Tổng quan luận án
Bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) là bệnh lý đặc trưng bởi tình trạng một phần hoặc toàn bộ chi dưới không được cung cấp đầy đủ máu nuôi dưỡng do quá trình tắc hẹp động mạch mạn tính, trong đó nguyên nhân chủ yếu là xơ vữa động mạch. Theo các số liệu dịch tễ được tổng hợp trong luận án, số lượng người mắc BĐMCDMT trên toàn cầu có xu hướng gia tăng nhanh chóng: từ khoảng 202 triệu người vào năm 2010 (tăng 25% so với năm 2000) lên khoảng 236–262 triệu người vào năm 2015 (tăng 29% so với năm 2010), trong đó có 72–91% người bệnh sinh sống tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.
Trong thực hành lâm sàng, tổn thương tắc hẹp động mạch chi dưới mạn tính đa tầng (THĐMCDMTĐT) chiếm tới 2/3 tổng số người bệnh có biểu hiện lâm sàng nặng. Tình trạng bệnh lý này xuất hiện khi tổn thương tắc hoặc hẹp xảy ra đồng thời trên từ hai tầng giải phẫu trở lên (tầng chủ - chậu, tầng đùi - khoeo, tầng dưới gối). Người bệnh THĐMCDMTĐT thường nhập viện ở giai đoạn muộn với các biểu hiện thiếu máu mạn tính đe dọa chi (CLTI) như đau khi nghỉ, loét hoặc hoại tử chi, đối mặt với nguy cơ cắt cụt chi và tử vong cao.
Mặc dù kỹ thuật can thiệp nội mạch đã phát triển mạnh và từng bước thay thế phẫu thuật mở đối với nhiều dạng tổn thương mạch máu, các nghiên cứu riêng biệt tại Việt Nam nhằm đánh giá hiệu quả toàn diện của can thiệp nội mạch trên nhóm người bệnh THĐMCDMTĐT vẫn còn hạn chế về số lượng và mức độ bằng chứng. Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu và yêu cầu thực tiễn đó, nghiên cứu sinh Trịnh Vũ Nghĩa đã thực hiện luận án tiến sĩ y học với đề tài: "Đánh giá kết quả tái thông mạch trong điều trị bệnh lý tắc hẹp động mạch chi dưới mạn tính đa tầng".
Luận án thuộc chuyên ngành Ngoại Lồng ngực (Mã số: 62.05), thực hiện tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của cán bộ hướng dẫn là Nguyễn Hoàng Định, hoàn thành và bảo vệ vào năm 2023.
Nghiên cứu xác định hai mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá kết quả sớm và kết quả muộn tái thông mạch bằng can thiệp nội mạch điều trị bệnh THĐMCDMTĐT tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
- Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tái thông mạch bằng can thiệp nội mạch trên người bệnh THĐMCDMTĐT.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm các người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh lý tắc hẹp động mạch chi dưới mạn tính đa tầng và được thực hiện điều trị tái thông mạch bằng phương pháp can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh lý động mạch chi dưới mạn tính đa tầng theo các giai đoạn phát triển của kỹ thuật điều trị ngoại khoa và can thiệp nội mạch:
-
Giai đoạn trước năm 2000 (Thời kỳ ưu thế của phẫu thuật mở):
- Royster (1976) nghiên cứu trên 53 người bệnh tắc động mạch chủ - chậu phối hợp tắc động mạch đùi được làm cầu nối chủ - chậu và ghi nhận việc tái thông tầng chủ - chậu đã đủ giải quyết triệu chứng thiếu máu mà không cần can thiệp tầng đùi - khoeo.
- Brewster (1981) khảo sát 181 người bệnh tắc hẹp tầng chủ - chậu và nhận thấy có 49% trường hợp có tắc hoàn toàn động mạch đùi kèm theo.
- Dalman (1991) thực hiện tái thông toàn bộ các tổn thương bằng phẫu thuật mở trên 62 người bệnh THĐMCDMTĐT, ghi nhận tỷ lệ giảm triệu chứng vượt trội so với nhóm chỉ tái thông một tầng chủ - chậu.
