu cầu giả, khống việc hoàn hoặc truy hoàn thuế Hải quan (kể cả làm chứng từ về hàng hoá đã xuất khẩu).
Kinh doanh „ma‟, đăng ký kinh doanh lậu tức doanh nghiệp kinh doanh chỉ trên giấy tờ hoặc đăng ký kinh doanh bất hợp pháp để hưởng ưu đãi thuế. Tuyên bố thanh lý có chủ đích khi công ty kinh doanh một thời gian ngắn, nợ thuế đã leo lên cao rồi tuyên bố thanh lý để tránh nộp thuế, giám đốc công ty đó thành lập công ty mới ngay sau đó với cùng ý định. Ngoài ra, GLTM còn biểu hiện trong việc chuyển tải hàng hoá. Đó là việc sử dụng một nước thứ ba để che giấu nguồn gốc thực sự của hàng hoá nhằm che mắt Hải quan nước nhập khẩu.
Tại nước thứ ba, nguồn gốc hàng hoá bị làm giả, thay đổi để tránh được các hạn chế của nước nhập khẩu. Trong trường hợp này, nước thứ ba là nước cung cấp tài liệu giả hoặc dùng các thủ đoạn thay đổi nguồn gốc hàng hoá từ nước xuất khẩu sang nước quá cảnh. Đến khi hàng được nhập vào nước nhập khẩu sẽ tránh được các quy định hạn chế mặt hàng của nước nhập khẩu như: hạn nghạch, chế độ ưu đãi, bản quyền sản xuất… Các cách thức thông thường là đem hàng vào nước chuyển tải dưới dạng hoàn chỉnh hoặc bán thành phẩm nhưng được khai báo là nguyên phụ liệu để sản xuất hoặc chế biến và nghiễm nhiên trở thành sản phẩm chuyển tải. Hàng hoá được đưa vào kho của nước chuyển tải để thay đổi nhãn mác rồi bốc lên tàu và được xem là hàng của nước chuyển tải.
Hàng mang giấy tờ giả để chứng minh là hàng của nước thứ ba trên đường đi từ nước xuất hàng đến nước nhập hàng… Cách phân loại trên là kết quả nghiên cứu các vấn đề thực tiễn trong nhiều năm của hoạt động thương mại Quốc tế ở nhiều nước trên Thế giới, trong đó có Việt Nam. Tình hình thực tế ở nước ta trong thời gian qua cho thấy các thủ đoạn GLTM trong hoạt động thương mại Quốc tế cũng chính là các hình thức mà tổ chức Hải quan Thế giới đã xác định.3 Nguyên nhân, hậu quả của GLTM 1.1 Nguyên nhân - Nguyên nhân kinh tế: Nguyên nhân và động cơ cuối cùng là lợi nhuận.