Tổng quan nghiên cứu

Ung thư gan nguyên phát hiện đứng thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong do ung thư trên phạm vi toàn cầu. Tại các nước phát triển như Mỹ, tỷ lệ mắc bệnh đã tăng từ 1,5 lên 4,5 ca trên 100.000 dân trong hai thập kỷ qua, kéo theo tỷ lệ tử vong hàng năm tăng khoảng 41%. Tại Việt Nam, tỷ lệ người nhiễm virus viêm gan B mạn tính vượt mức 10% dân số, khiến nguy cơ tiến triển thành ung thư gan luôn ở mức báo động. Mặc dù phẫu thuật cắt gan được xem là phương pháp điều trị triệt căn mang lại hiệu quả lâu dài nhất, chỉ có khoảng 20% bệnh nhân u gan khi phát hiện là còn chỉ định phẫu thuật. Trở ngại lớn nhất đối với các ca cắt gan lớn (cắt từ 3 hạ phân thùy trở lên) là thể tích gan lành còn lại không đủ, dễ dẫn tới biến chứng suy gan cấp tính và tử vong sau mổ.

Để giải quyết tình trạng này, phương pháp can thiệp nút nhánh tĩnh mạch cửa trước phẫu thuật được áp dụng nhằm chủ động gây phì đại phần nhu mô gan lành dự kiến giữ lại. Luận văn tập trung thực hiện 3 mục tiêu trọng tâm: mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân u gan có chỉ định can thiệp; đánh giá tính an toàn cùng hiệu quả tăng thể tích gan còn lại; đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật nút nhánh tĩnh mạch cửa chuẩn hóa tại Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trên 82 bệnh nhân u gan tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong giai đoạn từ tháng 1/2009 đến tháng 7/2016. Đề tài có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hạ thấp tỷ lệ suy gan sau mổ xuống dưới 3% và mở rộng cơ hội phẫu thuật triệt căn cho hơn 80% trường hợp người bệnh vốn từng bị từ chối phẫu thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ sở sinh học của đề tài dựa trên hiện tượng phức hợp teo và phì đại nhu mô gan. Khi một nhánh tĩnh mạch cửa bị tắc nghẽn hoàn toàn do can thiệp, phân thùy gan tương ứng sẽ bị thiếu máu nuôi dưỡng cục bộ, dẫn đến quá trình thoái hóa và teo nhỏ tế bào. Ngược lại, lưu lượng máu tĩnh mạch cửa sẽ tái phân phối dồn về phần gan lành đối diện, làm gia tăng áp lực mạch máu và giải phóng các yếu tố tăng trưởng nội sinh như HGF, TGF-alpha, TNF-alpha và IL-6 qua con đường tín hiệu STAT3. Quá trình này kích hoạt hơn 95% tế bào gan bước vào chu kỳ phân bào, gia tăng cả về kích thước lẫn số lượng tế bào bù trừ chỉ sau 2 đến 4 tuần.

