Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, đánh giá hiệu quả và an toàn.

Trường đại học

Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đề tài nghiên cứu

2011

189
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Lịch sử phát triển phẫu thuật nội soi cắt túi mật

Phẫu thuật nội soi cắt túi mật đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng. Năm 1985, bác sĩ Muhe thực hiện ca cắt túi mật nội soi đầu tiên tại Đức, nhưng chưa được biết đến rộng rãi. Đến năm 1987, Philippe Mouret thực hiện thành công ca phẫu thuật này tại Pháp, đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử phẫu thuật nội soi hiện đại. Từ đó, cắt túi mật nội soi trở thành tiêu chuẩn vàng trong điều trị bệnh lý túi mật lành tính. Năm 1997, Navarra thực hiện ca cắt túi mật nội soi một lỗ đầu tiên, mở ra hướng phát triển mới với ưu điểm giảm đau và đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ.

1.1. Sự phát triển của phẫu thuật nội soi một lỗ

Phẫu thuật nội soi một lỗ được phát triển nhằm giảm thiểu số lượng và kích thước trocar, hạn chế tai biến và biến chứng. Năm 2007, Podolsky ER giới thiệu kỹ thuật sử dụng 3 trocar 5mm qua một đường mổ duy nhất. Điều này không chỉ giảm đau sau mổ mà còn đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao của bệnh nhân. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã triển khai kỹ thuật này từ năm 2011, góp phần nâng cao chất lượng điều trị.

1.2. Phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên NOTES

Phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên (NOTES) là hướng phát triển mới, sử dụng đường vào tự nhiên như âm đạo hoặc dạ dày. Tuy nhiên, kỹ thuật này còn nhiều hạn chế do tính nhạy cảm và khó áp dụng rộng rãi. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy tính khả thi cao, nhưng ứng dụng trên người vẫn cần thêm thời gian và nghiên cứu chuyên sâu.

II. Ứng dụng phẫu thuật nội soi một lỗ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Bệnh viện Đại học Y Hà Nội là một trong những đơn vị tiên phong trong việc ứng dụng phẫu thuật nội soi một lỗ tại Việt Nam. Từ năm 2011, bệnh viện đã thực hiện thành công nhiều ca cắt túi mật nội soi một lỗ, đạt được kết quả tích cực về mặt kỹ thuật và thẩm mỹ. Các báo cáo khoa học từ bệnh viện đã góp phần quan trọng vào việc phổ biến kỹ thuật này trong cộng đồng y khoa.

2.1. Quy trình kỹ thuật

Quy trình cắt túi mật nội soi một lỗ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội được xây dựng bài bản, đảm bảo an toàn và hiệu quả. Kỹ thuật sử dụng dụng cụ chuyên dụng như SILS™ Port, giúp giảm thiểu tối đa các biến chứng. Các bước thực hiện bao gồm: đặt trocar qua rốn, bộc lộ tam giác gan mật, cắt và lấy túi mật ra ngoài. Quy trình này đã được kiểm chứng qua nhiều ca phẫu thuật thành công.

2.2. Kết quả và đánh giá

Kết quả từ các ca cắt túi mật nội soi một lỗ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho thấy tỷ lệ biến chứng thấp, thời gian hồi phục nhanh và đáp ứng tốt nhu cầu thẩm mỹ của bệnh nhân. Các nghiên cứu tiếp tục được thực hiện để tối ưu hóa quy trình và mở rộng ứng dụng kỹ thuật này trong điều trị các bệnh lý khác.

III. Những biến đổi giải phẫu và thách thức trong phẫu thuật

Biến đổi giải phẫu đường mật là một trong những thách thức lớn trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Các bất thường như túi mật đôi, túi mật trong gan, hoặc ống túi mật bất thường có thể gây khó khăn trong quá trình phẫu thuật. Việc hiểu rõ và xác định chính xác các cấu trúc giải phẫu là yếu tố quyết định thành công của ca mổ.

3.1. Biến đổi giải phẫu túi mật

Các biến đổi giải phẫu túi mật bao gồm túi mật đôi, túi mật trong gan, hoặc túi mật di động. Những bất thường này có thể gây nhầm lẫn trong chẩn đoán và phẫu thuật. Siêu âm và chụp cắt lớp vi tính là các phương tiện chẩn đoán hiệu quả, giúp xác định chính xác vị trí và hình thái túi mật trước khi phẫu thuật.

