CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong lịch sử nghiên cứu tâm lý, khó khăn tâm lý nói chung và khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu, xem xét dưới nhiều góc độ, ở nhiều khách thể, nhiều lĩnh vực khác nhau. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trong thực tiễn, để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành hoạt động. Khi tiến hành hoạt động con người sẽ gặp phải những khó khăn ở những mức độ khác nhau.
Chính điều này ảnh hưởng lên kết quả hoạt động. Chủ thể hoạt động khi gặp khó khăn sẽ phải nỗ lực, tích cực, tìm ra nhiều cách thức để vượt qua, để đạt kết quả cuối cùng một cách hiệu quả nhất có thể. Những khó khăn này có thể do môi trường, do những hoàn cảnh khách quan tác động nhưng cũng có thể xuất phát từ chính bản thân chủ thể hoạt động gây nên và được gọi chung là những khó khăn trong quá trình hoạt động của con người. Trong những hoạt động sống đó của con người có hoạt động học tập.
Đối với con người, học tập là phương thức để tiếp thu tri thức, kỹ năng nhằm mục đích nhận biết, tác động, cải tạo thế giới hiện thực, phục vụ cho lợi ích của con người. Lịch sử loài người đã chứng minh, chỉ thông qua con đường học tập, thì những di sản văn hoá vật chất, tinh thần từ thế hệ trước mới được lưu truyền cho thế hệ sau và cũng nhờ đó mà những giá trị này mới còn tồn tại. Tuy nhiên, học tập không phải là một hoạt động đơn giản. Trong quá trình biến tri thức của nhân loại thành vốn kinh nghiệm riêng của cá nhân con người đã gặp không ít khó khăn, trong đó có những khó khăn về mặt tâm lý.
Khi bàn về những khó khăn tâm lý trong học tập, các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) là A.đã chỉ ra những khó khăn trong công tác giáo dục trẻ mầm non trong những công trình nghiên cứu của họ. Theo các tác giả này, những khó khăn thường nảy sinh với những giáo viên chưa được đào tạo về chuyên môn, họ thường gặp khó khăn trong việc điều khiển hoạt động học tập, trong đó có liên quan đến việc phân bố thời gian cho giờ học, sự lựa chọn phương pháp và cách thức tiến hành giờ học, sử dụng các phương tiện kỹ thuật đồ dùng dạy học, sự chuyển tải lưu lượng thông tin tới học sinh trong giờ học. Các tác giả 11 trên cũng chỉ ra rằng: mức độ khó khăn trong công tác của người giáo viên liên quan đến trình độ nghiệp vụ, thâm niên công tác, sự chuẩn bị bài giảng trước khi lên tiết học. Và để khắc phục những khó khăn phải đồng thời có sự vận hành của cả hệ thống giáo dục như: có sự cải cách giáo dục, tổ chức hệ thống trường, lớp đến tất cả các mặt khác nữa; các ngành các cấp cũng cần tăng cường công tác giáo dục trẻ tuổi mầm non; các ngành công nghiệp nhẹ chú ý trong việc sản xuất đồ chơi, đồ dùng, trang thiết bị phụ trách công tác giảng dạy và học mầm non; việc phát hành báo chí, phim ảnh, sân khấu, tuyên truyền qua hệ thống báo đài phục vụ công tác mầm non; đẩy mạnh việc kết hợp giữa nhà trường, gia đình và công tác tổ chức xã hội trong việc giáo dục trẻ [31].
Các tác giả đã nêu ra một loạt các yếu tố gây khó khăn cho quá trình giao tiếp nhưng cụ thể khó khăn tâm lý trong giao tiếp là gì và cách phân loại nó như thế nào thì các công trình này chưa đề cập đến [17]. Nhà tâm lý học Pháp Bianka Zazzo, cùng các cộng sự với công trình nghiên cứu: “Bước chuyển lớn từ mẫu giáo lên lớp một” đã góp phần quan trọng làm sáng tỏ thêm vấn đề khó khăn của học sinh lớp một ở nước Pháp. Xuất phát điểm của Bianka Zazzo là việc ở Pháp hàng năm có khoảng 20% học sinh phải lưu ban. Tỷ lệ này đã tồn tại nhiều năm, mặc dù ngành giáo dục Pháp đã có nhiều biện pháp giải quyết nhưng chưa có hiệu quả thực sự.
Theo nhóm tác giả, tình trạng này có nhiều nguyên nhân. Trong đó một số học sinh lớp 1 chưa thích ứng tốt và gặp nhiều khó khăn về tâm lý ở môi trường lớp một là nguyên nhân quan trọng. Nghiên cứu đã chỉ ra “khó khăn tâm lý lớn nhất mà trẻ gặp phải đã cản trở sự thích ứng với hoạt động học tập của trẻ là sự thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để”, gọi là chuyển dạng hoạt động chủ đạo. Các tác giả chỉ ra rằng: ở lớp mẫu giáo trẻ lấy hoạt động vui chơi làm chủ đạo, vừa học vừa chơi, hoạt động đa dạng, tính tự do tùy hứng cá nhân nặng hơn tính chỉ đạo của giáo viên.
Bước sang lớp một, hoạt động học tập là chủ đạo, học sinh phải nghiêm chỉnh thực hiện sự chỉ đạo chặt chẽ của giáo viên, theo nguyên tắc lớp học. Vì thế, trẻ nào vượt qua được khó khăn này thì sẽ học tốt, còn không vượt qua được thì sẽ chán học, kết quả học tập không cao. Công trình này ít giải quyết các vấn đề lý luận mà nhằm vào giải quyết các mặt thực tiễn của vấn đề và cũng chưa xác định được khái niệm khó khăn tâm lý [41, tr. Khi nghiên cứu vấn đề thích ứng của học sinh lớp một, C.