Song song đó, nghiên cứu vận dụng nguyên lý toán học Cavalieri trong chẩn đoán hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy để tính toán thể tích gan chính xác với sai số dưới 1%. Các khái niệm cốt lõi được định lượng gồm: thể tích gan lành còn lại theo dự kiến, thể tích gan chuẩn theo công thức Urata và Vauthey, cùng tỷ lệ thể tích gan còn lại trên trọng lượng cơ thể. Các chỉ số này tạo nên hệ quy chuẩn chặt chẽ: thể tích gan lành còn lại phải đạt trên 40% đối với người bệnh có xơ gan và trên 20% đối với nền gan bình thường nhằm đảm bảo chức năng chuyển hóa an toàn sau phẫu thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng can thiệp một nhóm, so sánh các chỉ số trước và sau can thiệp trên nhóm bệnh nhân ung thư tế bào gan nguyên phát, ung thư đường mật trong gan và ung thư đại trực tràng di căn gan. Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với mức sai số tuyệt đối 0,1 và độ tin cậy 95%, xác định cỡ mẫu tối thiểu là 80 bệnh nhân (dự phòng tỷ lệ mất mẫu 10% tương đương 88 bệnh nhân). Thực tế triển khai trong giai đoạn từ tháng 1/2009 đến tháng 7/2016 đã thu nhận đầy đủ dữ liệu theo dõi của 82 bệnh nhân tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng dựa trên các tiêu chuẩn lựa chọn nghiêm ngặt: bệnh nhân u gan có chức năng gan Child-Pugh A, tỷ lệ Prothrombin trên 60%, số lượng tiểu cầu trên 50 G/L, và tỷ lệ thể tích gan còn lại so với thể tích gan chuẩn nằm trong khoảng 20% đến 40%. Bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính 64 dãy dựng hình mạch máu 3D để đo thể tích gan trước can thiệp và kiểm tra lại sau 2 đến 4 tuần. Toàn bộ thủ thuật nút mạch sử dụng vật liệu keo sinh học Histoacryl kết hợp dầu Lipiodol, dù kim loại Amplatzer và hạt PVA dưới hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền. Phương pháp phân tích so sánh cặp trước - sau can thiệp được lựa chọn nhằm kiểm soát tối đa sai số sinh học cá thể và đánh giá chính xác tốc độ phì đại của nhu mô gan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận hiệu quả vượt trội của kỹ thuật nút nhánh tĩnh mạch cửa trong việc tái tạo thể tích gan lành. Sau thời gian can thiệp từ 2 đến 4 tuần, thể tích phần gan lành còn lại tăng trưởng rõ rệt với mức gia tăng đạt từ 35% đến 54% so với thể tích ban đầu. Tốc độ tăng sinh nhu mô gan đạt trung bình khoảng 12 cm3/ngày ở nhóm bệnh nhân có nền gan không xơ và đạt khoảng 9,3 cm3/ngày ở nhóm bệnh nhân có viêm gan mạn hoặc xơ gan.

Về độ an toàn, tỷ lệ can thiệp thành công về mặt kỹ thuật đạt 100% và không ghi nhận bất kỳ trường hợp tử vong nào liên quan đến thủ thuật. Tỷ lệ biến chứng chung chỉ dừng ở mức 2,2%, phần lớn là các triệu chứng nhẹ thoáng qua thuộc hội chứng sau nút mạch như đau tức hạ sườn phải, sốt nhẹ hoặc tăng men gan tạm thời dưới 3 lần mức bình thường (tự hồi phục sau 7 đến 10 ngày). Đáng chú ý, sự phì đại thể tích gan đạt chuẩn đã giúp nâng tỷ lệ bệnh nhân đủ điều kiện tiến hành phẫu thuật cắt gan lớn thành công lên 85%, trong khi tỷ lệ biến chứng suy gan sau phẫu thuật chỉ xuất hiện ở 2,5% số ca mổ.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả làm phì đại nhu mô gan trong nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các công bố y văn quốc tế. Việc kết hợp keo sinh học Histoacryl và Lipiodol theo tỷ lệ 1:1 đến 1:2 tạo phản ứng đông cứng polymer hóa nhanh chóng, giúp tắc mạch vĩnh viễn và triệt để, khắc phục hoàn toàn nguy cơ tái thông sớm thường gặp ở vật liệu tự tiêu Spongel. Sự khác biệt về tốc độ tái tạo giữa gan lành (11,8 đến 12 cm3/ngày) và gan xơ (9,3 cm3/ngày) phản ánh rõ mức độ ức chế tổng hợp DNA do tình trạng viêm mạn và xơ hóa tế bào. Phân tích giải phẫu tĩnh mạch cửa cho thấy dạng phân nhánh kinh điển chiếm khoảng 65% đến 86,4%, trong khi dạng chia ba thân chiếm khoảng 9% đến 10%, đòi hỏi bác sĩ can thiệp phải xác định đúng mốc giải phẫu để lựa chọn đường chọc qua da cùng bên hoặc đối bên chuẩn xác.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh thể tích gan trước và sau can thiệp 4 tuần, kết hợp cùng bảng phân tích đa biến thể hiện mối liên quan giữa các yếu tố tiên lượng như nồng độ Bilirubin máu, đường huyết và tốc độ tăng thể tích gan. Những dẫn chứng thực nghiệm này khẳng định nút tĩnh mạch cửa là bước đệm an toàn, chuyển hóa những ca u gan không thể phẫu thuật thành các ca cắt gan triệt căn có tiên lượng sống vượt trội.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả lâm sàng thu được, nghiên cứu đưa ra 4 giải pháp hành động mang tính ứng dụng cao:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình đo thể tích gan bằng chụp cắt lớp vi tính dựng hình 3D tại các khoa ngoại tiêu hóa và chẩn đoán hình ảnh trên toàn quốc. Bác sĩ phẫu thuật cần chỉ định nút tĩnh mạch cửa tiền phẫu cho 100% bệnh nhân u gan có dự kiến cắt gan lớn khi thể tích gan lành còn lại dưới 40% trên nền gan xơ hoặc dưới 20% trên nền gan lành, thực hiện ngay trong tuần đầu tiên sau khi hoàn tất chẩn đoán.

