Luận văn khảo sát tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Khảo sát tình hình kháng thuốc của vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, cung cấp thông tin quan trọng cho y tế.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Công Nghệ Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2021

58
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

CÁC DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

1.1. Mục tiêu của đề tài

1.2. Yêu cầu của đề tài

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan về bệnh truyền nhiễm

2.1.1. Khái niệm về bệnh truyền nhiễm

2.1.2. Đối tượng và hậu quả bệnh truyền nhiễm

2.1.3. Các bệnh truyền nhiễm thường gặp

2.2. Tổng quan về đề kháng kháng sinh

2.2.1. Định nghĩa của kháng sinh và cơ chế tác động của kháng sinh

2.2.1.1. Ức chế sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn
2.2.1.2. Gây rối loạn chức năng màng bào tương
2.2.1.3. Ức chế tổng hợp axit nucleotic
2.2.1.4. Ức chế tổng hợp protein

2.2.2. Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

2.2.2.1. Phân loại đề kháng kháng sinh
2.2.2.2. Cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn
2.2.2.3. Cơ chế lan truyền đề kháng
2.2.2.4. Các cơ kháng kháng sinh khác của vi khuẩn

3. ĐỐI TƯỢNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Dụng cụ, hóa chất và thiết bị sử dụng

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp nghiên cứu hồi cứu hồ sơ bệnh án từ tháng 05 - 12/2020

3.4.2. Phương pháp phân lập, xác định vi khuẩn trên các bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên từ tháng 01/2021 – 05/2021

3.4.3. Làm kháng sinh đồ

3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kết quả khảo sát một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh truyền nhiễm trên bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên từ tháng 05/2020 đến tháng 05/2021

4.2. Kết quả khảo sát dịch tễ học của bệnh truyền nhiễm tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên về giới tính

4.3. Kết quả khảo sát tình hình kháng thuốc của một số loại vi khuẩn chính phân lập tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên

4.3.1. Kết quả khảo sát tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Escherichia coli

4.3.2. Kết quả khảo sát tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Staphylococcus aureus

4.3.3. Kết quả khảo sát tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Streptococcus pneumoniae

4.3.4. Kết quả khảo sát tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa

4.3.5. Kết quả khảo sát tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Klebsiella pneumonae

4.3.6. Kết quả khảo sát tình hình kháng thuốc của vi khuẩn Acinetobacter baumannii

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình kháng thuốc và nhiễm trùng bệnh viện

Kháng thuốc là một vấn đề nghiêm trọng trong y học hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh nhiễm trùng bệnh viện. Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, một cơ sở y tế lớn ở khu vực Đông Bắc Việt Nam, đang đối mặt với thách thức này. Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát tình hình kháng thuốc của các vi khuẩn gây bệnh tại bệnh viện này. Nhiễm trùng bệnh viện không chỉ làm tăng chi phí điều trị mà còn dẫn đến tỷ lệ tử vong cao hơn. Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý đã thúc đẩy sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc, gây khó khăn trong điều trị nhiễm trùng.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của kháng thuốc

Kháng thuốc xảy ra khi vi khuẩn phát triển khả năng chống lại tác dụng của kháng sinh. Đây là một mối đe dọa toàn cầu, đặc biệt trong môi trường bệnh viện. Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên là nơi tập trung nhiều bệnh nhân nặng, làm tăng nguy cơ lây lan các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Nghiên cứu này nhằm cung cấp dữ liệu về tình hình kháng thuốc để hỗ trợ các biện pháp kiểm soát hiệu quả.

1.2. Tác động của nhiễm trùng bệnh viện

Nhiễm trùng bệnh viện gây ra hậu quả nghiêm trọng, bao gồm kéo dài thời gian nằm viện, tăng chi phí điều trị và tỷ lệ tử vong. Các vi khuẩn kháng thuốc như E. coli, S. aureus, và P. aeruginosa thường xuất hiện trong các ca nhiễm trùng này. Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cho thấy sự cần thiết của việc giám sát và quản lý sử dụng kháng sinh để giảm thiểu rủi ro.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả khảo sát

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kháng sinh đồ để đánh giá tình hình kháng thuốc của các vi khuẩn gây bệnh. Dữ liệu được thu thập từ tháng 05/2020 đến tháng 05/2021 tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Kết quả cho thấy tỷ lệ kháng thuốc cao ở các chủng vi khuẩn như E. coli, S. aureus, và P. aeruginosa. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc cải thiện quy trình sử dụng kháng sinh và tăng cường biện pháp phòng ngừa nhiễm trùng bệnh viện.

