CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm - Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể [7], [8]. - Ung thư không phải một bệnh mà là một nhóm bệnh gồm hơn 200 loại ung thư khác nhau. Ngoài những đặc tính chung, mỗi loại ung thư có những đặc điểm riêng biệt và có những hướng tiến triển khác nhau [7], [8],[9]. - UTDD là sự phát triển của các tế bào ung thư trong niêm mạc và thành dạ dày [10].2 Giải phẫu dạ dày - Dạ dày (ventriculus) còn gọi là vị, là chỗ phình của ống tiêu hóa, nối giữa thực quản và tá tràng.
Dạ dày là nơi nhận thức ăn, nhào trộn thức ăn với dịch vị để thành dưỡng chấp rồi đẩy xuống tá tràng. Hình thể của dạ dày Dạ dày gồm có thành trước, thành sau, bờ cong vị lớn, bờ cong vị bé và hai đầu: tâm vị ở trên, môn vị ở dưới. Từ trên xuống dưới, dạ dày được chia thành 5 phần: Hình 1.1 Giải phẫu dạ dày - Phần tâm vị: là một vùng rộng khoảng 3 đến 4cm, nằm kế cận thực quản và bao gồm cả lỗ tâm vị. Lỗ này thông thực quản với dạ dày, không có van đóng kín mà chỉ có nếp niêm mạc.
4 - Đáy vị: là phần phình to hình chỏm cầu, ở bên trái lỗ tâm vị và ngăn cách với thực quản bụng bởi khuyết tâm vị. Đáy vị thường chứa không khí, nên dễ nhìn thấy trên phim X quang. - Thân vị: nối tiếp phía dưới đáy vị, hình ống, cấu tạo bởi hai thành và hai bờ. Giới hạn trên là mặt phẳng ngang qua lỗ tâm vị và giới hạn dưới là mặt phẳng qua khuyết góc của bờ cong vị bé.
- Phần môn vị gồm có hai phần: + Hang môn vị: tiếp nối với thân vị chạy sang phải và hơi ra sau. + Ống môn vị: thu hẹp lại giống cái phễu và đổ vào môn vị. - Môn vị: Mặt ngoài được đánh dấu bởi tĩnh mạch trước môn vị. Ở giữa môn vị là lỗ môn vị, thông với hành tá tràng.
Lỗ môn vị nằm ở bên phải đốt sống thắt lưng 1. Vị trí và liên quan Dạ dày nằm sát dưới vòm hoành trái, ở sau cung sườn trái và vùng thượng vị trái - Thành trước: liên quan với thành ngực ở trên và thành bụng ở dưới. + Phần thành ngực: liên quan với các cơ quan trong lồng ngực qua vòm hoành như phổi và màng phổi trái, tim và màng tim. Thành trước dạ dày liên quan với thùy gan trái.
+ Phần thành bụng: dạ dày nằm sát dưới thành bụng trước, trong một tam giác giới hạn bởi bờ dưới gan, cung sườn trái và mặt trên kết tràng ngang. - Thành sau: + Phần đáy - tâm vị: nằm trên trụ trái cơ hoành, có dây chằng vị hoành gắn vào nên ít di động. + Phần thân vị: là thành trước của hậu cung mạc nối, qua đó dạ dày có liên quan với đuôi tụy, các mạch máu của rốn lách, thận và thượng thận trái. + Phần ống môn vị: nằm tựa trên mạc treo kết tràng ngang, qua đó liên quan với góc tá hổng tràng và các quai hổng tràng trên.
- Bờ cong vị bé: có mạc nối nhỏ bám vào, bên trong có vòng động mạch bờ cong vị bé và chuỗi hạch bạch huyết. Bờ cong vị bé liên quan với động mạch chủ bụng, động mạch thân tạng và đám rối tạng. - Bờ cong vị lớn: + Đoạn đáy vị áp sát vòm hoành trái và liên quan với lách. + Đoạn có dây chằng hay mạc nối vị lách chứa các động mạch vị ngắn.