- Nghiên cứu hồi cứu năm 1995 trên 450 người bệnh đã so sánh phẫu thuật tái thông tầng chủ - chậu và đùi - khoeo theo phương thức 1 thì hoặc 2 thì, đưa ra khuyến nghị phân chia thì phẫu thuật dựa trên mức độ phức tạp của tổn thương tầng đùi - khoeo.
-
Giai đoạn 2000–2010 (Thời kỳ tiếp cận phối hợp Hybrid):
- Faries (2001) đánh giá 126 người bệnh được can thiệp nội mạch động mạch chậu phối hợp phẫu thuật mở làm cầu nối đùi - khoeo, khẳng định tính hiệu quả của phương pháp phối hợp.
- Miyahara (2005) so sánh phẫu thuật mở hoàn toàn với phương pháp phối hợp can thiệp động mạch chậu và làm cầu nối đùi - khoeo, ghi nhận hiệu quả lâm sàng tương đương nhưng phương pháp phối hợp làm giảm tỷ lệ biến chứng.
- Carlos A. Rueda (2008) thống kê trên 450 người bệnh thiếu máu mạn tính đe dọa chi được tái thông mạch thấy tỷ lệ THĐMCDMTĐT chiếm 38%.
- Ugur Ozkan (2009) nghiên cứu 626 người bệnh BĐMCDMT, chỉ ra có 64% người bệnh thuộc nhóm đa tầng, trong đó hình thái phối hợp đùi - khoeo và dưới gối là phổ biến nhất.
-
Giai đoạn từ năm 2011 đến nay (Mở rộng can thiệp nội mạch và tầng dưới gối):
- Nathan Fernandez (2011) nghiên cứu hồi cứu trên 123 người bệnh (136 chi) tắc đa tầng đùi - khoeo và dưới gối được can thiệp nội mạch, chứng minh can thiệp đa tầng giúp tăng lưu lượng tưới máu, rút ngắn thời gian lành vết thương và cải thiện tỷ lệ bảo tồn chi.
- Daijirou Akamatsu (2017) can thiệp nội mạch tầng chủ - chậu (có bóc nội mạc động mạch đùi chung bổ trợ) cho 29 người bệnh tắc chủ - chậu và đùi - khoeo, kết luận tái thông tầng chủ - chậu là đủ cho người bệnh giai đoạn Rutherford 3, 4, 5, trong khi giai đoạn Rutherford 6 đòi hỏi phải can thiệp thêm tầng đùi - khoeo.
- Hyuk Jae Jung (2018) và Ahmed Elbadawy ghi nhận can thiệp nội mạch kết hợp bóc nội mạc động mạch đùi chung đạt tỷ lệ thành công kỹ thuật cao, cải thiện tốt huyết động, giảm tỷ lệ cắt cụt chi và biến chứng.
- David Barilla phân tích kết quả phối hợp can thiệp tầng đùi - khoeo với làm cầu nối khoeo - bàn chân.
- Soon Cheon Lee (2018) nghiên cứu 134 người bệnh THĐMCDMTĐT được tái thông phối hợp trên cả 3 tầng mạch máu, ghi nhận chỉ số huyết áp cổ chân - cánh tay (ABI) tăng rõ rệt và tỷ lệ sống bảo tồn chi sau 12 tháng đạt 97,1%.
-
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
Luận án tập trung đánh giá kết quả can thiệp nội mạch điều trị BĐMCDMT đa tầng trong điều kiện lâm sàng tại Việt Nam, theo dõi đồng thời kết quả sớm chu phẫu và kết quả muộn sau 2 năm (bao gồm tỷ lệ lành vết thương, tỷ suất bảo tồn chi, tỷ suất sống còn), đồng thời áp dụng các mô hình thống kê đa biến để xác định các yếu tố nguy cơ độc lập ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở lý thuyết và phân loại bệnh học
Luận án dựa trên cơ sở giải phẫu mạch máu chi dưới được phân chia theo Rutherford thành 3 tầng chức năng:
- Tầng chủ - chậu: Động mạch chủ bụng dưới thận, động mạch chậu chung, động mạch chậu ngoài và động mạch chậu trong (động mạch hạ vị).
- Tầng đùi - khoeo: Động mạch đùi chung, động mạch đùi sâu, động mạch đùi nông và động mạch khoeo (chia thành 3 đoạn: trên gối, ngang gối và dưới gối).
