Tổng quan luận án

Công tác chủ nhiệm lớp là một trong những hoạt động nghề nghiệp căn bản của người giáo viên, đóng vai trò giáo dục toàn diện học sinh và làm cầu nối giữa nhà trường, gia đình cùng các lực lượng xã hội. Trong tiến trình đào tạo giáo viên tại các trường đại học sư phạm, thực hành chủ nhiệm lớp tại trường phổ thông là khâu then chốt nhằm giúp sinh viên chuyển hóa tri thức lý luận từ các môn nghiệp vụ sư phạm (như Tâm lý học, Giáo dục học, Giao tiếp sư phạm) thành kỹ năng thực tế. Tuy nhiên, khi tiếp cận môi trường phổ thông, sinh viên sư phạm thường đối mặt với sự thay đổi môi trường hoạt động, áp lực từ yêu cầu chuẩn mực nghề nghiệp, đặc điểm tâm sinh lý phức tạp của học sinh trung học phổ thông và sự thiếu hụt kinh nghiệm thực tiễn. Những tác động này làm nảy sinh các khó khăn tâm lý, biểu hiện qua sự bỡ ngỡ, lúng túng, lo lắng hoặc thiếu tự tin, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hành nghề nghiệp.

Mặc dù vấn đề khó khăn tâm lý trong hoạt động dạy học và giao tiếp sư phạm đã được nhiều công trình đề cập, khoảng trống nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm — đặc biệt ở giai đoạn thực hành môn học nghiệp vụ đầu tiên — vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu và mang tính hệ thống tại Việt Nam. Đề tài luận án tiến sĩ tâm lý học của tác giả Đỗ Thị Thủy, thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Huệ, được triển khai nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống này.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác lập cơ sở lý luận, khảo sát đánh giá thực trạng mức độ, biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm; từ đó đề xuất các biện pháp tác động phù hợp nhằm hỗ trợ sinh viên giảm thiểu những khó khăn này, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên.

Hệ thống giả thuyết khoa học của luận án bao gồm:

  1. Đa số sinh viên sư phạm đều gặp khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp ở mức độ “trung bình”. Sinh viên gặp khó khăn tâm lý nhiều nhất trong việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để thực hiện giáo dục học sinh cá biệt, việc xây dựng hồ sơ và lập kế hoạch giáo dục học sinh cá biệt. Xét trong ba mặt nhận thức, thái độ, hành vi trong việc tìm hiểu đặc điểm cá nhân và tập thể lớp chủ nhiệm, lập kế hoạch chủ nhiệm lớp và tổ chức giờ sinh hoạt lớp định kỳ khi thực hành chủ nhiệm lớp tại trường phổ thông thì mặt hành vi biểu hiện khó khăn ở mức cao nhất. Có sự khác biệt rõ ràng về mức độ biểu hiện khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm theo kết quả học tập.
  2. Khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau. Trong đó, yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất thuộc về bản thân sinh viên là ý thức tự học hỏi, tự rèn luyện của bản thân sinh viên.
  3. Để giảm thiểu những khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm có thể sử dụng các biện pháp tác động vào nhận thức, thái độ và tác động vào hành vi, thói quen liên quan đến thực hành chủ nhiệm lớp cho sinh viên.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua 4 nội dung:

  1. Tổng quan, xây dựng cơ sở lý luận về khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm.
  2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng mức độ biểu hiện khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp và thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm.
  3. Phân tích sâu các trường hợp điển hình ở các nhóm sinh viên có khó khăn tâm lý ở mức thấp và trên trung bình cận cao.
  4. Đề xuất biện pháp nhằm hỗ trợ sinh viên giảm thiểu những khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là mức độ, biểu hiện khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn cụ thể:

  • Về nội dung: Thực hành chủ nhiệm lớp được tiến hành ba lần trong toàn bộ khóa đào tạo sư phạm (lần một là thực hành môn nghiệp vụ; lần hai là kiến tập sư phạm; lần ba là thực tập tốt nghiệp). Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở đợt thực hành lần thứ nhất, khi sinh viên xuống trường phổ thông thực hành các môn nghiệp vụ Tâm lý học và Giáo dục học. Về biểu hiện, luận án tập trung khảo sát 3 mặt: nhận thức, thái độ và hành vi trong 3 nhiệm vụ chủ nhiệm cơ bản (tìm hiểu đặc điểm cá nhân và tập thể lớp chủ nhiệm; lập kế hoạch chủ nhiệm lớp; tổ chức giờ sinh hoạt lớp định kỳ). Về các yếu tố ảnh hưởng, luận án khảo cứu 3 yếu tố chủ quan (ý thức tự học hỏi, tự rèn luyện; hứng thú nghề nghiệp; động cơ chọn nghề) và 4 yếu tố khách quan (nội dung, chương trình đào tạo; bầu không khí tâm lý trường phổ thông; phong cách làm việc của giáo viên hướng dẫn; tập thể học sinh phổ thông).
  • Về không gian: Khảo sát tại 3 cơ sở đào tạo đại học (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, Trường Đại học Hồng Đức) và 8 trường trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội và Thanh Hóa (THPT Xuân Đỉnh, THPT Xuân Phương, THPT Yên Hòa, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm Hà Nội, THPT Minh Khai, THPT Đại Mỗ, THPT Đông Sơn 1, THPT Quảng Xương 1).
  • Về thời gian: Khảo sát thực trạng được thực hiện từ tháng 03/2021 đến tháng 12/2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

Thứ nhất, các nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên. Trên bình diện quốc tế, Katz (1997) định danh năm đầu tiên đi làm của giáo viên là giai đoạn “sống sót” (survival stage), thời điểm giáo viên đối mặt với áp lực duy trì nghề nghiệp và tìm kiếm sự chấp nhận từ đồng nghiệp. Lang (2001) chỉ ra giáo viên mới tốt nghiệp gặp nhiều trở ngại về căng thẳng, mệt mỏi, mất cân bằng giữa công việc và đời sống do hạn chế tiếp cận các nguồn hỗ trợ. Titheradge và cộng sự (2019) nghiên cứu tại Tây Nam nước Anh ghi nhận 19% đến 20% giáo viên tiểu học trải qua căng thẳng tâm lý tiêu cực cao và kéo dài, gây tác động tiêu cực đến quan hệ thầy trò và kết quả học tập của học sinh. Tại Việt Nam, Trịnh Viết Then (2014) khảo sát stress ở giáo viên mầm non cho thấy 82,7% ở mức nhẹ, 14,1% không có biểu hiện và 3,2% ở mức nặng; tác giả nhận thấy kiểu ứng phó tìm kiếm sự hỗ trợ ít được giáo viên sử dụng. Phạm Mạnh Hà (2018) khảo sát 333 giảng viên tại Đại học Quốc gia Hà Nội, ghi nhận 90% bị stress mức độ trung bình (88,5% ở nam giới), trong đó nhóm có thâm niên 1 đến 5 năm chịu căng thẳng cao nhất do kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, dẫn đến 71% giảm sút khả năng tập trung và hay quên, 43% gặp khó khăn khi ra quyết định. Phạm Văn Hiếu (2018) khảo sát 38 giáo viên tiểu học tại Bà Rịa - Vũng Tàu với 18 tiêu chí, ghi nhận 11/18 tiêu chí có trên 50% giáo viên gặp khó khăn khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới. Nguyễn Thị Xuân Hương (2022) nghiên cứu trên 55 giáo viên mầm non, chỉ rõ các khó khăn trong xây dựng chế độ dinh dưỡng, tổ chức giấc ngủ và phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ.