+ Đoạn có mạc nối lớn chứa vòng động mạch bờ cong vị lớn. 5 Dạ dày liên quan với nhiều cơ quan xung quanh, sự chia sẻ trong việc cung cấp máu từ các động mạch nuôi dưỡng dạ dày đến các cơ quan lân cận và hệ thống bạch huyết phong phú của dạ dày, tất cả tạo nên những yếu tố thuận lợi cho những khối u từ dạ dày xâm lấn hoặc di căn đến các cơ quan kế cận [11]. Dịch tễ học về UTDD 1. Tình hình UTDD trên thế giới UTDD là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây tử vong do ung thư trên thế giới, dịch tễ học đã thay đổi trong những thập kỷ qua.
Hơn 70% trường hợp xảy ra ở các nước đang phát triển, 50% trường hợp ở các nước Đông Á (phần lớn gặp ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc). Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở nam giới gấp 2 lần nữ giới (ở nam là 3,9- 42,4; nữ là 2,2- 18,3). UTDD đứng thứ 2 trong các nguyên nhân gây tử vong ở cả 2 giới [8].000 người được chẩn đoán mắc UTDD trên toàn thế giới, trong đó có khoảng 738.000 người chết do căn bệnh này. UTDD cũng gây ra một trong những gánh nặng ung thư cao nhất, được đo bằng những năm sống bị điều chỉnh tàn tật mất đi.
Tỷ lệ mắc UTDD thay đổi nhiều giữa nam giới, nữ giới và giữa các quốc gia khác nhau. Tỷ lệ nam giới cao gấp 2 đến 3 lần so với nữ giới [12],[13]. Tỷ lệ UTDD chuẩn hóa hàng năm trên 100.000 người ở nam giới là 65,9 ở Hàn Quốc so với 3,3 ở Ai Cập. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc bệnh tương đối thấp, đặc biệt là ở người da trắng, với tỷ lệ mắc ước tính trên 100.000 người tương ứng ở nam giới (7,8) và phụ nữ (3,5) da trắng không phải gốc Tây Ban Nha.
Tỷ lệ mắc UTDD đã giảm ở hầu hết các nơi trên thế giới [13],[14]. Ung thư dạ dày Nữ Nam Tỷ lệ độ tuổi tiêu chuẩn/ 100.000 Tỷ lệ độ tuổi tiêu chuẩn/ 100.000 Các quốc gia đang phát triển Toàn cầu Các quốc gia đã phát triển Các quốc gia đang phát triển Toàn cầu Các quốc gia đã phát triển Năm Năm Biểu đồ 1.1 Xu hướng tỷ lệ mắc chuẩn theo độ tuổi đối với ung thư dạ dày trên thế giới 1990- 2010 Như được minh họa trong biểu đồ 1, tỷ lệ mắc chuẩn theo độ tuổi đã giảm đáng kể kể từ năm 1990, số năm sống chuẩn từ 1990 đến 2010 cho cả hai giới giảm 42% trên toàn cầu, 49% ở các nước phát triển và 40% ở các nước đang phát triển [21]. 6 Tỷ lệ sống 5 năm tương đối tổng thể là khoảng 20% ở hầu hết các khu vực trên thế giới, ngoại trừ ở Nhật Bản, nơi tỷ lệ sống 5 năm trên 70% cho giai đoạn I và II của UTDD đã được báo cáo. Tỷ lệ sống cao như vậy có thể là do hiệu quả của các chương trình sàng lọc hàng loạt ở Nhật Bản [17].
Ở châu Á, tỷ lệ tử vong ở nam cao hơn nữ. Tương tự như tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong UTDD là cao nhất ở Đông Nam Á. Tỷ lệ tử vong cũng khác nhau ở các nước khác nhau ở châu Á. Trung Quốc có tỷ lệ tử vong cao nhất từ UTDD (30,1 trên 100.000) tiếp theo là Nhật Bản (20,5 trên 100.000) và Hàn Quốc (13,8 trên 100.
Tỷ lệ tử vong của UTDD ở các khu vực thành thị của Ấn Độ giảm (tổng thể 3,6, nam 4,6 và nữ 2,7 trên 100. Nhưng ở nhiều vùng nông thôn, tỷ lệ tử vong vẫn cao và không thay đổi. Tỷ lệ tử vong ở các nước khác ở Nam Trung Á vẫn thấp và không thay đổi. Iran có tỷ lệ tử vong cao nhất của GC ở Nam Trung và Tây Á.