- Tầng dưới gối: Động mạch chày trước (tiếp nối thành động mạch mu chân), động mạch chày sau (chia thành động mạch gan chân trong và gan chân ngoài), động mạch mác, cùng các vòng nối mắt cá và bàn chân.
Luận án sử dụng các hệ thống phân loại chuẩn quốc tế trong chẩn đoán và đánh giá tổn thương:
- Phân loại lâm sàng theo Fontaine và Rutherford:
| Giai đoạn Fontaine |
Phân độ Rutherford |
Triệu chứng lâm sàng |
Tiêu chuẩn khách quan |
| I |
0 |
Không triệu chứng |
Test thảm lăn bình thường |
| IIa |
1 |
Đau cách hồi nhẹ |
Làm hết test thảm lăn; HA cổ chân sau tập > 50 mmHg (giảm ≥ 20 mmHg so với nghỉ) |
| IIb |
2 |
Đau cách hồi vừa |
Mức độ trung gian giữa độ 1 và độ 3 |
| IIb |
3 |
Đau cách hồi nặng |
Không hoàn thành test thảm lăn; HA cổ chân gắng sức < 50 mmHg |
| III |
4 |
Đau khi nghỉ |
HA cổ chân khi nghỉ < 30–50 mmHg; Áp lực ngón cái < 30 mmHg |
| IV |
5 |
Mất mô ít (loét nông) |
HA cổ chân < 50–70 mmHg; Áp lực ngón < 40 mmHg (người không ĐTĐ) hoặc < 50 mmHg (người ĐTĐ) |
| IV |
6 |
Mất mô nhiều (hoại tử sâu) |
Tiêu chuẩn huyết động tương tự độ 5 |
- Phân loại hình thái tổn thương theo TASC II (2007 và bản cập nhật 2015): Phân độ từ TASC II A, B, C đến D cho từng tầng động mạch chủ - chậu, đùi - khoeo và dưới gối nhằm định hướng lựa chọn giữa can thiệp nội mạch và phẫu thuật mở.
- Hệ thống phân loại WIfI của Hiệp hội Phẫu thuật Mạch máu (SVS 2014): Đánh giá dựa trên 3 tiêu chí: Vết loét (Wound: độ 0–3), Mức độ thiếu máu chi (Ischemia: độ 0–3 dựa trên chỉ số ABI) và Tình trạng nhiễm trùng bàn chân (Foot Infection: độ 0–3).
- Chỉ số huyết áp cổ chân - cánh tay (ABI - Ankle-Brachial Index):
| Giá trị ABI |
Ý nghĩa lâm sàng |
| > 1,3 |
Thành động mạch xơ cứng, không ép được |
| 0,9 – 1,3 |
Hệ động mạch bình thường |
| 0,7 – 0,9 |
Bệnh động mạch chi dưới còn bù trừ tốt |
| 0,4 – 0,7 |
Bệnh động mạch bù trừ trung bình (tưới máu chỉ đủ cho chuyển hóa lúc nghỉ) |
| < 0,4 (hoặc HA cổ chân < 50 mmHg) |
Bệnh động mạch gây rối loạn huyết động nghiêm trọng |
2. Kỹ thuật can thiệp và điều trị phối hợp
- Điều trị nội khoa: Cai thuốc lá; kiểm soát huyết áp (< 130/80 mmHg bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể angiotensin II); liệu pháp Statin; thuốc giãn mạch (Cilostazol, Naftidrofuryl); thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (Aspirin, Clopidogrel); thuốc chống đông (Heparin chu phẫu 50–150 UI/kg, kháng vitamin K, kháng đông đường uống mới NOAC/DOAC như Rivaroxaban, Dabigatran, Apixaban, Edoxaban); thuốc tiêu sợi huyết (Streptokinase, Urokinase, Alteplase).
- Kỹ thuật tái thông nội mạch: Tạo hình mạch bằng nong bóng (PTA); đặt giá đỡ nội mạch (stent Nitinol tự bung hoặc bung bằng bóng); khoan phá mảng xơ vữa quay tốc độ 150.000 vòng/phút.
- Kỹ thuật mổ mở hỗ trợ: Bóc mảng xơ vữa động mạch (kiểu mở, kiểu nửa mở với vòng Vollmar, kiểu lộn ĐM) đặc biệt tại vị trí chạc ba động mạch đùi chung; kỹ thuật lấy huyết khối bằng ống thông Fogarty.
3. Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng theo dõi dọc, đánh giá kết quả sớm chu phẫu (< 30 ngày) và kết quả muộn sau 30 ngày kéo dài đến 2 năm.
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Công cụ và trang thiết bị: Hệ thống chụp mạch C-arm Ziehm Vision R (Siemens), hệ thống dao điện Covidien, máy đo huyết áp Doppler mạch máu cầm tay đầu dò 8 MHz.
- Các biến số nghiên cứu: Biến số độc lập gồm tuổi, giới, các bệnh phối hợp (THA, ĐTĐ, rối loạn lipid máu, suy thận mạn), phân độ ASA, giai đoạn Rutherford, phân độ TASC II, tỷ lệ Neutrophil/Lymphocyte (N/L), thuốc chống đông/chống ngưng tập tiểu cầu, phương pháp vô cảm, đường vào mạch máu. Biến số phụ thuộc gồm tỷ lệ thành công kỹ thuật, thay đổi ABI trước - sau mổ, mức độ cải thiện lâm sàng Rutherford, biến chứng chu phẫu, tỷ lệ lành vết loét chi, tỷ suất bảo tồn chi, tỷ suất sống còn và nguyên nhân tử vong.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê y học; ước tính xác suất sống còn, bảo tồn chi và lành vết loét theo thời gian bằng phương pháp Kaplan-Meier; phân tích đa biến bằng mô hình hồi quy nguy cơ tỷ lệ Cox (Cox proportional hazards regression) nhằm xác định các yếu tố tiên lượng độc lập.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này gồm 12 tiểu mục, cung cấp bức tranh toàn diện về dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh xơ vữa động mạch và các yếu tố nguy cơ của BĐMCDMT (tuổi cao, hút thuốc lá, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì phần thân, phản ứng viêm hệ thống với CRP/fibrinogen/IL-6, tăng huyết áp, suy thận mạn tính và tăng homocystein máu). Tác giả mô tả chi tiết giải phẫu học 3 tầng động mạch chi dưới, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh từ không xâm lấn đến xâm lấn (siêu âm Doppler xung, Doppler màu, siêu âm nội mạch IVUS, chụp X-quang mạch máu số hóa xóa nền DSA, chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt CTA, chụp cộng hưởng từ MRA với độ đặc hiệu 98%). Chương 1 cũng phân tích chi tiết các hệ thống phân loại Fontaine, Rutherford, TASC II (2007, 2015), SVS WIfI; các phác đồ điều trị nội khoa toàn diện; các kỹ thuật can thiệp nội mạch nong bóng, đặt stent, khoan phá mảng xơ vữa kết hợp mổ mở bóc nội mạc và lấy huyết khối Fogarty; các tiêu chí đánh giá kết quả sớm và muộn (sự thông mạch patency, lành vết thương, cắt cụt, tử vong, MALE, AFS, TLR, MACE); các thang điểm tiên lượng (PIII của Schanzer, ERICVA của Sara-Azhari Mohamed); cùng lược sử nghiên cứu trong và ngoài nước.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày chi tiết về thiết kế nghiên cứu can thiệp theo dõi dọc tại Bệnh viện Chợ Rẫy; tiêu chuẩn lựa chọn người bệnh THĐMCDMTĐT và tiêu chuẩn loại trừ; quy trình chuẩn bị trước mổ, lựa chọn phương pháp vô cảm (gây tê tại chỗ, gây tê vùng hoặc mê toàn thân), vị trí mở đường vào mạch máu; quy trình kỹ thuật tái thông từng tầng tổn thương trên hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền C-arm Ziehm Vision R; việc sử dụng phối hợp các phẫu thuật hỗ trợ như bóc nội mạc động mạch đùi chung hoặc lấy huyết khối bằng ống thông Fogarty; quy trình theo dõi sau can thiệp và kiểm tra chỉ số ABI; các định nghĩa biến số nghiên cứu; phương pháp phân tích sống còn Kaplan-Meier và mô hình hồi quy đa biến Cox; cùng các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương này trình bày toàn bộ số liệu và kết quả thu thập được:
- Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu: Phân bố giới tính, cơ cấu nhóm tuổi, tỷ lệ các yếu tố nguy cơ tim mạch (THA, ĐTĐ, hút thuốc lá, rối loạn lipid máu, suy thận mạn), phân loại mức độ nguy cơ phẫu thuật theo thang điểm ASA, phân bố giai đoạn lâm sàng theo Rutherford và phân loại tổn thương giải phẫu đa tầng theo TASC II (tổn thương phối hợp chủ - chậu + đùi - khoeo, đùi - khoeo + dưới gối, hoặc tổn thương trên cả 3 tầng mạch máu).
- Kết quả tái thông mạch sớm chu phẫu: Tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật; các loại thủ thuật/phẫu thuật thực hiện; đường vào động mạch ban đầu; thời gian can thiệp trung bình; thời gian nằm viện; so sánh sự thay đổi của chỉ số ABI trước và sau can thiệp; so sánh mức độ cải thiện ABI giữa nhóm tái thông hoàn toàn và không hoàn toàn; mức độ cải thiện triệu chứng lâm sàng theo thang điểm khuyến cáo của Rutherford; tỷ lệ tai biến, biến chứng, cắt cụt chi và tử vong chu phẫu (< 30 ngày); phân tích mối liên quan giữa các yếu tố lâm sàng với tử vong/cắt cụt chu phẫu.
- Kết quả theo dõi muộn và các yếu tố ảnh hưởng: Kết quả theo dõi trung hạn đến 2 năm được thể hiện qua các đường cong Kaplan-Meier về tỷ lệ người bệnh còn loét chi theo thời gian, tỷ suất bảo tồn chi, tỷ suất sống còn và phân tích cơ cấu các nguyên nhân tử vong muộn.
- Phân tích hồi quy đa biến Cox: Luận án trình bày 3 bảng phân tích hồi quy Cox quan trọng:
- Phân tích hồi quy Cox về mối liên quan giữa các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng với sự lành vết thương sau tái thông mạch.
- Phân tích hồi quy Cox về mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với biến cố cắt cụt chi sau 2 năm.
- Phân tích hồi quy Cox về mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với biến cố tử vong sau 2 năm theo dõi.
Chương 4: Bàn luận
Chương này bàn luận sâu về các kết quả đạt được đối chiếu với y văn thế giới và trong nước:
- So sánh đặc điểm dịch tễ học, độ tuổi trung bình và tỷ lệ các bệnh lý đồng mắc của nhóm nghiên cứu với các công trình quốc tế.
- Đánh giá hiệu quả phục hồi lưu thông mạch máu của kỹ thuật can thiệp nội mạch trên các dạng tổn thương đa tầng phức tạp; phân tích ý nghĩa của việc tái thông hoàn toàn so với tái thông một phần các tổn thương; vai trò của thủ thuật bóc mảng xơ vữa động mạch đùi chung trong việc tạo đường vào và giải phóng tắc nghẽn chạc ba mạch máu.
- Bàn luận về mức độ cải thiện huyết động (chỉ số ABI), tỷ lệ lành loét, tỷ suất bảo tồn chi và tỷ suất sống còn 2 năm so với các nghiên cứu của Nathan Fernandez, Soon Cheon Lee, Hyuk Jae Jung...
- Phân tích các yếu tố tiên lượng độc lập ảnh hưởng đến kết quả điều trị (đái tháo đường, suy thận mạn tính, tỷ lệ Neutrophil/Lymphocyte, mức độ tổn thương theo TASC II và phân độ Rutherford ban đầu).
- Trình bày mục hạn chế của nghiên cứu (Mục 4.4) liên quan đến tính chất nghiên cứu tại một trung tâm và những khó khăn trong việc ứng dụng siêu âm Doppler định kỳ để đánh giá độ thông mạch trên các tổn thương đa tầng lan tỏa.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Đóng góp về thực tiễn lâm sàng và kỹ thuật:
- Luận án cung cấp các dữ liệu thực chứng có hệ thống về hiệu quả và mức độ an toàn của phương pháp can thiệp nội mạch trong điều trị bệnh lý tắc hẹp động mạch chi dưới mạn tính đa tầng tại Việt Nam.
- Chứng minh tính khả thi và vai trò hỗ trợ của phẫu thuật mở bóc mảng xơ vữa động mạch đùi chung kết hợp với can thiệp nội mạch các tầng lân cận, giúp mở rộng chỉ định điều trị cho các trường hợp tổn thương phức tạp mà can thiệp nội mạch đơn thuần khó tiếp cận.
-
Đóng góp về mặt đánh giá kết quả điều trị:
- Xác lập các chỉ số đánh giá khách quan về sự cải thiện huyết động (sự gia tăng chỉ số ABI) và cải thiện lâm sàng chu phẫu theo thang điểm Rutherford.
- Cung cấp các đường cong sống còn chuẩn xác (Kaplan-Meier) về tỷ suất bảo tồn chi, tỷ suất sống còn và tiến trình lành vết loét sau tái thông mạch trong thời gian theo dõi 2 năm.
-
Đóng góp về mặt tiên lượng:
- Ứng dụng thành công mô hình hồi quy đa biến Cox để xác định các yếu tố nguy cơ độc lập ảnh hưởng đến sự lành vết thương, nguy cơ cắt cụt chi và nguy cơ tử vong 2 năm sau tái thông mạch.
- Giúp các bác sĩ lâm sàng nhận diện sớm các nhóm người bệnh có nguy cơ cao (như có suy thận mạn, đái tháo đường, tỷ lệ N/L tăng cao, tổn thương mất mô nặng) để có chiến lược theo dõi, chăm sóc vết thương và điều trị nội khoa tích cực sau can thiệp.
-
Kiến nghị đề xuất:
- Đề xuất áp dụng can thiệp nội mạch (có phối hợp phẫu thuật bóc nội mạc hỗ trợ khi cần thiết) như một lựa chọn ưu tiên trong điều trị BĐMCDMT đa tầng.
- Nhấn mạnh việc kiểm soát toàn diện các yếu tố nguy cơ tim mạch và phối hợp chặt chẽ giữa can thiệp tái thông mạch với điều trị nội khoa và chăm sóc vết thương chuyên sâu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế của nghiên cứu:
- Được thực hiện tại một trung tâm duy nhất (Bệnh viện Chợ Rẫy), do đó cỡ mẫu và đặc điểm phân bố người bệnh phản ánh mô hình bệnh tật tại tuyến điều trị chuyên sâu.
- Việc đánh giá sự thông mạch (patency) bằng siêu âm Doppler đối với tổn thương đa tầng, đặc biệt là các mạch máu nhỏ tầng dưới gối, gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật và phụ thuộc vào người làm siêu âm nên chưa thể theo dõi đồng nhất cho toàn bộ các nhánh mạch can thiệp.
- Tiến trình lành vết thương ngoài phụ thuộc vào lưu lượng dòng máu tái thông còn chịu tác động bởi quy trình chăm sóc vết thương ngoại trú và điều kiện tuân thủ điều trị của người bệnh.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn và kéo dài thời gian theo dõi trên 2 năm.
- Đánh giá bổ sung hiệu quả của các công nghệ can thiệp nội mạch mới như bóng phủ thuốc, giá đỡ phủ thuốc hoặc thiết bị khoan phá mảng xơ vữa chuyên dụng khi các phương tiện này được áp dụng rộng rãi hơn trong nước.
Giá trị tham khảo
- Đối với bác sĩ chuyên khoa Ngoại Lồng ngực - Mạch máu và Can thiệp Tim mạch: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu về quy trình chỉ định, kỹ thuật can thiệp nội mạch phối hợp phẫu thuật mở (Hybrid), cách xử trí tổn thương đa tầng phức tạp và các tiêu chí đánh giá lâm sàng - huyết động.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học chuyên ngành Ngoại khoa và Tim mạch: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu lâm sàng chuẩn mực, cách phân loại tổn thương theo TASC II, Rutherford, WIfI, cũng như phương pháp xử lý số liệu sống còn bằng mô hình Kaplan-Meier và phân tích hồi quy đa biến Cox.
- Đối với các nhà quản lý y tế và cơ sở khám chữa bệnh: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng quy trình kỹ thuật, trang bị phòng mổ Hybrid/hệ thống Cathlab và định hướng phát triển các kỹ thuật can thiệp mạch máu ít xâm lấn.
