Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức thực thi chính sách quản lý hoạt động ngoại hối của NHTW 9 Chương 2: Thực trạng tổ chức thực thi chính sách quản lý hoạt động ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách quản lý hoạt động ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI HỐI 1. Khái niệm ngoại hối và hoạt động ngoại hối 1. Khái niệm ngoại hối Cùng với sự phát triển không ngừng của nền sản xuất hàng hoá, nhu cầu mở rộng giao lưu thương mại không chỉ dừng lại ở phạm vi một quốc gia mà ngày càng đòi hỏi mở rộng trên phạm vi toàn cầu. Để thúc đẩy hoạt động thương mại trên thế giới, các phương tiện thanh toán quốc tế ngày càng được hoàn thiện.
Trước đây, các phương tiện chi trả cổ điển như vàng được sử dụng rộng rãi. Ngày nay, các phương tiện thanh toán hiện đại đã được rất nhiều quốc gia chấp nhận và đưa vào sử dụng. Các phương tiện thanh toán, dự trữ quốc tế này gọi chung là ngoại hối. Tuỳ cách tiếp cận mà khái niệm ngoại hối có thể được hiểu không hoàn toàn đồng nhất mà có thể theo các cách khác nhau.
Các nhà kinh doanh ngoại hối thường hiểu ngoại hối là các phương tiện thanh toán thể hiện dưới dạng ngoại tệ, bao gồm: tiền mặt, hối phiếu séc bằng ngoại tệ và số dư có trên tài khoản tại ngân hàng nước ngoài. Hoặc có người cho rằng ngoại hối là toàn bộ các loại tiền nước ngoài, các phương tiện chi trả có giá trị bằng tiền nước ngoài, các chứng từ, chứng khoán có giá trị có khả năng mang lại ngoại tệ nào đó và toàn bộ các loại kim loại quí, đá quí…Tuy nhiên, các nước trên thế giới đều thống nhất với định nghĩa về ngoại hối của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, theo đó ngoại hối bao gồm: a) Đồng tiền của quốc gia, lãnh thổ khác, đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực và được gọi chung là ngoại tệ; b) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối 11 phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện thanh toán khác; c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ gồm trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; d) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú, vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào, mang ra khỏi lãnh thổ một nước; đ) Đồng tiền của nước bản tệ trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, ngoại hối có thể định nghĩa là đồng tiền chung được sử dụng trong thanh toán quốc tế bao gồm ngoại tệ tiền mặt, ngoại tệ trên tài khoản ở ngân hàng nước ngoài; các phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ v. Khái niệm hoạt động ngoại hối Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực ngoại hối, các nhà nghiên cứu có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm HĐNH.
Từ khía cạnh khoa học pháp lý, HĐNH được quan niệm là tổng hợp các hành vi pháp lý do các chủ thể thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản ngoại hối. Theo quy định của pháp luật, HĐNH được định nghĩa là hoạt động của người cư trú, người không cư trú trong các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối. HĐNH có thể phân biệt với các hoạt động kinh tế khác thông qua các đặc trưng sau: Thứ nhất, chủ thể của HĐNH là các tổ chức, cá nhân tham gia vào các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng 12 ngoại hối trên lãnh thổ của một nước, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối. Thứ hai, đối tượng của HĐNH là các loại ngoại hối được phép giao dịch trên lãnh thổ của một quốc gia và các dịch vụ về ngoại hối.
Thứ ba, nội dung của HĐNH bao gồm các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ của một quốc gia, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối. Phân loại các hoạt động ngoại hối 1. Giao dịch vãng lai Giao dịch vãng lai được hiểu là giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú không vì mục đích chuyển vốn. Cụ thể đó là các giao dịch về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập từ đầu tư trực tiếp, thu nhập từ đầu tư vào các giấy tờ có giá, lãi vay và lãi tiền gửi nước ngoài, chuyển tiền một chiều và các giao dịch tương tự khác theo qui định của pháp luật.
Giao dịch vốn Theo định nghĩa của IMF, giao dịch vốn là những giao dịch chuyển vốn từ trong nước ra nước ngoài, từ nước ngoài vào trong nước trong các lĩnh vực đầu tư trực tiếp, đầu tư vào các giấy tờ có giá, vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài và các hình thức đầu tư khác làm tăng hoặc giảm tài sản Có hoặc tài sản Nợ giữa người cư trú và người không cư trú. Dòng vốn trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp thường có tính ổn định tương đối, do đó các nước đang phát triển và kém phát triển thường có những chính sách nhằm thu hút tối đa trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Còn nguồn vốn đầu tư gián tiếp vào các giấy tờ có giá lại có tính nhạy cảm cao với những biến động kinh tế chính trị, do đó rất dễ bị đảo chiều với sự rút vốn ồ ạt, dễ gây ra những “cú sốc” cho nền kinh tế. Vì vậy, các nước đang và kém phát triển luôn có quy định để quản lý chặt chẽ, hạn chế tác động xấu của luồng vốn gián tiếp đến nền kinh tế.