3.2. Thương tổn đường mật

Thương tổn đường mật là biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Các tổn thương như rò mật, tổn thương ống mật chủ cần được phát hiện và xử lý kịp thời. Việc nắm vững giải phẫu và kỹ thuật phẫu thuật là yếu tố quan trọng để hạn chế tối đa các biến chứng này.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Lịch sử phẫu thuật nội soi hiện đại được đánh dấu bởi ca cắt túi mật nội soi đầu tiên của bác sĩ Muhe người Đức thực hiện vào ngày 12 tháng 9 năm 1985 [1], tuy nhiên lúc bấy giờ ít được mọi người biết đến do thiếu thông tin liên lạc đại chúng. Ngày 17 tháng 3 năm 1987, Philippe Mouret thực hiện thành công ca cắt túi mật nội soi tại Lyon – Pháp, chính thời khắc này được nhiều tác giả xem là dấu mốc của phẫu thuật nội soi hiện đại. Kể từ đó phẫu thuật nội soi đã không ngừng phát triển trên khắp thế giới và cắt túi mật nội soi đã được chứng minh ưu điểm hơn so với mổ mở, đã trở thành tiêu chuẩn vàng trong điều trị các bệnh lý túi mật lành tính [2],[3]. Với suy luận nếu giảm thiểu số lượng và kích thước trocar sẽ giảm được các tai biến và biến chứng do đặt trocar, ít đau sau mổ và đặc biệt đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ ngày càng tăng của người bệnh.

các phẫu thuật viên nội soi đã đưa ra những phương pháp cắt túi mật nội soi khác và năm 1997 Navara [4] đã tiến hành ca cắt túi mật nội soi một lỗ đầu tiên trên thế giới. Ông đã sử dụng 2 trocar 10mm kết với khâu treo túi mật để bộc lộ tam giác gan mật. Đến năm 2007 Podolsky ER [5] trình bày kỹ thuật cắt túi mật nội soi một lỗ với 3 trocar 5mm đặt qua một đường mổ xuyên qua rốn mà không cần khâu treo túi mật. Bên cạnh giảm thiểu số lượng lỗ trocar thì một số tác giả đã phát triển theo hướng phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên gọi tắt là NOTES (Natural Orifice Translumenal Endoscopic Surgery).

Những nghiên cứu thử nghiệm trên động vật được tiến hành và báo cáo với kết quả có tính khả thi cao [6], [7]. Trường hợp cắt túi mật nội soi hỗ trợ qua đường âm đạo ở người đầu tiên được Bessler M [8] thực hiện vào tháng 3 năm 2007 và sau đó 6 tháng Marescaux J [9] đã thực hiện thành công cắt túi mật nội soi hoàn toàn qua đường âm đạo. Tuy nhiên, cắt túi mật nội soi qua đường âm đạo không thể thực hiện được trên tất cả các đối tượng và ít được ủng hộ do sử dụng đường 2 vào mang tính nhạy cảm. Còn cắt túi mật qua đường nội soi dạ dày, cho đến hiện tại cũng chỉ mới dừng lại ở mức thử nghiệm trên động vật.

Ở Việt Nam, sau hội nghị nội soi và phẫu thuật nội soi Châu Á Thái Bình Dương lần thứ X (ELSA) năm 2010 tổ chức tại Hà Nội, phẫu thuật nội soi một lỗ được triển khai gần như cùng lúc tại các trung tâm phẫu thuật lớn ở cả ba miền [10],[11]. Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cũng đã triển khai phẫu thuật nội soi một lỗ điều trị một số bệnh lý ổ bụng như túi mật, ruột thừa, buồng trứng… trường hợp cắt túi mật nội soi một lỗ đầu tiên được thực hiện vào tháng 3 năm 2011, đã có các báo cáo tham gia các hội nghị và công bố kết quả trên các tạp chí chuyên ngành trong nước [12],[13]. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn còn thiếu các nghiên cứu mô tả một cách đầy đủ về quy trình kỹ thuật, khả năng ứng dụng và kết quả của cắt túi mật nội soi một lỗ đối với người Việt Nam. Xuất phát từ đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội” với hai mục tiêu như sau: 1.