Sukina cho rằng, học sinh lớp một có gặp khó khăn tâm lý khi đến trường phổ thông và mức độ thích ứng với hoạt động học tập ở ba mức độ khác nhau: cao, trung bình, và thấp. Nghiên cứu cho rằng 12 những tác động không thuận lợi tạo ra khó khăn tâm lý cho trẻ lớp một là phương pháp giáo dục sai lầm của gia đình, trẻ không được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học, trẻ không thỏa mãn trong giao tiếp với người lớn, trẻ tự nhận thức không đúng về bản thân trong nhóm bạn, trình độ học vấn thấp của cha mẹ, sự biểu hiện thái độ không tích cực của giáo viên đối với trẻ. Theo tác giả, việc kế thừa phương pháp làm việc và quan hệ sư phạm đối với trẻ giữa cô bảo mẫu và giáo viên lớp một có vai trò quan trọng trong sự thích ứng của trẻ với nhà trường. Bởi vì theo tác giả, một trong những nguyên nhân cơ bản của việc khó thích ứng, xuất hiện những khó khăn là sự thay đổi đột ngột quan hệ của trẻ với giáo viên.
Các tác giả khác như: E. Xmonxki chỉ rõ sự cần thiết trong một số giai đoạn đào tạo nghề, phải hướng tới sự hình thành những kỹ năng cùng nhau phân tích tình huống, phương pháp phân tích tình huống cụ thể là phương pháp học tập tích cực và con đường đạt hiệu quả cao nhất trong việc đào tạo nghề. Qua thực tiễn đào tạo mầm non rất nhiều năm ở Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng: “Hoạt động có hiệu quả của giáo viên mầm non không thể thiếu sự lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp mà đặc biệt là những kiến thức tâm lý hoạt động của giáo viên mầm non, về các kỹ năng phân tích và xử lý các tình huống trong công tác”. Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận: Sự khắc phục khó khăn và lĩnh hội tay nghề sư phạm diễn ra trong quá trình giáo viên nghiên cứu tâm lý trẻ, làm sâu sắc và giàu có kiến thức, nâng cao trình độ văn hóa chung, hình thành kỹ năng và hiểu biết nghề nghiệp.
Điều quan trọng để đạt được những điều cơ bản trên là sự học tập, trau dồi nghiệp vụ, chuyên môn của các giáo sinh sư phạm mầm non. Các tác giả cũng chỉ ra tầm quan trọng phải làm là phải nâng cao hiệu quả đào tạo đội ngũ giáo viên mầm non, tổ chức việc thực tập sư phạm tốt hơn, hoàn thiện hơn công tác hướng nghiệp để tác động tích cực đến nâng cao tay nghề cho giáo viên [31, tr. Pêtrốpxki rất quan tâm đến sự thích ứng xã hội. Ông cho rằng sự thích ứng xã hội là quá trình thích nghi tích cực của cá nhân hoặc tập thể (lớp, nhóm) với các điều kiện vật chất, các tiêu chuẩn và giá trị được xác định của môi trường xã hội.
Trong đó, cá nhân, tập thể đó phải nắm được các tiêu chuẩn và giá trị của môi trường trong quá trình xã hội hóa, cũng như trong quá trình thay đổi và cải tạo môi trường cho phù hợp với điều kiện và mục đích mới của hoạt động. Nghiên cứu khó khăn tâm lý trẻ em khi vào lớp một ông đã chia thành: Những khó khăn liên quan đến đặc điểm chế độ học tập mới; Những khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ giao tiếp mới với thầy cô giáo và bạn bè; Khó khăn với việc thích nghi với hoạt động mới. Lúc đầu trẻ được sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường và xã 13 hội nên có tâm lý vui thích và sẵn sàng đi học, về sau hứng thú học tập giảm dần và trẻ chán học. Tác giả có đề cập đến những nguyên nhân dẫn đến khó khăn và ảnh hưởng của những khó khăn nêu trên đến đời sống của trẻ, và đề xuất một số biện pháp giải quyết khó khăn cho trẻ.
Tuy nhiên khách thể nghiên cứu vẫn chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu học sinh lớp một. Theo nhà tâm lý học Mauricé Deberse trong công trình nghiên cứu khó khăn tâm lý của trẻ đã chỉ ra rằng: đứng trước ngưỡng cửa lớp một, trẻ em gặp rất nhiều khó khăn tâm lý. Điều này đã ảnh hưởng đến sự thích ứng với hoạt động học tập, làm cho trẻ sợ học, không muốn tới trường và kết quả học tập không cao. Ballard và Clauchy (1985) đã chỉ ra những khó khăn tâm lý trong quá trình học tập của từng sinh viên Châu Á khi học tại các trường Đại học của Úc.
Hai tác giả đã khẳng định: sinh viên đến từ các nền văn hóa khác nhau thường đặt ra các mục tiêu khác nhau trong cách nghĩ và cách học của họ. Hầu hết sinh viên nghĩ và học theo cách mà họ đã được đào tạo ở trường phổ thông và đại học vì vậy họ có thể thành công ở môi trường và đất nước của họ nhưng lại gặp thất bại ở đất nước khác, môi trường học tập khác. Các tác giả kết luận: sinh viên cần phải có một sự chuyển biến lớn giữa các nền văn hóa, kiến thức khác nhau để thích ứng với môi trường học tập mới [50].