Tỷ lệ tử vong chung là 14,1 trên 100.000 (nam 19,9 và nữ 8,2) tỷ lệ này đang giảm dần. Tỷ lệ tử vong vẫn thấp và cải thiện chậm ở Jordan (tổng thể 4,5, nam 5,2 và nữ 3,8 trên 100.000) và Israel (tổng thể 4,7, nam 6,7 và nữ 3,0 trên 100. Tỷ lệ tử vong cũng giảm ở hầu hết các quốc gia ở Đông và Đông Nam Á [27],[28]. Tỷ lệ tử vong cao nhất xảy ra ở Đông Á trong khi tỷ lệ tử vong thấp nhất xảy ra ở Bắc Mỹ.
Ở châu Á, UTDD là ung thư phổ biến thứ ba sau vú và phổi. Nhưng đây là nguyên nhân thứ hai gây tử vong do ung thư ở châu Á sau ung thư phổi [27]. Mặc dù tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong của UTDD đang giảm dần ở châu Á, nhưng nó vẫn là một vấn đề sức khỏe đáng kể. Nam Nữ Đông Á Trung tâm Đông Âu Các vùng kém phát triển Thế giới Các khu vực phát triển Nam TâymỹÁ Trung tâm Hoa Kỳ Nam Âu Polynessia Nam Trung Á Ca ri bê Tây Âu Melanesia Đông Nam Á Bắc Âu Bắc Phi Australia/Newzealand Đông Phi Bắc Mỹ Trung Phi Bắc Phi Tỷ lệ sống Đông Phi Tử vong Liên bang Micronesia Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong theo tuổi của UTDD ước tính trên 100.000 dân của một số nước trên thế giới năm 2012 7 Nhìn chung, tỷ lệ mắc cao nhất ở Đông Á (đặc biệt là ở Hàn Quốc, Mông Cổ, Nhật Bản và Trung Quốc), Trung và Đông Âu, Nam Mỹ và thấp nhất ở Bắc Mỹ và hầu hết các vùng của Châu Phi (Biểu đồ 1.
Hơn một nửa dân số thế giới sống ở châu Á nhưTrung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã báo cáo tỷ lệ mắc UTDD cao nhất ở cả nam và nữ trên thế giới. Hơn một nửa tổng số trường hợp UTDD được chẩn đoán ở Đông Á mỗi năm. Nhìn chung, xu hướng tỷ lệ mắc UTDD ở châu Á đang giảm trong hai thập kỷ qua. Mặc dù tỷ lệ mắc UTDD vẫn không thay đổi ở một số nước châu Á, tỷ lệ mắc UTDD tổng thể ở Đông Á đang giảm [13].
Ở Trung Quốc, tỷ lệ mắc UTDD ở nam giới giảm từ 41,9 trên 100. Trong khi từ năm 2000 đến 2005, tỷ lệ mắc UTDD giảm từ 19,5 xuống còn 17,4 trên 100.000, tương ứng ở phụ nữ [14]. Tại Nhật Bản, tỷ lệ mắc UTDD giảm từ 80 xuống 60 trên 100. Năm 2008, tỷ lệ mắc UTDD tại Nhật Bản là 31,1 trên 100.000 ở cả nam và nữ [21].
Ở Hàn Quốc, tỷ lệ mắc UTDD cũng giảm xuống 65,6 trên 100.000 ở nam và 25,8 trên 100. Nhiều quốc gia Đông Nam Á (Singapore, Thái Lan và Malaysia) cũng đã quan sát thấy tỷ lệ mắc UTDD giảm chậm trong vài thập kỷ qua. Tỷ lệ mắc UTDD ở các khu vực khác của Nam Trung Á thấp so với các khu vực khác của châu Á, như Pakistan, Bangladesh và Sri Lanka cũng giảm dần [13,[18]. Tây Á là vùng đất của nhiều nhóm dân tộc, chủ yếu từ ba nền tảng chính: Semitic, Ấn-Âu và Thổ Nhĩ Kỳ.