Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến tái hẹp stent động mạch vành bằng siêu âm trong lòng mạch ivus

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến tái hẹp stent động mạch vành bằng siêu âm trong, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nội Tim mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2020

196
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tái hẹp stent động mạch vành

Tái hẹp stent động mạch vành (ISR) là hiện tượng giảm đường kính lòng stent sau can thiệp, được định nghĩa là hẹp ≥ 50% đường kính lòng mạch tại vị trí stent hoặc trong vòng 5mm xung quanh rìa stent. Lâm sàng, tái hẹp được xác định khi có hẹp ≥ 50% kèm theo các dấu hiệu như đau thắt ngực, thiếu máu cục bộ, hoặc diện tích lòng mạch nhỏ nhất < 4mm². Huyết khối trong stent là biến chứng nghiêm trọng, thường biểu hiện qua hội chứng mạch vành cấp hoặc đột tử. Các tiêu chuẩn chẩn đoán huyết khối trong stent được phân loại theo mức độ chắc chắn và thời gian xảy ra.

1.1. Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán

Tái hẹp stent động mạch vành được định nghĩa qua chụp mạch và lâm sàng. Chụp mạch xác định hẹp ≥ 50% đường kính lòng mạch, trong khi lâm sàng yêu cầu kèm theo các triệu chứng thiếu máu cục bộ. Huyết khối trong stent được phân loại theo ARC (Academic Research Consortium) với các mức độ chắc chắn và thời gian xảy ra, từ cấp tính đến rất muộn.

1.2. Tình hình tái hẹp stent ĐMV sau can thiệp

Tỷ lệ tái hẹp stent dao động từ 16%-44% đối với stent kim loại trần (BMS) và 3%-20% đối với stent phủ thuốc (DES) sau 1 năm. Tái hẹp thường xảy ra trong khoảng 3-20 tháng sau đặt stent, với 20% bệnh nhân có hội chứng vành cấp. Siêu âm trong lòng mạch (IVUS) là công cụ quan trọng để đánh giá tái hẹp, cung cấp thông tin chi tiết về mảng xơ vữa, tình trạng stent và hình thái tái hẹp.

II. Siêu âm trong lòng mạch IVUS trong đánh giá tái hẹp stent ĐMV

Siêu âm trong lòng mạch (IVUS) là phương pháp chẩn đoán hình ảnh tiên tiến, được sử dụng để đánh giá chi tiết tái hẹp stent động mạch vành. IVUS cung cấp thông tin chính xác về kích thước mạch, lòng mạch, và tình trạng stent, giúp phát hiện các yếu tố như nội mạc tăng sinh, stent không nở hết, hoặc gãy stent. IVUS cũng giúp xác định các đặc điểm hình thái của tái hẹp, từ đó hỗ trợ quyết định điều trị.

2.1. Ưu điểm của IVUS trong đánh giá tái hẹp

IVUS cho phép đo đạc chi tiết kích thước mạch, lòng mạch và stent, giúp tối ưu hóa quá trình can thiệp. IVUS còn phát hiện các yếu tố như nội mạc tăng sinh, stent không nở hết, hoặc gãy stent, những thông tin mà chụp mạch qua da không cung cấp được. Đây là công cụ quan trọng trong việc đánh giá và điều trị tái hẹp stent.

2.2. Ứng dụng của IVUS trong nghiên cứu và lâm sàng

Các nghiên cứu sử dụng IVUS đã chỉ ra các yếu tố liên quan đến tái hẹp stent, bao gồm đặc điểm bệnh nhân (tuổi cao, đái tháo đường) và đặc điểm tổn thương (chiều dài tổn thương, đường kính động mạch nhỏ). IVUS cũng được chỉ định trong các khuyến cáo hiện nay để đánh giá tái hẹp và xác định phương pháp điều trị phù hợp.

III. Nghiên cứu đặc điểm và yếu tố liên quan đến tái hẹp stent ĐMV bằng IVUS

Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng siêu âm trong lòng mạch (IVUS) để đánh giá đặc điểm tái hẹp stent động mạch vành và các yếu tố liên quan. Mục tiêu chính là nghiên cứu đặc điểm tổn thương tái hẹp và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hình thái tái hẹp. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng để giảm thiểu nguy cơ tái hẹp và cải thiện hiệu quả điều trị.

3.1. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá đặc điểm tổn thương tái hẹp stent động mạch vành bằng IVUS và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến hình thái tái hẹp. Kết quả sẽ giúp xác định các nguyên nhân gây tái hẹp và đề xuất phương pháp điều trị hiệu quả.

