CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu đường mổ nắp sọ trên cung mày 1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới Hơn 100 năm trước, khi phẫu thuật khối u tuyến yên, W Dandy đã phải mở nắp sọ rất rộng bán cầu não trái để tiếp cận khối u (Hình 1. Nắp sọ cần mở rộng trong thời kỳ này vì trước mổ không chẩn đoán chính xác kích thước khối u, chưa có kính vi phẫu (sử dụng ánh sáng đèn đầu), chưa có dụng cụ vi phẫu.
Hình vẽ mô tả nắp sọ rộng bán cầu não trái khi W Dandy thực hiện để cắt bỏ khối u tuyến yên 1. Cùng với sự phát minh các phương pháp chẩn đoán mới chính xác hơn, dụng cụ chuyên dụng cho phẫu thuật thần kinh, dụng cụ vi phẫu, kính hiển vi, dụng cụ chuyên dụng cho phẫu thuật ít xâm lấn, các bác sĩ đã giảm kích thước của đường mổ cũng như nắp sọ khi phẫu thuật cắt khối u nền sọ (Hình 1. Phẫu thuật mở nắp sọ nửa bán cầu khi tiếp cận xử lý tổn thương nền sọ (A), phẫu mở nắp sọ nhỏ hơn (B) và mở nắp sọ lỗ khoá (C)5. - 1971, Donald Wilson là người đầu tiên sử dụng danh từ phẫu thuật lỗ khóa (keyhole surgery) để mô tả kỹ thuật mở nắp sọ nhỏ trong phẫu thuật sọ não.
Ông mô tả kết quả thực hiện phẫu thuật lỗ khóa trong kẹp 140 túi phình động mạch não5. - 1978, Brock và Dietz thực hiện phẫu thuật kẹp túi phình động mạch cảnh trong bằng đường mổ mở nắp sọ lỗ khoá trán nền5. - 1981, Perneczky thông báo phẫu thuật lỗ khóa trên cung mày thành công tại Hội nghị Phẫu thuật Thần kinh thế giới tại Munich, Đức5. - 1982, John A Jane đề xuất đường mổ lỗ khóa trên cung mày trong phẫu thuật cắt u hậu nhãn cầu và u nền sọ tầng trước5.
- 1990, Shilliato, Maira và Anile sử dụng phẫu thuật lỗ khóa trên cung mày cắt u tuyến yên ở trẻ em1. - 1996, Pospiech và cộng sự thực hiện phẫu thuật mở nắp sọ nhỏ cắt u não ở người già nhằm giảm tỉ lệ biến chứng và giảm lượng máu mất. Ông khuyến cáo nên sử dụng phẫu thuật ít xâm lấn đối với người già1. - 1998, Lindert và Perneczky thông báo 139 trường hợp phình động mạch não được phẫu thuật bằng đường mổ lỗ khóa trên cung mày (supraorbital keyhole surgery) 5–7.
5 - Sanchez-Vazquez M A thông báo phẫu thuật tổn thương nền sọ với đường mổ lỗ khóa trên cung mày1. - 2003, Reisch và Perneczky báo cáo kinh nghiệm 10 năm thực hiện phẫu thuật lỗ khóa xử lý các thương tổn như phình động mạch, u nền sọ bằng phẫu thuật lỗ khóa 6. - 2008, Perneczky và Reisch sử dụng nội soi hỗ trợ trong phẫu thuật lỗ khóa cắt các tổn thương nền sọ và kẹp túi phình động mạch não 1,5,7. - 2012, Yeremeyeva và cộng sự nghiên cứu giải phẫu thực dụng trong phẫu thuật lỗ khóa trên cung mày.
Tác giả sử dụng nội soi và kính vi phẫu trong mô tả các liên quan giải phẫu và đưa ra khuyến cáo: nội soi hỗ trợ giúp ích trong thăm dò và phẫu tích các thương tổn nền sọ trong phẫu thuật lỗ khóa trên cung mày8,18. - 2021, Robinow Z M và cộng sự phân tích 2629 bài báo trên thế giới về phẫu thuật lỗ khoá trên cung mày (8241 người bệnh) ghi nhận: tỉ lệ biến chứng 26,725,7% và tỉ lệ tử vong liên quan tới đường mổ 1,32,8%9. Những nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra một số cách thực hiện vi phẫu thuật lỗ khoá trên cung mày cắt u nền sọ, hoặc xử lý một số tổn thương như dị dạng mạch não, bệnh lý vùng nền sọ hay u não. Những phẫu thuật này được thực hiện trong điều kiện tại các nước phát triển, trang thiết bị đầy đủ, đồng bộ và chúng ta không có đủ điều kiện để áp dụng như vậy tại Việt Nam.
Lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam Phẫu thuật lỗ khóa phải có sự ứng dụng kính vi phẫu và dụng cụ vi phẫu trong phẫu thuật. Kính vi phẫu lần đầu tiên được sử dụng trong phẫu thuật thần kinh tại Việt Nam vào đầu những năm 1980 với kính vi phẫu thế hệ cũ có nhiều hạn chế. Đầu thế kỷ 21, kính vi phẫu được sử dụng thường quy trong phẫu thuật thần kinh. 6 - 2005, C Teo (phẫu thuật viên người Úc) và Đồng Văn Hệ thực hiện phẫu thuật lỗ khóa trên cung mày cắt khối u sọ hầu ở người bệnh nam 18 tuổi tại Bệnh viện Việt Đức10.
- 2006, Đồng Văn Hệ thông báo 8 trường hợp phẫu thuật với đường mổ lỗ khóa trên cung mày để cắt u não và kẹp túi phình động mạch thông trước10. - 2008, Đồng Văn Hệ và cộng sự công bố phẫu thuật cắt u màng não vùng hố yên bằng phẫu thuật lỗ khóa tại Hội nghị Phẫu thuật Thần kinh toàn quốc10. - 2010, Đồng Văn Hệ và cộng sự thông báo 17 người bệnh u tầng trước nền sọ được phẫu thuật bằng đường mổ lỗ khóa trên cung mày10. - 2010, Nguyễn Hữu Minh công bố phẫu thuật lỗ khóa thành công ở 1 trường hợp u nền sọ tại Bệnh viện 115.
- 2012, A Hunt (phẫu thuật viên người Úc) và cộng sự phẫu thuật kẹp túi phình11 động mạch não giữa bằng phẫu thuật lỗ khóa tại Bệnh viện Việt Đức. - 2012, Trần Đức Thái và cộng sự thông báo phẫu thuật lỗ khóa cắt u tầng trước nền sọ tại Bệnh viện Trung ương Huế. - 2013, Nguyễn Thế Hào thông báo phẫu thuật thành công phình động mạch não bằng phẫu thuật lỗ khóa tại Bệnh viện Việt Đức. - 2022, Trần Trung Kiên thông báo phẫu thuật kẹp phình động mạch não bằng đường mổ mở nắp sọ lỗ khoá 4.
Một số nghiên cứu tại Việt Nam cho rằng: phẫu thuật bằng đường mổ mở nắp sọ lỗ khoá trên cung mày có thể xử lý một số tổn thương khối u, dị dạng mạch não với kết quả khả quan. Hầu hết các nghiên cứu nêu trên đánh giá kết quả thực hiện vi phẫu thuật lỗ khoá trên cung mày ở nhóm nhỏ người bệnh. Những nghiên cứu đã công bố tại Việt Nam chỉ mô tả kết quả điều trị vi phẫu thuật lỗ khoá trên cung mày đối với một số loại u. Các tác giả chưa quan tâm tới quy trình phẫu thuật, chưa đề cập nhiều tới quy trình thực hiện phẫu thuật 7 này, chưa xây dựng quy trình, không đề cập tới khả năng áp dụng, khó khăn, thuật lợi, thiết bị và dụng cụ, điều kiện áp dụng, và chưa thấy công bố về quy trình phẫu thuật mở nắp sọ lỗ khoá để cắt khối u nền sọ.
Giải phẫu tầng trước nền sọ Cả mặt trong và mặt ngoài xương nền sọ được chia thành 3 tầng riêng biệt: tầng trước, tầng giữa và tầng sau nền sọ. Mỗi tầng sọ đều có vùng trung tâm ở giữa và hai vùng ngoại vi ở hai bên. Mặt trong xương nền sọ: Bờ trên xương bướm và bờ sau hố yên là ranh giới giữa tầng trước và tầng giữa nền sọ. Bờ trên xương đá và mỏm yên sau là ranh giới giữa tầng sau và tầng giữa nền sọ.