Thứ hai, các nghiên cứu về biểu hiện khó khăn tâm lý trong thực hành, thực tập nghề của sinh viên sư phạm. Ph. Gonobolin (1979) khẳng định nếu thiếu hụt các phẩm chất tâm lý căn bản như sự thận trọng, tính lạc quan sư phạm và lòng yêu thương trẻ, người giáo viên sẽ gặp nhiều trở ngại tâm lý khi dạy học và giáo dục. Srutirupa Panda và Rabindra Nath Nayak (2014) chỉ rõ sinh viên sư phạm đối mặt với các khó khăn cốt lõi trong quản lý học sinh, duy trì kỷ luật lớp học và giao tiếp. Naltan Lampadan (2014) phát hiện các khó khăn của sinh viên tập trung ở khâu chuẩn bị, quản lý lớp và thiết lập quan hệ tại trường phổ thông. Trong nước, Nguyễn Thị Thanh Bình (2008) xác định 7 biểu hiện trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên thực tập tốt nghiệp: lúng túng khi điều khiển giao tiếp, chưa làm chủ trạng thái tâm lý, sợ mắc sai lầm sư phạm, không trùng hợp tâm thế, hiểu biết về học sinh chưa đầy đủ, sợ lớp học, thiếu tiếp xúc với học sinh. Phùng Thị Hằng (2006) phân loại khó khăn trong giao tiếp của sinh viên thành ba nhóm: xúc cảm - tình cảm, nhận thức và kỹ năng giao tiếp. Huỳnh Văn Sơn (2012) khảo sát thực tập sư phạm đợt 1 theo hình thức gửi thẳng của Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, chỉ ra hai nhóm vấn đề sinh viên thường xuyên gặp là chuyên môn và giao tiếp ứng xử. Trần Thị Thu Mai (2012) công bố tỷ lệ sinh viên gặp khó khăn tâm lý ở kỹ năng vận dụng phương pháp dạy học tích cực là 69,7%, kỹ năng chủ nhiệm lớp là 54,2% và kỹ năng triển khai bài dạy là 44,3%. Hoàng Trường Giang và cộng sự (2013) khái quát hai khó khăn trọng tâm là thích ứng môi trường nghề nghiệp và thích ứng với phân công lao động. Đoàn Thị Tỵ (2008) và Nguyễn Thị Liên (2011) tập trung vào các khó khăn tâm lý của sinh viên trong giải quyết bài tập tình huống sư phạm trên các mặt nhận thức, thái độ và kỹ năng xử lý. Hoàng Thị Bảo Ngọc (2015) khảo sát 5 khâu trong thực hành giảng dạy, khẳng định khâu lên lớp thực hiện bài giảng làm sinh viên gặp nhiều khó khăn tâm lý nhất do thay đổi vị thế xã hội. Nguyễn Thị Hiền (2009) và Nguyễn Thị Huệ (2009) chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa trí tuệ cảm xúc với sự thành công trong hình thành kỹ năng chủ nhiệm lớp của sinh viên. Đào Thị Oanh (2012) chỉ ra các hạn chế trong năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục của sinh viên do chương trình nặng lý thuyết, thiếu kỹ năng thực tế. Trần Thị Hương (2012) ghi nhận sinh viên lúng túng nhất ở khâu giáo dục học sinh chưa ngoan, đồng thời mức độ đánh giá khó khăn của sinh viên cao hơn đánh giá của giáo viên hướng dẫn. Phạm Thị Tuyết Nhung (2017) xác định 4 nhóm khó khăn trong công tác chủ nhiệm của sinh viên thực tập tiếng Pháp: tìm hiểu cách thức hoạt động nhà trường, tổ chức phong trào Đoàn, xây dựng kế hoạch tuần và giao tiếp với học sinh.

Thứ ba, các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng và biện pháp can thiệp. Darling-Hammond (2006) và Vincentas Lamanauskas (2013) nhấn mạnh sự thiếu hụt trong chuẩn bị tâm lý khiến sinh viên bỡ ngỡ trước môi trường làm việc thực tế. R. Chaplain (2008) tại Anh chỉ ra 3 yếu tố gây căng thẳng: quản lý hành vi học sinh, khối lượng công việc và thiếu sự hỗ trợ. John S. Mapfumo và cộng sự (2012) tại Zimbabwe xác định nguyên nhân gây stress gồm học sinh khó dạy, trợ cấp thấp, khối lượng công việc nặng và thiếu đồ dùng giảng dạy. Edith Kiggundu và Samuel Nayimuli (2009) chỉ rõ việc bố trí thực hành vào cuối năm học là thời điểm bất lợi do giáo viên hướng dẫn ngại chuyển giao lớp. Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2009) ghi nhận có khoảng 1/3 sinh viên chuyển biến thái độ theo hướng tiêu cực sau đợt thực hành tại cơ sở. Về giải pháp, Clemente Franco và cộng sự (2010) thực nghiệm can thiệp chánh niệm trên 68 giáo viên trung học cơ sở giúp giảm lo âu và căng thẳng. Ogoti Evans Okendo (2018) đề xuất tăng thời lượng quan sát thực tế và minh bạch hóa nhiệm vụ. Đoàn Thị Tỵ (2008) áp dụng hội thi nghiệp vụ, hội vui tâm lý và đóng vai giải quyết tình huống để giảm thiểu khó khăn tâm lý cho sinh viên. Nguyễn Văn Thanh (2015) đề xuất mô hình trường thực hành sư phạm; Phạm Phú Cam (2017) kiến nghị thành lập câu lạc bộ và thi nghiệp vụ sư phạm; Đầu Thị Thu (2020) đề xuất rèn luyện kỹ năng ứng xử qua môn Giao tiếp sư phạm.