Nghiên cứu ứng dụng và xây dựng quy trình cắt túi mật nội soi một lỗ tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Đánh giá kết quả cắt túi mật nội soi một lỗ tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu và điều trị ngoại khoa bệnh lý túi mật Antonius Benivenius là người đầu tiên đã mô tả bệnh lý viêm túi mật ở người trong cuốn sách nói về nguyên nhân bí ẩn của cái chết (De abditis morborum causis) xuất bản năm 1528 [14], qua khám nghiệm tử thi xác minh viêm túi mật cấp tính dẫn đến tử vong.

Và hàng trăm năm sau, John Stough Bobbs được ghi nhận với những hoạt động đầu tiên trên túi mật của người. Ông ta đã thực hiện dẫn lưu túi mật vào năm 1876, tại góc phố Meridian và Washington Streets ở Indianapolis – Mỹ. Sau đó, ngày 15 tháng 7 năm 1882 Carl Johann August Langenbuch thực hiện thành công ca cắt túi mật đầu tiên trên một bệnh nhân nam 42 tuổi, ở Tây Berlin - Đức. Bệnh nhân đã hồi phục không biến chứng và Langenbuch sau đó đã trình bày báo cáo 24 trường hợp cắt túi mật tại hội nghị ngoại khoa Đức lần thứ 8 năm 1889 [15].

Trên thế giới - Năm 1882 lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Carl Johann August Langenbuch đã thực hiện mổ mở cắt túi mật để điều trị bệnh lý túi mật. Cho đến trước năm 1985 trên toàn thế giới đều cắt túi mật bằng phương pháp mổ mở [15]. - Năm 1985, Muhe một phẫu thuật viên người Đức đã tiến hành cắt ca túi mật nội soi đầu tiên tại Đức. Tuy nhiên, lúc bấy giờ giới hạn về thông tin nên chưa được mọi người trên thế giới biết đến [1],[16].

- Năm 1987, Phillipe Mouret thực hiện thành công ca mổ cắt túi mật nội soi tại Lion - Pháp và ông được đại đa số các phẫu thuật viên xem là người thực hiện cắt ca túi mật nội soi đầu tiên trên thế giới [2],[17] 4 - Năm 1997, Navarra đã báo cáo 30 trường hợp cắt túi mật nội soi một đường mổ với 2 trocar 10mm đặt qua hai vết rạch da phía trên rốn kết hợp với khâu treo túi mật để bộc lộ tam giác gan mật. Sau khi cắt xong túi mật tác giả đã rạch cầu da giữa hai lỗ trocar để nối hai lỗ với nhau và lấy túi mật ra ngoài. Tác giả gọi kỹ thuật này là cắt túi mật nội soi một vết mổ (One-wound laparoscopic cholecystectomy) [4].O [7] thực hiện thành công cắt túi mật qua nội soi dạ dày trên một loạt 8 con lơn. Các báo cáo đã cho thấy kỹ thuật có tính khả thi, có triển vọng phát triển và ứng dụng trên người.

Tháng 7 năm 2005, Hội phẫu thuật viên nội soi tiêu hóa và Hội nội soi tiêu hóa của Mỹ đã nhóm họp và đưa ra hướng dẫn để phát triển chuyên ngành phẫu thuật nội soi qua đường tự nhiên [18]. Kết quả làm việc của nhóm này đã mang đến thành công ban đầu của việc áp dụng phẫu thuât nội soi qua lỗ tự nhiên trên người. Trường hợp đầu tiên cắt túi mật bằng nội soi hỗ trợ qua đường âm đạo ở người được thực hiện bởi Bessler M và cộng sự vào tháng 3 năm 2007 [8] và trường hợp cắt túi mật nội soi hoàn toàn qua đường âm đạo đầu tiên được thực hiện bởi Marescaux J và cộng sự vào tháng 9 năm 2007 [9]. - Năm 2007, Podolsky ER đã giới thiệu và phát triển kỹ thuật cắt túi mật nội một đường mổ.

Tác giả trình bày kỹ thuật sử dụng đường rạch da theo chiều dọc băng qua giữa rốn có chiều dài khoảng 18mm để đặt 3 trocar 5mm và tiến hành cắt túi mật mà không cần khâu treo túi mật. Tác giả gọi kỹ thuật này là Single Port Access Cholecystectomy [5]. 5 - Một hướng phát triển mới của khoa học công nghệ ra đời đã tác động trực tiếp đến ngành ngoại khoa đó là phẫu thuật rô bốt. Trường hợp ứng dụng rô bốt phẫu thuật trên người đầu tiên được thực hiện năm 1985, sử dụng trong sinh thiết thần kinh, sau đó ứng dụng vào chuyên ngành phẫu thuật tiết niệu năm 1988 và đến năm 1997 phẫu thuật rô bốt lần đầu tiên được ứng dụng vào cắt túi mật trên người [19].