3.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp siêu âm trong lòng mạch (IVUS) để đánh giá tái hẹp stent. Các biến số nghiên cứu bao gồm kích thước mạch, lòng mạch, và tình trạng stent. Dữ liệu được thu thập và phân tích để xác định các yếu tố liên quan đến tái hẹp.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về tái hẹp stent động mạch vành 1. Định nghĩa - Tái hẹp stent ĐMV sau can thiệp (ISR - Instent Restenosis): là sự giảm đường kính trong lòng stent theo thời gian. Trên chụp mạch được định nghĩa là hiện tượng hẹp lại ≥ 50% đường kính lòng mạch tại vị trí đặt stent hoặc trong vòng 5 mm xung quanh rìa stent [9], [19].

Về lâm sàng, định nghĩa tái hẹp stent là khi có sự hiện diện của hẹp ≥ 50% đường kính ĐMV có stent và kèm theo một trong các dấu hiệu: đau thắt ngực tái phát, thiếu máu cục bộ mới trên điện tâm đồ, lưu lượng dự trữ vành (FFR) < 0,80, diện tích lòng mạch nhỏ nhất đo trên siêu âm trong lòng mạch (IVUS) < 4 mm2 (hoặc < 6 mm2 đối với thân chung ĐMV) hoặc tái hẹp ≥ 70% đường kính lòng mạch (kể cả không có triệu chứng) [1], [20], [21]. - Huyết khối trong stent: được định nghĩa là một hội chứng lâm sàng, thường biểu hiện dưới dạng hội chứng mạch vành cấp hay đột tử do sự tắc cấp tính của một stent còn thông trước đó. Huyết khối trong stent không do vỡ mảng xơ vữa mới và không có tái hẹp nặng trong stent trước đó. + Có nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán và định nghĩa huyết khối trong stent.

Hầu hết các tác giả thống nhất định nghĩa theo Academic Research Consortium (ARC). Định nghĩa huyết khối trong stent theo ARC phân theo các mức độ chắn chắn của biến cố và theo thời gian [3], [22] (bảng 1.1) Như vậy, trong vòng 30 ngày sau can thiệp đặt stent nếu phải tái can thiệp tổn thương đích thường do biến chứng của thủ thuật hoặc do huyết khối stent bán cấp bởi vì lúc đó chưa đủ thời gian cho quá trình tăng sinh nội mạc. Hai quá trình tái hẹp và huyết khối thường hiếm khi xảy ra đồng thời [3]. Tiêu chuẩn chẩn đoán huyết khối trong stent theo ARC Theo sự chắc chắn của biến cố 1.

Chắc chắn Hội chứng mạch vành cấp với bằng chứng huyết khối trên chụp mạch vành hay trên giải phẫu tử thi 2. Nhiều khả Tử vong không giải thích được nguyên nhân trong vòng 30 năng ngày sau đặt stent mà không có giải phẫu tử thi Hay MCT cấp trong vùng mạch máu có đặt stent nhưng không được khẳng định bằng chụp mạch vành. Có thể Tử vong không giải thích được sau 30 ngày đặt stent mà không có giải phẫu tử thi. Theo khung thời gian 1.

Sớm Cấp: trong vòng 24 giờ sau đặt stent Bán cấp: từ 2 tới 30 ngày sau đặt stent 2. Muộn Từ tháng thứ 2 tới 12 tháng 3. Rất muộn Sau 1 năm đặt stent 1. Tình hình tái hẹp stent ĐMV sau can thiệp 1.

Trên thế giới Thời kì đầu tỷ lệ tái hẹp sau nong bóng đơn thuần được báo cáo từ khoảng 15-55% tùy nghiên cứu [19]. Việc sử dụng stent kim loại trần (BMS: Bare Metal Stent) đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tắc mạch cấp ngay sau can thiệp và tái hẹp so với chỉ nong mạch bằng bóng. Tuy vậy, tỷ lệ triệu chứng đau ngực lại vẫn khá cao từ 30-40% và tỷ lệ phải can thiệp lại trong năm đầu từ 10-20%. Sự ra đời của stent phủ thuốc (DES) giúp làm giảm thêm tỷ lệ tái hẹp xuống một cách đáng kể so với stent kim loại trần [2].

Tại Hoa kỳ, năm 2005 tỷ lệ stent phủ thuốc được dùng lên tới 94%. Hiện nay stent phủ thuốc được sử dụng chủ yếu trong can thiệp động mạch vành. George D đã tổng kết các nghiên cứu sau đặt stent phủ thuốc từ năm 2004 - 2010 cho thấy tỷ lệ tái hẹp từ 16-41% (bảng 1. Hiện nay tỷ lệ tái hẹp stent phủ thuốc được báo cáo vào khoảng từ 3-20%, tùy thuộc vào bệnh nhân, tính chất tổn thương và thế hệ stent phủ thuốc [23], [3].

Các stent phủ thuốc thế hệ sau có tỷ lệ tái hẹp thấp hơn các thế hệ trước [1].   5 Phụ thuộc vào nghiên cứu và loại stent, tỷ lệ tái hẹp từ 15-35% trong đó stent càng mảnh càng giúp giảm tái hẹp [24], [20], [25]. Năm 2014, Salvatore và cs đã tổng kết trên 12094 bệnh nhân với 15004 tổn thương được chụp mạch sau 6-8 tháng đặt stent từ 1998-2009, tại 2 trung tâm ở Munich, Đức cho thấy tỷ lệ tái hẹp chung đối với các loại stent vào khoảng 26% [23], trong đó đã loại ra những bệnh nhân có nguy cơ tái hẹp cao là đái đường và suy thận mạn. Các yếu tố như mạch nhỏ, chiều dài stent, tổn thương phức tạp, đái tháo đường, suy thận mạn vẫn là những yếu tố tiên lượng tái hẹp độc lập [19], [23].

Tỷ lệ tái hẹp sent phủ thuốc trong các nghiên cứu Tổn Thuốc phủ Thời gian % tái Nghiên cứu Năm thương stent theo dõi hẹp Thử nghiệm mù đôi ISAR-SESIRE2 2010 450 SES 6-8 tháng 18% Nghiên cứu quan sát Lemos và cs 2004 24 SES 9,3 tháng 42,9% Kim và cs 2006 58 47% PES, 12 tháng 16,7% 53% SES Cosgrave và cs 2006 250 34% PES, 9 tháng 28,4% 66% SES Chatani và cs 2009 140 SES 2 năm 32,5% Rathore và cs 2010 351 SES 9 tháng 41,1% (Nguồn: George D và cscs, Jounal of the American College of Cardiology, [3] 1. Ở Việt Nam Đặt stent động mạch vành ở Việt nam được thực hiện lần đầu vào năm 1997. Cho tới nay, kĩ thuật can thiệp ĐMV ngày càng hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi ở nhiều trung tâm tim mạch trong cả nước. Tuy vậy những tổng kết chung về tình trạng tái hẹp sau can thiệp động mạch vành ở nước ta vẫn còn hạn chế.

Năm 2011, Nguyễn Quốc Thái và cs khảo sát tình trạng tái hẹp trên 216 bệnh nhân NMCT cấp có tỷ lệ tái hẹp stent là 16,7% [26]. Theo tác giả Bùi Long, nghiên cứu sử dụng stent phủ thuốc có Polymer tự tiêu ở 122 bệnh   6 nhân có hội chứng vành cấp tại bệnh viện Hữu Nghị từ năm 2010 - 2012, có tỷ lệ tái hẹp sau 12 tháng là 5,8%, tái can thiệp tổn thương đích là 3,3% [27]. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của tái hẹp stent ĐMV Tái hẹp stent ĐMV phụ thuộc vào đa yếu tố bao gồm các yếu tố về bệnh nhân, tính chất tổn thương và các yếu tố liên quan đến quá trình thủ thuật [7], [26]: * Các yếu tố liên quan tới bệnh nhân: tuổi, gen, người cao tuổi, tiền sử can thiệp ở bệnh nhân NMCT cấp, ĐTĐ, và suy thận là những yếu tố nguy cơ liên quan tới tái hẹp. Một NC theo dõi 6 tháng trên chụp mạch ở 418 bệnh nhân đái đường và 2672 bệnh nhân không đái đường sau khi được can thiệp ĐMV thấy tỷ lệ tái hẹp gặp ở 550/2672 bn (20,6%) ở nhóm không đái đường và 130/418 bn (31,1%) ở nhóm đái đường (p=0,01).

Kích thước mạch máu, chiều dài stent và BMI thấp hơn được báo cáo là những yếu tố tiên lượng tái hẹp stent ở những bệnh nhân ĐTĐ. Một NC khác đánh giá 1288 bệnh nhân (21% bệnh nhân ĐTĐ) cho thấy tái can thiệp tổn thương đích trong năm đầu tiên thường gặp hơn ở nhóm bệnh nhân đái đường (16% sv 10,9%, p=0,01) [19]. Ngoài ra tỷ lệ tử vong và nhồi máu cơ tim cũng cao hơn ở nhóm đái đường trong 5 năm theo dõi (25,4% với 17,9%, p=0,008) [28]. - Suy thận mạn: Bệnh nhân suy thận mạn được can thiệp ĐMV qua da có tỷ lệ tái hẹp cao (>30%) [19], [29].

