Chương 1. CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm cán bộ, công chức và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 1. Khái niệm cán bộ, công chức Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt ra chính sách đúng” [8, tr.
Theo Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 52/2019/QH14 ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020: - “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” 7 - “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” Cán bộ nói chung hay cán bộ, công chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ "cán bộ", "công chức". Ở Việt Nam trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản lý, chúng ta chưa xác định được rõ ràng cán bộ; công chức; viên chức. Trong hệ thống pháp luật của nước ta, kể từ Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi, bổ sung) cho đến các luật khác (ví dụ như Luật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân;) đều có những điều, khoản sử dụng các thuật ngữ "cán bộ", "công chức", "viên chức".
Trong điều kiện thể chế chính trị của Việt Nam, có một điểm đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức luôn có sự liên thông với nhau. Theo yêu cầu nhiệm vụ, cơ quan có thẩm quyền có thể điều động, luân chuyển họ giữa các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội. Trong đời sống xã hội, từ lâu thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng rộng rãi nhưng không theo một quy định nào. "Cán bộ" không chỉ để gọi những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, của Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội mà còn được sử dụng cả trong các hoạt động sự nghiệp như "cán bộ y tế", "cán bộ coi thi", "cán bộ dân phố".
Tương tự, cụm từ "công chức" và "viên chức" cũng vậy. Có khi người ta sử dụng luôn cả cụm từ "cán bộ, công chức, viên chức" để chỉ chung những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội. 8 Như vậy đến nay, mặc dù Luật cán bộ, công chức đã nêu ra được khái niệm cơ bản nhất về cán bộ, công chức, tuy nhiên thuật ngữ "cán bộ" là thuật ngữ bao hàm trong phạm vi rộng chỉ những người làm việc tại các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội; lực lượng vũ trang, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta hiện nay. Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Chất lượng cán bộ, công chức là một trong những mối quan tâm đặc biệt được các quốc gia hết sức coi trọng, bởi lẽ chất lượng cán bộ, công chức có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội.
Trong xu thế hội nhập toàn cầu và phát triển hiện nay chất lượng cán bộ, công chức phải đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, và phải từng bước hướng tới đạt chuẩn quốc tế. Ở nhiều góc độ khác nhau thì nhìn chung thuật ngữ "chất lượng" được hiểu là “cái làm nên giá trị của sự vật”[9, tr. Theo đó có thể khái quát "chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức" là tổng hợp những đánh giá về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ năng lực và khả năng thích ứng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao của cán bộ, công chức. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan Trung ương Đoàn trong giai đoạn hiện nay 1.
Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Trung ương Đoàn 1. Vị trí của cơ quan Trung ương Đoàn Cơ quan Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tiền thân là Bộ Thanh niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh lập sau cuộc Cách mạng tháng Tám thành công. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Bộ Thanh niên được Bác chỉ thị phải tăng cường, củng cố, phát triển mạnh mẽ Đoàn Thanh niên cứu quốc. Do tình hình kháng chiến chống Pháp, Chính phủ được tổ chức rất gọn, hoạt động của các Bộ được đưa về các Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Liên khu và Khu, song do yêu cầu thực hiện công tác quản lý Nhà nước về công tác thanh niên, Bác Hồ đã chỉ thị thành lập Nha Thanh niên trực thuộc Chính phủ, đồng thời hình 9 thành Mặt trận đoàn kết thanh niên rộng rãi lấy tên là Tổng đoàn Thanh niên Việt Nam (tiền thân của Liên đoàn Thanh niên Việt Nam và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam ngày nay) do Đoàn Thanh niên Cộng sản làm nòng cốt.
Như vậy, sau khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã đặt công tác thanh niên trong phạm vi quản lý Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Những tiền đề để hình thành hệ thống cơ chế, thiết chế của việc quản lý Nhà nước về công tác thanh niên đã được đặt nền móng từ ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời và ngay trong những năm tháng kháng chiến giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã thấy rõ sự cần thiết, vai trò to lớn của tổ chức Đoàn Thanh niên. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh từ ngày thành lập đến nay đã qua 11 kỳ Đại hội. Căn cứ vào nhiệm vụ công tác của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh thiếu nhi trong từng thời kỳ lịch sử, tại mỗi kỳ Đại hội Đoàn đều sửa đổi, bổ sung Điều lệ của Đoàn cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn; theo đó cơ cấu tổ chức, bộ máy các cấp của Đoàn được điều chỉnh phù hợp.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có 4 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở. Các cấp của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có cơ quan chuyên trách. Theo đó, cơ quan Trung ương Đoàn được xác định là cơ quan chuyên trách của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở cấp Trung ương. Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Trung ương Đoàn Cơ quan Trung ương Đoàn có chức năng hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trương, kế hoạch, chương trình công tác của Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi.
Nhiệm vụ cụ thể của cơ quan Trung ương Đoàn được quy định tại Quyết định số 2010-QĐ/TWĐTN-BTC ngày 16/9/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn: * Nghiên cứu, đề xuất, tham mưu - Nghiên cứu cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để tổ chức thực hiện trong hệ thống Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và cơ quan Trung ương Đoàn. 10 - Đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương, đường lối, chính sách liên quan đến thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi. - Tham mưu cho Ban Bí thư, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn các chủ trương, nghị quyết, kế hoạch, chương trình công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi. * Hướng dẫn, kiểm tra - Hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai, thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong hệ thống Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và cơ quan Trung ương Đoàn.
- Hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chương trình công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi; các chương trình phối hợp, các nghị quyết liên tịch giữa Trung ương Đoàn với các bộ, ngành, đoàn thể, các tổ chức kinh tế - xã hội. * Tổ chức, thực hiện - Tổ chức, thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chủ trương, nghị quyết, kế hoạch, chương trình công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi. - Tổ chức, thực hiện công tác tổng hợp, thông tin về tình hình thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Ban Bí thư, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn. - Thực hiện mối quan hệ làm việc với các cơ quan của Đảng, Nhà nước; các bộ, ngành, đoàn thể; các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước; các địa phương để tiến hành công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, những nội dung công tác có liên quan.
- Thực hiện nhiệm vụ Thường trực Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam, Hội đồng Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Uỷ ban kiểm tra Trung ương Đoàn và Uỷ ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam. * Thực hiện quản lý và triển khai các nội dung 11 - Tổ chức cán bộ, chế độ chính sách, lao động tiền lương đối với cán bộ và người lao động các ban, đơn vị trực thuộc cơ quan Trung ương Đoàn. - Tài chính và tài sản của cơ quan Trung ương Đoàn.