Với ưu điểm sử dụng camera 3D có độ phân giải cao, cánh tay được thiết kế bởi một loạt hệ thống ròng rọc nên sự linh hoạt không kém gì so với bàn tay người. Thú vị nhất là phẫu thuật viên có thể điều khiển cuộc mổ ở bất kỳ địa điểm nào miễn là có kết nối với hệ thống rô bốt. Tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy về hiệu quả điều trị là tương đương với phẫu thuật nội soi, bên cạnh đó chi phí lại rất cao nên vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi. Có lẽ trong tương lai khi nền kinh tế phát triển và giá thành của phẫu thuật rô bốt giảm xuống thì đây là một lĩnh vực đầy hứa hẹn của ngành ngoại khoa [20],[21].

Việt Nam - Trước năm 1992, cắt túi mật bằng phương pháp mổ mở kinh điển [22]. - Năm 1992, bệnh viện Chợ Rẫy tiến hành ca cắt túi mật nội soi đầu tiên, tiếp theo đó là bệnh viện Việt Đức (1993) và bệnh viện Trung ương Huế (2000) [22]. - Năm 2008, bệnh viện Chợ Rẫy cắt túi mật nội soi với một trocar rốn [22]. - Năm 2009, bệnh viện Đại Học Y Dược TP.

Hồ Chí Minh triển khai cắt túi mật nội soi qua đường âm đạo [23]. - Sau hội nghị khoa học lần thứ 10 của hội Nội Soi Và Phẫu Thuật Nội Soi Châu Á Thái Bình Dương (ELSA) tổ chức tại Hà Nội năm 2010. Các bệnh viện thuộc tuyến trung ương trên toàn quốc trong đó có cả bệnh viện Đại Học Y Hà Nội, đã triển khai cắt túi mật nội soi một lỗ bằng dụng cụ chuyên dụng cho phẫu thuật nội soi một lỗ do các hãng trang thiết bị cung cấp mà trong đó thông dụng nhất là SILS™ Port của Covidien [10],[11],[12],[13]. Những khu vực giải phẫu và những biến đổi giải phẫu đƣờng mật cần chú ý trong thực hành cắt túi mật nội soi một lỗ.

Tam giác gan mật, tam giác Calot và khu vực Moosman Hình 1. Tam giác gan mật và tam giác Calot [24] Tam giác gan mật được hình thành bởi giới hạn bên phải là phần gần của túi mật và ống túi mật, bên trái là ống gan chung và phía trên là bờ dưới của thùy gan phải (hình 1. Tam giác này đầu tiên được mô tả bởi Calot năm 1891 và đã được giới hạn rộng ra những năm sau đó. Đối với Calot nguyên bản, cạnh trên của tam giác là động mạch túi mật.

Thành phần đi trong tam giác này gồm động mạch gan phải, động mạch túi mật và có thể có đường mật phụ bất thường. Khu vực Moosman là diện tích hình trong đường kính 30mm lắp khít trong góc của các ống gan - túi mật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật cắt túi mật nội soi một lỗ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc đánh giá hiệu quả và tính khả thi của phương pháp phẫu thuật nội soi một lỗ trong điều trị bệnh lý túi mật. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình kỹ thuật mà còn làm nổi bật những ưu điểm vượt trội như giảm đau sau mổ, thời gian hồi phục nhanh và tính thẩm mỹ cao. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các bác sĩ, chuyên gia y tế và bệnh nhân quan tâm đến các phương pháp phẫu thuật tiên tiến.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp phẫu thuật hiện đại, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu phẫu thuật thay khớp toàn phần điều trị lao khớp háng giai đoạn iv ổn định, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng vi phẫu thuật điều trị một số u tầng trước nền sọ bằng đường mở nắp sọ lỗ khóa trên cung mày, và Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả tái thông mạch trong điều trị bệnh lý tắc hẹp động mạch chi dưới mạn tính đa tầng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các kỹ thuật phẫu thuật tiên tiến và ứng dụng của chúng trong thực tiễn y học.