2.1. Phương pháp kháng sinh đồ

Kháng sinh đồ là phương pháp chính được sử dụng để xác định mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với các loại kháng sinh. Nghiên cứu này tuân thủ tiêu chuẩn của CLSI (Clinical and Laboratory Standards Institute) để đảm bảo độ chính xác. Kết quả cho thấy sự đa dạng trong kháng thuốc kháng sinh của các chủng vi khuẩn, đặc biệt là E. coliS. aureus.

2.2. Kết quả khảo sát tình hình kháng thuốc

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kháng thuốc cao ở các chủng vi khuẩn như E. coli (kháng ampicillin lên đến 80%), S. aureus (kháng methicillin lên đến 60%), và P. aeruginosa (kháng ceftazidime lên đến 50%). Điều này cho thấy sự cần thiết của việc cải thiện quy trình sử dụng kháng sinh và tăng cường biện pháp phòng ngừa nhiễm trùng bệnh viện.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp dữ liệu quan trọng về tình hình kháng thuốc tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, giúp các nhà quản lý y tế đưa ra các biện pháp hiệu quả để kiểm soát nhiễm trùng bệnh viện. Kết quả cũng góp phần nâng cao nhận thức về việc sử dụng kháng sinh hợp lý, giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc vi khuẩn trong tương lai.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu cung cấp thông tin chi tiết về tình hình kháng thuốc của các vi khuẩn gây bệnh, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này. Dữ liệu thu thập được cũng giúp hiểu rõ hơn về cơ chế kháng thuốc và sự lây lan của các chủng vi khuẩn kháng thuốc.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để cải thiện quy trình sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc kháng sinh. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phòng ngừa nhiễm trùng bệnh viện trong cộng đồng y tế.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Sau sự ra đời kháng sinh Penicillin đã đánh dấu cho kỷ nguyên phát triển của y học về điều trị nhiễm khuẩn và hàng loạt thuốc kháng sinh ra đời ngay sau đó nhằm phục vụ cho điều trị nhiễm trùng cho bệnh nhân. Thì qua thời gian sử dụng đã có những chuyển biến tiêu cực sai khi sử dụng kháng sinh đã được phát hiện. Trên thực tế, vi trùng sẽ luôn tìm cách để tồn tại và kháng lại các loại thuốc mới. Ngày càng có nhiều vi trùng chia sẻ sức đề kháng của chúng với nhau khiến chúng ta khó theo kịp.

Theo báo cáo về tình hình kháng thuốc ở Việt Nam của Bộ Y tế vào năm 2016 cho thấy Việt Nam là của chúng ta đang là một trong những quốc gia có tỷ lệ đề kháng kháng sinh cao nhất thế giới, với tỷ lệ bệnh nhân kháng thuốc lên tới 33%[16]. Qua thời gian sử dụng thuốc kháng sinh rất hiệu quả đối với việc chống vi khuẩn nhiễm khuẩn thì việc sử dụng tự phát và lạm dụng thuốc quá mức dẫn đến các vấn đề gây ảnh hưởng trực tiếp tới người sử dụng và toàn xã hội như vi khuẩn kháng thuốc ngày càng gia tăng. Đặc biệt, tình hình kháng thuốc xuất hiện nhiều ở nơi tập trung nhiều bệnh nhân như là bệnh viện. Thực sự, các vi sinh vật kháng kháng sinh đang là mối đe dọa và e ngại chung của toàn cầu.

Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên là một trong số bệnh viện lớn trong khu vực Phía Đông Bắc Việt Nam, tập trung số lượng bệnh nhân nặng và là tuyến cuối của các bệnh viện cơ sở trong khu vực nên là nơi nghi ngờ có khả năng kháng thuốc cao. Nhiễm trùng bệnh viện không những làm tăng thêm số ngày nằm viện, chi phí điều trị của bệnh nhân mà còn tăng nguy cơ đa kháng thuốc, nhất là kháng sinh tăng tỷ lệ tử vong cao cho bệnh nhân. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài "Khảo sát tình hình kháng thuốc của 2 một số vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên".2 Mục tiêu của đề tài Khảo sát được tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.3 Yêu cầu của đề tài - Khảo sát được một số đặc điểm dịch tễ học của vi khuẩn gây bệnh trên các bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 5/2020 đến tháng 5/2021. - Đánh giá được tình hình kháng thuốc của một số loại vi khuẩn phân lập tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 5/2020 đến tháng 5/2021.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.

Ý nghĩa khoa học - Cung cấp thông tin về một số đặc điểm dịch tễ học của một số vi khuẩn gây bệnh chính ở người bệnh và tình hình kháng thuốc kháng sinh của các vi khuẩn này từ tháng 5/2020 đến tháng 5/2021. - Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp nguồn tài liệu khoa học phục vụ cho các nghiên cứu khác cùng lĩnh vực. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả đánh giá tính kháng thuốc ở từng mẫu bệnh phẩm sẽ góp phần điều trị hiệu quả bệnh truyền nhiễm ở bệnh nhân, đồng thời góp phần giảm thiểu nguy cơ gia tăng tính kháng thuốc ở vi khuẩn và sự phát tán của vi khuẩn kháng thuốc ra cộng đồng. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về bệnh truyền nhiễm 2.1 Khái niệm về bệnh truyền nhiễm Bệnh truyền nhiễm là bệnh do vi sinh vật gây ra.