Thứ hai, tối ưu hóa kỹ thuật can thiệp bằng cách ưu tiên đường vào qua da cùng bên đối với khối u gan phải không quá sát bề mặt, nhằm bảo vệ tuyệt đối nhánh tĩnh mạch cửa và nhu mô gan trái. Bác sĩ điện quang can thiệp cần kiểm soát thời gian làm thủ thuật dưới 60 phút, kết hợp sử dụng keo Histoacryl và dù kim loại để đạt tỷ lệ tắc mạch hoàn toàn 100%.

Thứ ba, thiết lập mốc thời gian chụp cắt lớp vi tính đánh giá lại thể tích gan cố định từ 21 đến 28 ngày (3 đến 4 tuần) sau can thiệp. Các trung tâm y tế cần tổ chức phẫu thuật cắt gan ngay khi thể tích gan đạt chuẩn, tránh kéo dài thời gian chờ đợi quá 6 tuần vì dòng máu động mạch gan bù trừ có thể thúc đẩy khối u phát triển.

Thứ tư, xây dựng phác đồ phối hợp đa mô thức kết hợp nút hóa chất động mạch gan (TACE) trước khi nút tĩnh mạch cửa (PVE) từ 7 đến 14 ngày đối với các khối u tế bào gan kích thước lớn. Hội đồng hội chẩn đa chuyên khoa tại bệnh viện tuyến cuối cần áp dụng phác đồ này nhằm khống chế khối u và gia tăng tốc độ phì đại mô gan thêm 15% đến 20%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tài liệu khoa học và thực hành chuyên sâu dành cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm bác sĩ phẫu thuật tiêu hóa và gan mật: Nắm vững quy chuẩn đánh giá thể tích gan trước mổ, chỉ định can thiệp chính xác và chọn thời điểm mổ an toàn nhằm hạ thấp tỷ lệ suy gan sau cắt gan xuống dưới 3%.

Nhóm bác sĩ điện quang can thiệp: Tiếp cận chi tiết các bước tiến hành thủ thuật chọc mạch qua da dưới hướng dẫn siêu âm và DSA, kinh nghiệm xử lý biến đổi giải phẫu tĩnh mạch cửa (chiếm tỷ lệ 15% đến 35%) và kỹ thuật sử dụng keo sinh học kết hợp dù kim loại an toàn.

Học viên sau đại học, bác sĩ nội trú và nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngoại khoa - Chẩn đoán hình ảnh: Sử dụng công trình như tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng kết hợp chẩn đoán hình ảnh 3D, hiểu sâu cơ chế phân tử và sinh lý tái tạo gan.