Câu hỏi thường gặp
1. Bệnh lý tắc hẹp động mạch chi dưới mạn tính đa tầng (THĐMCDMTĐT) được định nghĩa như thế nào trong luận án?
THĐMCDMTĐT là tình trạng tổn thương tắc hoặc hẹp các mạch máu chi dưới xuất hiện đồng thời trên từ 2 tầng giải phẫu trở lên trong số 3 tầng: tầng động mạch chủ - chậu, tầng động mạch đùi - khoeo và tầng động mạch dưới gối.
2. Chỉ số huyết áp cổ chân - cánh tay (ABI) được đo và phân loại mức độ tổn thương như thế nào?
ABI được tính bằng cách lấy huyết áp tâm thu cao nhất đo được ở động mạch cổ chân (động mạch chày trước hoặc chày sau, sử dụng đầu dò Doppler 8 MHz) chia cho huyết áp tâm thu đo ở động mạch cánh tay. Phân loại lâm sàng: ABI > 1,3 (thành mạch xơ cứng không ép được); 0,9–1,3 (hệ mạch bình thường); 0,7–0,9 (bệnh ĐM còn bù trừ tốt); 0,4–0,7 (bù trừ trung bình); < 0,4 (rối loạn huyết động nghiêm trọng).
3. Kỹ thuật bóc mảng xơ vữa động mạch đùi chung đóng vai trò gì trong chiến lược can thiệp nội mạch đa tầng?
Bóc mảng xơ vữa động mạch đùi chung là kỹ thuật phẫu thuật mở hỗ trợ quan trọng trong các trường hợp tổn thương đa tầng có tổn thương vùng chạc ba đùi. Kỹ thuật này giúp giải phóng tắc nghẽn tại vị trí giải phẫu đặc biệt (nơi dễ gãy stent nếu can thiệp nội mạch đơn thuần), bảo tồn nhánh động mạch đùi sâu và tạo đường vào thuận lợi để đưa dụng cụ can thiệp nội mạch lên tầng chủ - chậu hoặc xuống tầng đùi - khoeo.
4. Luận án đã sử dụng những phương pháp thống kê nào để đánh giá kết quả muộn và phân tích yếu tố ảnh hưởng?
Luận án sử dụng phương pháp phân tích sống còn Kaplan-Meier để xây dựng các biểu đồ về tỷ lệ còn loét chi theo thời gian, tỷ suất bảo tồn chi và tỷ suất sống còn sau can thiệp. Đồng thời, tác giả áp dụng mô hình phân tích hồi quy đa biến Cox (Cox proportional hazards regression) để xác định các yếu tố nguy cơ độc lập ảnh hưởng đến sự lành vết thương, nguy cơ cắt cụt chi 2 năm và nguy cơ tử vong 2 năm.
5. Các hệ thống phân loại chính nào được sử dụng trong luận án để đánh giá người bệnh trước và sau can thiệp?
Luận án sử dụng hệ thống phân loại lâm sàng theo Fontaine và Rutherford (từ độ 0 đến độ 6); phân loại hình thái tổn thương giải phẫu theo TASC II (các mức độ A, B, C, D cho từng tầng mạch máu); hệ thống phân loại SVS WIfI (đánh giá Vết thương, Mức độ thiếu máu và Nhiễm trùng bàn chân); cùng phân độ nguy cơ gây mê phẫu thuật theo ASA.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Trịnh Vũ Nghĩa đã tổng kết toàn diện cơ sở lý luận, giải phẫu học và thực hành lâm sàng trong điều trị bệnh lý tắc hẹp động mạch chi dưới mạn tính đa tầng bằng phương pháp can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Thông qua các phương pháp nghiên cứu lâm sàng theo dõi dọc, luận án đã chứng minh hiệu quả phục hồi huyết động, cải thiện lâm sàng sớm và xác lập tỷ suất bảo tồn chi, tỷ suất sống còn trung hạn 2 năm sau can thiệp. Các phân tích hồi quy đa biến Cox trong luận án cung cấp bằng chứng khoa học có giá trị về các yếu tố tiên lượng ảnh hưởng đến tiến trình lành vết thương, nguy cơ cắt cụt chi và tử vong, đóng góp nguồn tư liệu chuyên môn quan trọng cho chuyên ngành Ngoại Lồng ngực - Mạch máu tại Việt Nam.