Vị trí của luận án: Tổng quan tài liệu phản ánh rằng các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận khó khăn tâm lý ở khía cạnh giao tiếp chung, giải quyết tình huống sư phạm hoặc hoạt động giảng dạy bộ môn. Luận án của Đỗ Thị Thủy định vị khoảng trống còn bỏ ngỏ: đi sâu nghiên cứu khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp ở đợt thực hành môn học nghiệp vụ đầu tiên; phân tách rõ cấu trúc biểu hiện trên 3 mặt nhận thức, thái độ, hành vi gắn với 3 nhiệm vụ chủ nhiệm cụ thể và xác định mức độ tác động của hệ thống các yếu tố ảnh hưởng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng 4 phương pháp tiếp cận chuyên ngành Tâm lý học:

  1. Tiếp cận hoạt động - nhân cách (Tâm lý học Mác-xít): Hoạt động là phương thức hình thành, bộc lộ và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách con người. Khó khăn tâm lý của sinh viên sư phạm được xem xét trực tiếp thông qua các hành động, thao tác trong hoạt động thực hành chủ nhiệm lớp tại trường phổ thông.
  2. Tiếp cận liên ngành: Đặt đối tượng nghiên cứu dưới góc nhìn phối hợp giữa Tâm lý học giáo dục, Tâm lý học sư phạm, Tâm lý học lao động và Giáo dục học nhằm lý giải toàn diện các hiện tượng tâm lý nảy sinh trong môi trường học đường.
  3. Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Xem khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp là một chỉnh thể cấu trúc có mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữa 3 mặt nhận thức, thái độ và hành vi, đồng thời chịu sự tác động đan xen của các yếu tố chủ quan và khách quan.
  4. Tiếp cận phát triển (duy vật biện chứng): Nghiên cứu hiện tượng tâm lý trong sự vận động, biến đổi không ngừng theo từng giai đoạn lứa tuổi và tiến trình đào tạo, từ đó dự báo xu hướng biến đổi nhân cách nghề nghiệp.

Về khái niệm công cụ, luận án tổng hợp các cơ sở lý luận từ Rubinstein, Từ điển Tiếng Việt, Từ điển Giáo dục học, Luật Giáo dục đại học để xác định: Sinh viên sư phạm là người học tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm hoặc khoa sư phạm, có nhiệm vụ tích lũy tri thức, rèn luyện kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp để trở thành giáo viên. Hoạt động học tập của sinh viên sư phạm (dẫn theo quan điểm của Nguyễn Thạc, 2009) là hoạt động tâm lý có ý thức nhằm chuẩn bị trở thành chuyên gia toàn diện. Khái niệm khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm được xác lập là trạng thái tâm lý phản ánh sự cản trở chủ quan do sự mất cân đối giữa yêu cầu khách quan của nhiệm vụ chủ nhiệm lớp với năng lực, nhận thức, thái độ và hành vi thực tế của sinh viên, dẫn đến sự lúng túng, lo âu và làm giảm hiệu quả hoạt động nghề nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn của luận án kết hợp định lượng và định tính thông qua 8 phương pháp: nghiên cứu văn bản tài liệu; phương pháp chuyên gia; điều tra bằng phiếu hỏi; phương pháp quan sát; phỏng vấn sâu; nghiên cứu trường hợp điển hình; nghiên cứu sản phẩm hoạt động (hồ sơ chủ nhiệm, kế hoạch tuần, giáo án giờ sinh hoạt); xử lý số liệu bằng thống kê toán học (tính điểm trung bình - ĐTB, độ lệch chuẩn - ĐLC, tỷ lệ %, phân tích tương quan, kiểm định khác biệt và kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha).

Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ mẫu khách thể nghiên cứu được tổng hợp trong bảng sau:

Nhóm khách thể Đơn vị / Cơ sở công tác Số lượng Hình thức thu thập dữ liệu
Sinh viên sư phạm (khảo sát thực trạng) Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, Trường Đại học Hồng Đức 628 sinh viên Điều tra bằng phiếu hỏi
Giáo viên phổ thông hướng dẫn thực hành 8 trường THPT: Xuân Đỉnh, Xuân Phương, Yên Hòa, Nguyễn Bỉnh Khiêm Hà Nội, Minh Khai, Đại Mỗ (Hà Nội); Đông Sơn 1, Quảng Xương 1 (Thanh Hóa) 51 giáo viên Điều tra bằng phiếu hỏi
Sinh viên sư phạm (phỏng vấn sâu) Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (10 SV), Trường Đại học Thủ đô Hà Nội (10 SV) 20 sinh viên Phỏng vấn sâu cá nhân
Giáo viên phổ thông (phỏng vấn sâu) THPT Xuân Đỉnh, THPT Xuân Phương, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm Hà Nội 10 giáo viên Phỏng vấn sâu cá nhân
Giảng viên trường sư phạm Các khoa đào tạo thuộc trường đại học sư phạm 06 giảng viên Phỏng vấn sâu cá nhân

Toàn bộ các thang đo điều tra thực trạng (mức độ khó khăn tâm lý chung, các biểu hiện ở mặt nhận thức, mặt thái độ và mặt hành vi) đều được kiểm định độ tin cậy qua hệ số Cronbach’s Alpha trước khi tiến hành xử lý thống kê chính thức.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về khó khăn tâm lý trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên và thực hành sư phạm của sinh viên. Tác giả đối chiếu các yêu cầu nghề nghiệp theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học để xác lập hệ thống tiêu chuẩn đối với giáo viên chủ nhiệm THPT gồm 3 khối thành tố: (1) Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống (đạo đức nghề nghiệp, tình thương yêu học sinh, văn hóa ứng xử với đồng nghiệp và tác phong sư phạm); (2) Năng lực tổ chức, quản lý giáo dục tập thể và cá nhân học sinh (tiếp cận tích cực, tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp, giải quyết tình huống sư phạm, tiếp cận giáo dục học sinh cá biệt hoặc có hành vi tiêu cực, đánh giá học sinh, phối hợp các lực lượng giáo dục, xây dựng và quản lý hồ sơ chủ nhiệm); (3) Năng lực giao tiếp sư phạm (giao tiếp với cha mẹ học sinh, các lực lượng xã hội và giao tiếp trực tiếp với học sinh).

Chương 1 cũng trích dẫn nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình chỉ ra các khó khăn khách quan của công tác chủ nhiệm tại trường phổ thông: định mức thời gian theo quy định quá ít (chỉ 4 tiết/tuần) trong khi công việc thực tế đòi hỏi nhiều hơn; chương trình đào tạo sư phạm chỉ dành 4 tiết môn Giáo dục học cho nội dung chủ nhiệm lớp, dẫn đến thiếu hụt kỹ năng thực hành; nhà trường phổ thông thiếu cơ chế chỉ đạo và chia sẻ kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm; môi trường xã hội phức tạp, ý thức kỷ luật học sinh suy giảm. Về cấu trúc thực hành, luận án xác định quy trình thực hành chủ nhiệm gồm 3 đợt, trong đó đợt 1 gắn liền với thực hành môn học nghiệp vụ. Cấu trúc khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp được xây dựng dựa trên 3 mặt biểu hiện (nhận thức, thái độ, hành vi) qua 3 nhiệm vụ chủ nhiệm cơ bản (tìm hiểu học sinh và tập thể, lập kế hoạch, tổ chức giờ sinh hoạt lớp). Đồng thời, chương 1 xác lập khung phân tích 7 yếu tố ảnh hưởng gồm 3 yếu tố chủ quan (ý thức tự học hỏi/rèn luyện, hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề) và 4 yếu tố khách quan (chương trình đào tạo, bầu không khí tâm lý trường phổ thông, phong cách giáo viên hướng dẫn, tập thể học sinh).

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết kế hoạch tổ chức nghiên cứu và quy trình thiết kế bộ công cụ thực nghiệm. Khách thể khảo sát được lựa chọn mang tính đại diện tại 3 trường đại học đào tạo giáo viên và 8 trường THPT địa bàn Hà Nội và Thanh Hóa trong khung thời gian từ tháng 03/2021 đến tháng 12/2022.

Luận án xây dựng quy trình thao tác hóa các khái niệm lý luận thành các tiêu chí khảo sát thực tiễn. Thang đo phiếu hỏi được thiết kế theo thang đo Likert, đo lường mức độ khó khăn tâm lý chung, mức độ biểu hiện cụ thể trên 3 mặt nhận thức, thái độ, hành vi và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố. Hệ số Cronbach’s Alpha được tính toán cho từng tiêu chí và từng tiểu thang đo nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học của công cụ khảo sát. Bên cạnh phương pháp định lượng, chương 2 thiết kế hệ thống câu hỏi phỏng vấn sâu cho 20 sinh viên, 10 giáo viên phổ thông và 6 giảng viên sư phạm, kết hợp biên bản quan sát giờ sinh hoạt lớp và tiêu chí đánh giá các sản phẩm thực hành chủ nhiệm (sổ chủ nhiệm, kế hoạch giáo dục, biên bản sinh hoạt).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích số liệu khảo sát thực trạng:

  • Đánh giá chung về mức độ khó khăn tâm lý: Đa số sinh viên sư phạm gặp khó khăn tâm lý ở mức “trung bình”. Tỷ lệ sinh viên gặp khó khăn ở mức “thấp” chiếm số lượng nhỏ, và không ghi nhận sinh viên nào gặp khó khăn tâm lý ở mức “cao”. Đánh giá của giáo viên phổ thông hướng dẫn có sự tương đồng với tự đánh giá của sinh viên.
  • Biểu hiện theo nội dung nhiệm vụ: Sinh viên gặp khó khăn tâm lý nhiều nhất ở nội dung vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giáo dục học sinh cá biệt, xây dựng hồ sơ và lập kế hoạch giáo dục học sinh cá biệt. Các nội dung như tiếp cận tìm hiểu hoàn cảnh học sinh hay tổ chức hoạt động tập thể có mức độ khó khăn thấp hơn.
  • Biểu hiện qua 3 mặt tâm lý: Kết quả đo lường cho thấy biểu hiện khó khăn xuất hiện ở cả 3 mặt nhận thức, thái độ và hành vi. Trong đó, khó khăn ở mặt hành vi có điểm trung bình cao nhất, kế đến là mặt nhận thức và mặt thái độ. Phân tích tương quan khẳng định mối quan hệ thuận chặt chẽ giữa 3 mặt: những hạn chế về mặt nhận thức và thái độ thiếu tự tin chuyển hóa trực tiếp thành sự lúng túng trong hành vi thao tác sư phạm thực tế.
  • Khảo sát theo các biến nhân khẩu và học tập:
    • Xét theo kết quả học tập: Có sự khác biệt rõ rệt; sinh viên có kết quả học tập tốt ít gặp khó khăn tâm lý hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm sinh viên có kết quả học tập trung bình.
    • Luận án cũng trình bày chi tiết thực trạng mức độ khó khăn xét theo giới tính, ngành học và theo từng trường đại học đào tạo.
  • Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố: Trong hệ thống các yếu tố khảo sát, yếu tố thuộc về bản thân sinh viên là “ý thức tự học hỏi, tự rèn luyện của bản thân” được xác định là có ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ khó khăn tâm lý. Các yếu tố tiếp theo gồm hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề, phong cách của giáo viên hướng dẫn, nội dung chương trình đào tạo, bầu không khí tâm lý tại trường phổ thông và đặc điểm tập thể học sinh.
  • Phân tích trường hợp điển hình: Luận án đi sâu phân tích định tính 2 trường hợp cụ thể: một sinh viên có mức độ khó khăn tâm lý ở mức “Thấp” và một sinh viên có mức độ khó khăn tâm lý ở mức “Trên trung bình” (tiệm cận mức cao), làm rõ sự khác biệt về sự chuẩn bị tâm lý, kỹ năng ứng phó và tính tích cực cá nhân.
  • Hệ thống biện pháp can thiệp: Tác giả đề xuất 2 nhóm biện pháp chính: (1) Nhóm các biện pháp tác động vào nhận thức, thái độ của sinh viên (mục 3.6.1); (2) Nhóm các biện pháp tác động vào hành vi, thói quen của sinh viên trong quá trình thực hành chủ nhiệm lớp (mục 3.6.2).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã xây dựng khung lý luận chuyên biệt về khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm. Công trình đã xác lập định nghĩa thao tác, chỉ rõ cấu trúc biểu hiện của khó khăn tâm lý trên 3 mặt nhận thức, thái độ, hành vi gắn liền với các nhiệm vụ chủ nhiệm cụ thể trong đợt thực hành môn học nghiệp vụ đầu tiên; đồng thời hệ thống hóa các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến khó khăn này trong bối cảnh đào tạo giáo viên tại Việt Nam.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện từ 628 sinh viên sư phạm và 51 giáo viên phổ thông hướng dẫn:

  • Xác nhận phần lớn sinh viên gặp khó khăn tâm lý ở mức độ trung bình, không có sinh viên ở mức cao và ít sinh viên ở mức thấp.
  • Khẳng định mặt hành vi là mặt bộc lộ khó khăn tâm lý ở mức cao nhất trong 3 mặt biểu hiện.
  • Xác định điểm nghẽn lớn nhất của sinh viên nằm ở khâu vận dụng kiến thức, kỹ năng để giáo dục học sinh cá biệt, lập kế hoạch và hồ sơ giáo dục học sinh cá biệt.
  • Chứng minh sinh viên có kết quả học tập tốt ít gặp khó khăn tâm lý hơn sinh viên có kết quả học tập trung bình.
  • Xác định ý thức tự học hỏi, tự rèn luyện của sinh viên là yếu tố có mức độ ảnh hưởng lớn nhất trong tất cả các yếu tố chủ quan và khách quan.
  • Xây dựng hệ thống biện pháp tác động thực chứng chia thành 2 nhóm: tác động vào nhận thức, thái độ và tác động vào hành vi, thói quen nghề nghiệp.

Về kiến nghị, luận án đề xuất các cơ sở đào tạo sư phạm cần điều chỉnh chương trình, tăng cường thời lượng rèn luyện nghiệp vụ thực hành chủ nhiệm lớp (khắc phục thực trạng chỉ có 4 tiết lý thuyết trong môn Giáo dục học); tăng cường phối hợp chặt chẽ với các trường phổ thông thực hành nhằm tạo điều kiện cho sinh viên sớm thâm nhập thực tế học đường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án chỉ tập trung khảo cứu khó khăn tâm lý của sinh viên trong đợt thực hành chủ nhiệm lớp lần thứ nhất (thực hành môn học nghiệp vụ Tâm lý học và Giáo dục học), chưa khảo sát so sánh đối chiếu với các đợt thực hành tiếp theo như thực tập sư phạm lần 1 (kiến tập) và thực tập tốt nghiệp. Phạm vi khách thể khảo sát định lượng được giới hạn trong 628 sinh viên tại 3 trường đại học và 51 giáo viên tại 8 trường THPT thuộc Hà Nội và Thanh Hóa, chưa bao quát các vùng miền khác.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án định hướng mở rộng khách thể khảo sát ở các giai đoạn thực tập sư phạm tiếp theo trong tiến trình đào tạo nhằm theo dõi động thái biến đổi của khó khăn tâm lý theo thời gian đào tạo; đồng thời triển khai thực nghiệm sư phạm kiểm chứng hiệu quả thực tế của 2 nhóm biện pháp can thiệp đã đề xuất trên diện rộng.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tâm lý học giáo dục, Giáo dục học: Sử dụng khung lý luận, cấu trúc tiêu chí và hệ thống thang đo đã được kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về tâm lý nghề nghiệp sư phạm.
  • Cán bộ quản lý đào tạo tại các trường đại học sư phạm: Cung cấp căn cứ khoa học thực chứng để thiết kế chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm, cơ cấu lại thời lượng thực hành công tác chủ nhiệm lớp và xây dựng quy chuẩn đánh giá kết quả thực hành nghề nghiệp.