Mỗi một bệnh truyền nhiễm do một loại mầm bệnh gây nên. Bệnh truyền nhiễm có khả năng lây truyền từ người bệnh sang người khỏe bằng nhiều con đường khác nhau như qua đường thức ăn, máu, da, đường hô hấp,… Sau khi lây truyền có thể phát triển thành dịch [5].2 Đối tượng và hậu quả bệnh truyền nhiễm Tất cả mọi người đều có thể trở thành các bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm. Đặc biệt, tất cả các bệnh nhân đến điều trị tại bệnh viện, các bác sỹ, cán bộ làm trong các cơ sở y tế có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm cao hơn so với bên ngoài. Do đó, bệnh truyền nhiễm là một trong những vấn đề lớn của truyền nhiễm học trên toàn thế giới.

Nó có ý nghĩa to lớn và luôn đặt ra yêu cầu đối với mọi cán Bộ Y tế. Các bệnh truyền nhiễm đang là mối đe dọa khẩn cấp tới sức khỏe cá nhân nói riêng và cộng đồng nói chung. Làm tăng chi phí điều trị cho bệnh nhân, tăng số ngày nằm viện và nguy cơ mắc nhiều bệnh khác nhau. Đặc biệt tỷ lệ tử vong sau khi mắc bệnh truyền nhiễm cũng tăng lên nhanh chóng.

Cho thấy, bệnh truyền nhiễm đang là mối đe dọa đối với sức khỏe cộng đồng ở tất cả các nước trên thế giới[17]. Các bệnh truyền nhiễm thường gặp Dựa vào thực trạng hiện nay trên thế giới, bệnh truyền nhiễm được phân làm ba nhóm bệnh truyền nhiễm chính, đó là: Nhóm đầu tiên là nhóm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, tốc độ lây truyền nhanh chóng, phát tán rộng, có nguy có bùng dịch, tỉ lệ tử vong 4 cao hay là xuất hiện những bệnh lý chưa xác định rõ nguyên nhân như là cúm A-H5N1, bệnh sốt xuất huyết do virus Ebola,… Nhóm thứ hai là nhóm bệnh gồm các bệnh lý truyền nhiễm nguy hiểm, tốc độ lây lan nhanh, có khả năng gây tử vong. Ở nhóm này, các bệnh lý có độ nguy hiểm thấp hơn nhóm đầu. Một số bệnh lý điển hình của nhóm thứ hai thường gặp là cúm, bệnh dại, sởi, lao phổi… Nhóm thứ ba là nhóm bệnh gồm các bệnh truyền nhiễm ít nguy hiểm, tốc độ lây lan chậm nhất trong ba nhóm.

Một số bệnh điển hình là viêm miệng, viêm họng,…[5] 2. Tổng quan về đề kháng kháng sinh 2. Định nghĩa của kháng sinh và cơ chế tác động của kháng sinh Theo Bộ Y Tế năm 2015, kháng sinh (antibiotic) là những chất kháng khuẩn được tạo ra từ các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, antinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác [2]. Hay theo Lê Hồng Minh vào năm 2009, kháng sinh còn có định nghĩa khác là: "Kháng sinh (antibiotic) là những hợp chất ngay ở nồng độ thấp đã có khả năng ức chế, hoặc tiêu diệt vi khuẩn một cách đặc hiệu, bằng cách gây rối loạn phản ứng sinh học ở tầm phân tử (nồng độ thấp: nồng độ điều trị nhỏ hơn nhiều lần so với liều độc với cơ thể; đặc hiệu: mỗi kháng sinh chỉ có tác dụng trên một loại vi khuẩn hay một nhóm vi khuẩn[8].

Cơ chế tác động của kháng sinh 2. Ức chế sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn Các kháng sinh nhóm fosfomycin, beta - tactam và vancomycin ngăn cản sinh tổng hợp lớp peptidoglycan nên không tạo được khung murein - khiến vách không được hình thành. Khi đó các tế bào con sinh ra và phát triển không có vách chúng sẽ không sinh sản được vừa dễ bị li giải hoặc bị tiêu diệt, đặc biệt với vi khuẩn Gram dương. Qua đó, những kháng sinh này 5 có tác dụng diệt khuẩn nhưng chỉ với những tế bào đang phát triển (degenerative bactericide)[2].2 Gây rối loạn chức năng màng bào tương Chức năng đặc biệt quan trọng của màng bào tương là thẩm thấu chọn lọc; khi bị rối loạn các thành phần (ion) bên trong tế bào bị thoát ra ngoài và nước từ bên ngoài ào ạt vào trong, dẫn tới chết, ví dụ colistin, polymyxin B.