Mặt ngoài nền sọ tầng trước Mặt ngoài nền sọ tầng trước cũng được chia thành phần trung tâm ở giữa và phần ngoại vi ở hai bên. Mặt trước xương sọ Lỗ thoát của dây thần kinh trên ổ mắt (Supraorb Notch), rãnh trên ổ mắt (Sup Orb Fiss), xương mũi (Nasal Bone), rãnh dưới ổ mắt (Inf Orb Fiss), xương chính mũi (Vomer), xương cánh bướm nhỏ (Less Wing), xương cánh bướm lớn (Gr Wing), mảnh thẳng xương sàng (Eth Perp Plate), cuốn mũi dưới (Inf Concha) 12. Xương sọ mặt bên cho thấy cấu trúc xương như xương trán (Frontal), xương sàng (Ethmoid), xương thái dương (Temporal), xương bướm (Sphenoid), cung gò má (Zygomatic), xương hàm (Maxilla), vùng ranh giới giữa xương trán, thái dương và đỉnh (Pterion), vùng lỗ khoá (Keyhole) 12. Mặt trong nền sọ tầng trước Tầng trước nền sọ được hình thành bởi xương sàng, xương bướm và xương trán.
Mặt trong nền sọ tầng trước được chia thành phần trung tâm và phần ngoại vi. Phần trung tâm nằm ở giữa, che phủ phía trên của khoang mũi trên và xoang bướm. Phần trung tâm bao gồm mào gà, mảnh sàng (ở phía trước) và phần phẳng xương bướm (ở phía sau). Phần bên bao gồm phần bên trái và phần bên phải.
Hai phần bên tương tự nhau. Phần bên phủ trên hố mắt, ống thị giác. Phần bên được tạo nên bởi xương trán và cánh nhỏ xương bướm. Hai phần bên nghiêng vào trong về phía phần trung tâm.
Nhiều lỗ nhỏ ở phần trung tâm là nơi đi qua của tĩnh mạch liên lạc và dây thần kinh khứu giác. Lỗ thị giác và ống thị giác ở phần bên là nơi đi ra của dây thần kinh thị giác và động mạch mắt. Phủ lên trên tầng trước nền sọ là cấu trúc não của thùy trán, dây thần kinh số I (dây khứu giác), dây thần kinh số II (dây thị giác) động mạch não trước (ở giữa) và động mạch não giữa (ở hai bên). Hình ảnh mặt trong tầng trước nền sọ với các cấu trúc xoang hơi trán (Front.
Sinus), xương trán (Front. Bone), mảnh sàng (Crib. Plate), dây thần kinh khứu giác (Olf.Bulb và Olf.Tr), xương sàng (Eth.Bone), xương bướm (Sphen.Bone), cánh nhỏ xương bướm (Less.Wing), động mạch não trước (A.A) và động mạch não giữa (M. Hình ảnh mặt trong tầng trước nền sọ sau khi lấy bỏ trần hố mắt.
Đỉnh hố mắt (Orb.Apex), mảnh ngang xương sàng (Planum), dây thần kinh thị giác (Optic Sheath và Optic Strut), động mạch cảnh trong đoạn yên (Clin.Seg), cuống tuyến yên (Pit.Stalk), mảnh tận cùng (Lam. Hình ảnh vi giải phẫu vùng hố yên: Khi vén dây thần kinh thị giác lên, chúng ta thấy rõ tuyến yên, cuống tuyến yên, động mạch cảnh trong và xoang tĩnh mạch hang hai bên, động mạch tuyến yên và động mạch cấp máu cho dây thần kinh thị giác xuất phát từ động mạch cảnh trong. Cuống tuyến yên (Pit Stalk). Dây thần kinh số III (CN III), Động mạch trên yên (Sup.A), Xoang tĩnh mạch hang (Cav.Sinus), Động mạch mắt (Ophth.
Giải phẫu vùng phía sau tầng trước nền sọ và tầng giữa: vùng xoang tĩnh mạch trước liên xoang hang (Ant.Sinus), mỏm yên sau (Post.Clin), dây thần kinh III (CN III), dây thần kinh V1, V2, V3, dây thần kinh IV (CN IV), dây thần kinh VI (CN VI) 12, 11 Hình 1. Hình giải phẫu cắt đứng dọc qua hố yên cho thấy tầng trước nền sọ với các cấu trúc từ trước ra sau: xoang hơi trán (Front.Sinus), mảnh thủng xương sàng (Crib.Plate), động mạch sàng trước và động mạch sàng sau (Ant. Ra sau hơn chúng ta thấy rõ dây thần kinh thị giác, hố yên, cuống tuyến yên, não thất III, giao thoa thị giác. Phía trên nền sọ là thuỳ trán, nhánh của động mạch não trước.