Lãnh đạo các bệnh viện và nhà quản lý y tế: Tham khảo số liệu thực tế từ 82 ca can thiệp để hoạch định đầu tư trang thiết bị máy chụp mạch số hóa xóa nền, máy cắt lớp vi tính hiện đại và vật liệu can thiệp, nâng cao tỷ lệ điều trị triệt căn u gan tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp nút nhánh tĩnh mạch cửa có gây hoại tử phần gan mang khối u hoặc nguy hiểm đến tính mạng không? Phương pháp có độ an toàn rất cao với tỷ lệ biến chứng nặng chỉ 2,2% và tỷ lệ tử vong là 0%. Do gan nhận máu kép từ cả động mạch gan và tĩnh mạch cửa, khi nút tĩnh mạch cửa thì động mạch gan sẽ tăng tưới máu bù trừ, giữ cho nhu mô gan và khối u không bị hoại tử đột ngột.

Thời gian chờ đợi từ lúc can thiệp nút mạch đến khi tiến hành phẫu thuật cắt gan kéo dài bao lâu? Thời gian tối ưu để chụp cắt lớp vi tính kiểm tra và thực hiện phẫu thuật là từ 3 đến 4 tuần sau can thiệp. Trong khoảng thời gian này, nhu mô gan lành có thể tăng trưởng từ 35% đến 54% về thể tích, vừa đảm bảo ngưỡng an toàn vừa tránh để khối u tiến triển lan rộng.

Những bệnh nhân u gan nào bắt buộc phải thực hiện kỹ thuật nút tĩnh mạch cửa trước khi phẫu thuật? Kỹ thuật được chỉ định cho các bệnh nhân có khối u cần cắt từ 3 hạ phân thùy gan trở lên nhưng thể tích gan còn lại theo dự kiến dưới 40% đối với gan xơ hoặc dưới 20% đối với gan lành, đồng thời chức năng gan toàn thể đạt mức Child-Pugh A và tỷ lệ Prothrombin trên 60%.

Khả năng tái tạo phì đại gan ở người bệnh xơ gan có khác biệt so với người có nền gan lành không? Nhu mô gan lành có tốc độ tăng sinh nhanh hơn, đạt từ 12 đến 21 cm3/ngày trong 2 tuần đầu. Ở người bệnh xơ gan hoặc mắc đái tháo đường, tốc độ phì đại chậm hơn, đạt khoảng 9,3 cm3/ngày do khả năng tổng hợp DNA và phân bào của tế bào gan bị suy giảm.

Loại vật liệu can thiệp nào mang lại hiệu quả nút tắc mạch tĩnh mạch cửa bền vững và an toàn nhất? Keo sinh học Histoacryl kết hợp dầu Lipiodol và dù kim loại Amplatzer là những vật liệu gây tắc mạch vĩnh viễn cho hiệu quả cao nhất. Sự kết hợp này triệt tiêu hoàn toàn nguy cơ tái thông mạch máu so với vật liệu tự tiêu Spongel, giúp hơn 85% người bệnh đủ điều kiện phẫu thuật cắt gan triệt căn.

Kết luận

  • Phương pháp nút nhánh tĩnh mạch cửa qua da là giải pháp can thiệp tiền phẫu an toàn, hiệu quả cao với tỷ lệ biến chứng thấp 2,2% và không ghi nhận ca tử vong nào do thủ thuật.
  • Kỹ thuật giúp kích thích tăng thể tích nhu mô gan lành còn lại từ 35% đến 54%, tạo điều kiện cho 85% bệnh nhân u gan từng bị từ chối mổ có cơ hội phẫu thuật cắt gan triệt căn.
  • Quy trình can thiệp chuẩn hóa bằng keo sinh học Histoacryl và dù kim loại dưới hướng dẫn của siêu âm kết hợp DSA có tính khả thi cao và phù hợp với điều kiện y tế tại Việt Nam.
  • Công trình cung cấp bằng chứng lâm sàng và hình ảnh học 3D đáng tin cậy trên 82 ca bệnh, mở ra triển vọng chuyển giao và ứng dụng thường quy tại các bệnh viện ngoại khoa trong lộ trình 1 đến 2 năm tới.
  • Các chuyên gia y tế, bác sĩ ngoại khoa và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp cận toàn văn luận văn thạc sĩ để tham khảo chi tiết phác đồ can thiệp và tối ưu hóa kết quả phẫu thuật u gan.