Các giao dịch sử dụng ngoại hối trong phạm vi một quốc gia Các giao dịch ngoại hối trong một quốc gia đề cập đến những vấn đề về quyền sở hữu, mua, bán và phạm vi sử dụng ngoại tệ của người cư trú và người không cư trú; hoạt động ngoại hối của các ngân hàng thương mại như mua bán ngoại tệ, vay và cho vay ngoại tệ trong nước, thực hiện các quy định về trạng thái ngoại tệ v. Hầu hết các nước đang và kém phát triển đều áp dụng các quy định về hạn chế việc thanh toán, cho vay với nhau bằng ngoại tệ. Tuy nhiên khi đồng bản tệ của các nước này chưa có khả năng chuyển đổi và các nước này luôn phải đối mặt với những bất ổn kinh tế vĩ mô (sự biến động của tỷ giá, lạm phát cao, thâm hụt thương mại v.) nên việc sử dụng ngoại tệ làm công cụ cất trữ, thanh toán rất phổ biến dẫn đến tình trạng đôla hoá nền kinh tế. Chính sách quản lý hoạt động ngoại hối 1.
Khái niệm Chính sách quản lý HĐNH là bộ phận của chính sách tiền tệ quốc gia, là một trong những công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế. Nó bao gồm những quy định pháp lý điều chỉnh HĐNH như thanh toán, mua bán, sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ, đầu tư, vay, cho vay và các giao dịch khác về ngoại hối của các bên liên quan nhằm thực hiện được các mục tiêu quản lý ngoại hối trong từng thời kỳ. Hay nói một cách khác, chính sách quản lý HĐNH là việc Nhà nước áp dụng các chính sách, biện pháp tác động vào các đối tượng quản lý để định hướng và điều chỉnh các HĐNH nhằm đạt mục tiêu nhất định. So với các chính sách kinh tế xã hội khác, chính sách quản lý HĐNH có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, chủ thể ban hành và tổ chức thực thi chính sách quản lý HĐNH là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm Quốc hội, Chính phủ; các Bộ, Ngành v.
Theo đó, Quốc hội ban hành Luật quản lý ngooại hối, Pháp lệnh quản lý ngoại hối; Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý 14 HĐNH; các Bộ, Ngành có liên quan chịu trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn Luật, Pháp lệnh và Nghị định. Thứ hai, đối tượng của chính sách quản lý HĐNH là các tổ chức và cá nhân tham gia HĐNH trong nền kinh tế. Điều đó có nghĩa chính sách quản lý HĐNH là quản lý con người tham gia HĐNH, chứ không phải là quản lý đối với tài sản ngoại hối. Thứ ba, về phương thức quản lý ngoại hối có sự kết hợp giữa các biện pháp hành chính với các biện pháp kinh tế, trong đó các biện pháp kinh tế là chủ yếu.
Do HĐNH là một hoạt động kinh tế có mối liên hệ với nhiều chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng kinh tế …, chịu tác động của các quy luật kinh tế như quy luật cung-cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lư thông tiền tệ…. Vì vậy, các cơ quan quản lý HĐNH thường sử dụng các biện pháp kinh tế để điều chỉnh và tác động đến HĐNH của các chủ thể trong nền kinh tế. Mục tiêu và nguyên tắc * Mục tiêu: Đối với mỗi quốc gia, tùy từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể, Nhà nước đặt ra các mục tiêu của chính sách quản lý HĐNH khác nhau. Tuy nhiên, dù áp dung chính sách quản lý ngoại hối ngặt nghèo hay nới lỏng, các nước đều nhằm đạt những mục tiêu chung như sau: (i) Tập trung và sử dụng ngoại hối một cách hợp lý, hiệu quả, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
(ii) Cải thiện cán cân thanh toán. (iii) Bảo tồn, cải thiện quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước. * Nguyên tắc: Tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh của từng nước mà NHTW hoặc cơ quan tiền tệ các nước có chính sách và nguyên tắc riêng về chính sách quản lý HĐNH. Tuy nhiên, hầu hết các nước thực hiện chính sách quản lý HĐNH 15 theo các nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, nguyên tắc thanh khoản.
Nguyên tắc thanh khoản bao hàm ý nghĩa thực hiện chính sách quản lý HĐNH nhằm đảm bảo khả năng chuyển đổi đồng bản tệ hoặc tài sản ngoại hối ra ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ của nền kinh tế. Thứ hai, nguyên tắc an toàn.