Một nghiên cứu so sánh 40 tổn thương ở 34 bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối với 80 tổn thương ở những bệnh nhân không có suy thận được đặt stent ĐMV. Theo dõi sau 9 tháng tỷ lệ tái can thiệp tổn thương đích gấp đôi ở nhóm có suy thận giai đoạn cuối (35% so với 16%, p < 0,05). Một NC khác đánh giá hiệu quả ở những bệnh nhân suy thận mức độ trung bình được can thiệp ĐMV do NMCT cấp cho thấy tỷ lệ tái hẹp thường gặp hơn ở những bệnh nhân có suy thận so với những bệnh nhân chức năng thận bình thường (20,6% so với 11,8%, p=0,024) [19].   7 Khi nghiên cứu tái hẹp ở những bệnh nhân suy thận bằng IVUS cũng cho thấy ở nhóm suy thận chạy thận chu kì thường liên quan tới tiến triển canxi hóa của mảng xơ vữa trong tổn thương tái hẹp [30], [19], [29].

- Hội chứng mạch vành cấp: Một số NC cho thấy tỷ lệ tái hẹp stent ĐMV cao hơn ở nhóm đặt stent trên nền NMCT cấp [19]. Ở những bệnh nhân có hội chứng vành cấp tình trạng viêm, huyết khối trầm trọng hơn. Tỷ lệ tái hẹp cao hơn ở nhóm bệnh nhân này được lý giải bởi do hiện tượng thoái triển huyết khối ngoài stent sau can thiệp gây nên các tình trạng stent không áp sát, hoặc trong tình trạng NMCT huyết động không ổn định cần phải tiến hành thủ thuật nhanh chóng do đó có thể việc lựa chọn kích cỡ stent, áp lực bóng không được tối ưu dẫn tới các tình trạng stent không nở hết, stent nhỏ… Các yếu tố này tạo thuận cho nội mạc tăng sinh và dẫn tới tăng tỷ lệ tái hẹp. * Các yếu tố liên quan tới tổn thương: Týp tổn thương/chiều dài tổn thương như tổn thương phức tạp (B2/C), tổn thương tại lỗ hay chỗ chia, mạch máu nhỏ, bệnh nhiều thân ĐMV, tổn thương gây NMCT cấp, cấu trúc mảng xơ vữa là những yếu tố gây tăng nguy cơ tái hẹp stent.

Theo Shunji kasaoka và cộng sự khi tiến hành phân tích một số lượng lớn bệnh nhân (1706 bn) với những thông số trên IVUS cho thấy chiều dài stent, đường kính lòng mạch tham chiếu nhỏ và diện tích lòng mạch nhỏ là những yếu tố tiên lượng tái hẹp [25]. Bên cạnh đó với sự trợ giúp của IVUS trong định hướng điều trị can thiệp cũng giúp làm giảm tỷ lệ tái hẹp từ 29% xuống còn 24% trong nghiên cứu này. Rainer Hoffman và cs [31] nghiên cứu bằng IVUS trên 382 tổn thương ở 219 bệnh nhân được đặt stent ĐMV cho thấy tổn thương tại lỗ, gánh nặng mảng xơ vữa trước can thiệp và đường kính lòng mạch sau can thiệp là những yếu tố tiên lượng chính tái hẹp trong stent. Oemrawsingh và cs cũng báo cáo rằng chiều dài tổn thương trên 20 mm là một yếu tố tiên lượng tái hẹp [32].

Myeong-Ki Hong và cs nghiên cứu trên 550 bệnh nhân cũng kết luận rằng sau can thiệp diện tích stent nhỏ nhất dưới   8 5,5 mm2 và chiều dài stent trên 40 mm là những yếu tố tiên lượng tái hẹp ở stent phủ thuốc Sirolimus [33]. * Các yếu tố liên quan đến kĩ thuật can thiệp ĐMV: bao gồm cấu trúc stent như chất liệu stent, thiết kế, các thuốc phủ bề mặt stent, kích thước stent và kĩ thuật can thiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm và yếu tố liên quan đến tái hẹp stent động mạch vành bằng siêu âm IVUS là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng tái hẹp stent trong điều trị bệnh động mạch vành. Bằng cách sử dụng siêu âm nội mạch (IVUS), nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chi tiết về cơ chế và nguyên nhân dẫn đến tái hẹp, từ đó giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu đưa ra các giải pháp tối ưu hóa hiệu quả điều trị. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến lĩnh vực tim mạch và công nghệ y tế tiên tiến.

Để mở rộng kiến thức về các ứng dụng công nghệ trong y học, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ vật lý kỹ thuật ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị chứng đau cổ tay do bao hoạt dịch gân bị sưng, nghiên cứu này khám phá cách laser bán dẫn công suất thấp được sử dụng để điều trị các vấn đề về cơ xương khớp. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ vật lý kỹ thuật ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị đau khớp vai cũng là một tài liệu đáng chú ý, cung cấp thêm thông tin về ứng dụng laser trong điều trị đau khớp. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ vật lý kỹ thuật ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hiệu quả của laser trong điều trị các bệnh lý cột sống. Mỗi tài liệu này đều mang đến góc nhìn sâu sắc và bổ ích, giúp bạn nắm bắt được những tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực y học hiện đại.