  • Giáo viên phổ thông hướng dẫn thực hành và sinh viên sư phạm: Giúp giáo viên hướng dẫn nhận diện các rào cản tâm lý của sinh viên (đặc biệt trong ứng xử với học sinh cá biệt) để có phương pháp định hướng phù hợp; giúp sinh viên chủ động chuẩn bị tâm thế, nâng cao ý thức tự rèn luyện trước khi bước vào đợt thực hành tại trường phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức độ khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm được luận án ghi nhận như thế nào? Kết quả khảo sát thực tiễn trên 628 sinh viên sư phạm và 51 giáo viên phổ thông hướng dẫn cho thấy: Đa số sinh viên gặp khó khăn tâm lý ở mức “trung bình”. Số lượng sinh viên gặp khó khăn ở mức “thấp” chiếm tỷ lệ nhỏ, và không ghi nhận trường hợp sinh viên nào gặp khó khăn tâm lý ở mức “cao”.

2. Nhiệm vụ thực hành chủ nhiệm lớp nào khiến sinh viên sư phạm gặp nhiều khó khăn tâm lý nhất? Sinh viên sư phạm gặp khó khăn tâm lý nhiều nhất trong việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để thực hiện giáo dục học sinh cá biệt, cũng như việc xây dựng hồ sơ và lập kế hoạch giáo dục đối với đối tượng học sinh này.

3. Trong ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi, mặt nào biểu hiện khó khăn tâm lý ở mức cao nhất? Khó khăn tâm lý biểu hiện ở cả 3 mặt, nhưng mặt hành vi là mặt có điểm biểu hiện khó khăn ở mức cao nhất. Tiếp theo sau mặt hành vi là mặt nhận thức, và cuối cùng là mặt thái độ. Ba mặt này có mối tương quan thuận chặt chẽ với nhau.

4. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên? Trong số các yếu tố chủ quan và khách quan được khảo sát, yếu tố thuộc về bản thân sinh viên là “ý thức tự học hỏi, tự rèn luyện của bản thân sinh viên” được đánh giá là có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp.

5. Luận án khảo sát thực trạng thực hành chủ nhiệm lớp ở đợt nào của tiến trình đào tạo giáo viên? Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở đợt thực hành chủ nhiệm lớp lần thứ nhất trong 3 đợt của tiến trình đào tạo. Đây là đợt sinh viên xuống trường phổ thông thực hành với tư cách là thực hành các môn học nghiệp vụ sư phạm (Tâm lý học, Giáo dục học).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Thị Thủy đã giải quyết một khoảng trống lý luận và thực tiễn về khó khăn tâm lý trong thực hành chủ nhiệm lớp của sinh viên sư phạm tại Việt Nam. Bằng việc phối hợp 8 phương pháp nghiên cứu trên mẫu khảo sát 628 sinh viên và 51 giáo viên phổ thông tại 8 trường THPT, luận án đã xác định đa số sinh viên gặp khó khăn ở mức trung bình, trong đó mặt hành vi bộc lộ khó khăn cao nhất và khâu giáo dục học sinh cá biệt là trở ngại lớn nhất. Kết quả nghiên cứu chứng minh ý thức tự học hỏi, rèn luyện của bản thân sinh viên giữ vai trò quyết định, đồng thời xác lập 2 nhóm biện pháp can thiệp có giá trị ứng dụng trực tiếp cho công tác đào tạo giáo viên tại các trường sư phạm hiện nay.