Với cơ chế tác động, polymyxin sẽ có tác dụng diệt khuẩn tuyệt đối (absolute bactericide), giết cả tế bào đang nhân lên và cả tế bào ở trạng thái nghỉ không nhân lên[2]. Ức chế tổng hợp axit nucleotic Gồm 3 cấp độ: - Gián đoạn hoặc ngăn cản sự sao chép ADN mẹ tạo ADN con, ví dụ do kháng sinh gắn vào enzym gyrase làm ADN không mở được vòng xoắn, như nhóm quinolon. - Ngăn cản quá trình sinh tổng hợp ARN - Ức chế sinh tổng hợp các chất chuyển hóa cần thiết cho tế bào phát triển: quá trình sinh tổng hợp acid folic - coenzym cần cho quá trình tổng hợp các purin và pyrimidin (và một số acid amin) bị ngăn cản bởi sulfamid và trimethoprim. Mỗi kháng sinh sẽ chỉ tác động lên một vị trí nhất định trong thành phần cấu tạo, ảnh hưởng đến một khâu nhất định trong các phản ứng sinh học khác nhau của tế bào vi khuẩn, dẫn đến ngừng trệ sinh trưởng và phát triển của tế bào.

Khi vi khuẩn không bị li giải, không phát hiện và tiêu diệt, thì ngay sau khi kháng sinh không còn tác động tới (ngừng thuốc) vi khuẩn sẽ có thể hồi phục/sống trở lại (reversible). Chỉ cần 1 tế bào vi khuẩn còn sống sót, với tốc độ sinh sản nhanh, thì sau vài giờ số lượng tế bào vi khuẩn đã phát triển cực 6 kì nhanh và không thể đếm được (ví dụ: E.coli nếu 20p "đẻ từ 1 lứa" thì sau 5 giờ: từ 1 tế bào mẹ ban đầu phát triển thành 215 tế bào và sau 10 giờ thì có thể lên tới 230 - hoặc hơn 1 tỷ); sẽ nguy hiểm hơn nếu tế bào sống sót đó đề kháng kháng sinh. Ức chế tổng hợp protein Tham gia sinh tổng hợp protein ngoài ribosom còn có các ARN thông tin và các ARN vận chuyển. Điểm tác động là ribosom 70S của vi khuẩn: tại tiểu phần 30S (Ví dụ như aminoglycosid nơi ARN thông tin trượt qua, tetracyclin nơi ARN vận chuyển mang acid amin tới hoặc tại tiểu phần 50S nơi acid amin liên kết tạo polypeptid như erythromycin, cloramphenicol, clindamycin.

Kết quả là các phân tử protein không được hình thành hoặc được tổng hợp nhưng không có hoạt tính sinh học làm ngừng trệ quá trình sinh trưởng và phát triển[2].3 Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn 2.1 Phân loại đề kháng kháng sinh a, Đề kháng giả: Đề kháng giả là có biểu hiện là đề kháng nhưng không phải là bản chất, tức là không do nguồn gốc di truyền. Khi vào cơ thể tác dụng của kháng sinh phụ thuộc vào 3 yếu tố là kháng sinh - người bệnh - vi khuẩn. Đề kháng giả có thể do một trong ba yếu tố hoặc có thể kết hợp hai hay thậm chí cả 3 yếu tố. Vì vậy, nếu việc điều trị bằng kháng sinh không thành công, cần phải xem xét sự thất bại từ cả 3 yếu tố này.

Do kháng sinh: các kháng sinh được lựa chọn không đúng để điều trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khảo sát tình hình kháng thuốc của vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá mức độ kháng thuốc của các vi khuẩn gây nhiễm trùng trong môi trường bệnh viện. Tài liệu này cung cấp thông tin chi tiết về các chủng vi khuẩn phổ biến, tỷ lệ kháng thuốc và đề xuất các biện pháp kiểm soát hiệu quả. Điều này giúp các nhà quản lý y tế và bác sĩ có cái nhìn tổng quan để cải thiện công tác phòng chống nhiễm khuẩn, giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc và nâng cao chất lượng điều trị.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị tiên tiến, bạn có thể tham khảo Luận án xây dựng quy trình điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc tự thân từ mô mỡ, hoặc tìm hiểu thêm về ứng dụng tế bào gốc trong điều trị bệnh lý khác qua Luận án nghiên cứu kết quả của phương pháp ghép tế bào gốc tuỷ xương tự thân điều trị bệnh nhân xơ gan. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong cắt khối tá tụy điều trị ung thư quanh bóng vater cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại.