phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài bao gồm 4 chƣơng và 14 mục. Đặc điểm phân loại và phân bố của cá sấu 2. Đặc điểm phân loại và phân bố Cá sấu là loài động vật có xƣơng sống, thuộc lớp bò sát (Reptile), bộ cá sấu (crocodilians), gồm 3 họ chính: Alligatoridae, Crocodiliae và Gavialidae đƣợc phân thành 7 nhóm và 21 loài. Các đặc điểm để phân biệt giữa 3 họ này dựa vào kích thƣớc cơ thể, hình dạng mõm, sự sắp xếp của răng, hình dạng tổ, đặc tính của da và phân bố địa lý [40].
Những loài cá sấu phân bố tại Việt Nam Cá sấu là loài bò sát lƣỡng cƣ, sống đƣợc trên cạn lẫn dƣới nƣớc, ở cả đầm lầy nƣớc ngọt và vùng nƣớc lợ, ở Việt Nam có 2 loài cá sấu chính là cá sấu Hoa Cà và cá sấu Xiêm. Cá sấu Hoa Cà (crocodylus prosus ) Phân bố: Australia, Banglades, Brunei, Mianma, Cambodia, Indonesia, Philippines, Thailand, Việt Nam. Đây là một trong những loài cá sấu có kích thƣớc lớn nhất, trung bình dài 6 – 7m, hung dữ, tấn công ngƣời. Chúng sinh sống ở khu vực ven bờ biển nƣớc lợ và và còn thấy ở các vùng nƣớc ngọt nhƣ cửa sông, đầm lầy… Trƣớc nay chúng có vùng phân bố rộng tại Đông Nam Á.
Tại Việt Nam, trƣớc đây cá sấu nƣớc lợ phân bố từ Vũng Tàu, Cần Thơ đến Kiên Giang, Phú Quốc, Côn Đảo… do tình trạng săn bắt quá mức nên loài này đang bị đe dọa tuyệt chủng, hiện không còn thấy ngoài tự nhiên mà chỉ còn khoảng 70 con nuôi tại Cần Giờ. Cá sấu Hoa Cà cái thành thục lúc 6-10 tuổi, dài 2,2 - 2,5m. Chúng làm tổ đẻ trứng vào mùa mƣa, mỗi lần đẻ khoảng 40- 60 trứng và ấp nở trong 80 – 90 ngày. Cá sấu Hoa Cà là loài bộ da có giá trị thƣơng phẩm cao nhất.
Cá sấu Xiêm (crocodylus siamensis ) Cá sấu Xiêm sinh sống ở các vùng đầm lầy nƣớc ngọt, hồ, sông, suối có dòng chảy chậm. Kích thƣớc nhỏ, chiều dài tối đa có thể lên tới 4m, trung bình khoảng 3m. Chúng giao phối từ tháng 12 đến tháng 3, mỗi năm đẻ 1 lần từ tháng 4 đến tháng 10, đào hố làm tổ trƣớc khi đẻ khoảng 1 tuần. Mỗi lần đẻ khoảng 20 – 50 2 trứng và ấp nở sau 75 – 85 ngày.
Trƣớc đây cá sấu nƣớc ngọt đƣợc tìm thấy nhiều ở sông Đồng Nai, Tây Nguyên và khắp Nam bộ. Do hiện tƣợng săn bắt quá mức nên phạm vi sống thu hẹp dần và còn thấy rất ít ở Kontum, Đaklak. Đây là loài cá sấu dễ thuần hóa và nuôi dƣỡng, hiện đang đƣợc chú ý phát triển trong chăn nuôi cá sấu lấy da và thịt thƣơng phẩm tại Việt Nam. Sản phẩm từ cá sấu Các sản phẩm từ cá sấu rất phong phú, ngành chăn nuôi cá sấu hiện nay chủ yếu cung cấp nguyên liệu cho sản xuất da, thịt, dầu và móng vuốt [76].
Da cá sấu Da cá sấu là mục tiêu chủ yếu để con ngƣời săn bắt và phải nuôi con vật nguy hiểm này. Da cá sấu mỏng hơn so với một số loại da khác và nó gồm 2 phần chính: da và lớp vẩy. Thành phần chủ yếu của vẩy là colagen và chỉ có một lớp keratin mỏng bao bọc bên ngoài. Da cá sấu có cấu tạo tƣơng tự nhƣ da các loại động vật có vú, nhƣng cứng hơn nhiều.
Da ở phần đầu cá sấu dính chặt với xƣơng của hộp sọ. Phần giá trị nhất của tấm da là phần da bụng. Da cá sấu là nguyên liệu đắt giá của ngành công nghiệp thuộc da. Sau khi đƣợc xử lý bằng hoá chất da cá sấu sẽ nổi vân óng ánh, là nguyên liệu làm ra các đồ trang sức đắt tiền nhƣ thắt lƣng, ví xách tay, giầy dép, mảnh áo khoác.
Từ mảnh da đã thuộc và trau chuốt có thể làm ra nhiều sản phẩm có giá trị rất cao. Thịt cá sấu Mục đích chính của việc nuôi cá sấu là lấy da, nhƣng trong nhiều trƣờng hợp việc bán các sản phẩm phụ, nhất là thịt đôi khi cũng thu đƣợc kết quả rất đáng kể. Thịt cá sấu trắng hồng, thớ sợi tƣơng tự nhƣ thịt lợn, bê. Loại thức ăn cá sấu ăn có ảnh hƣởng đến mùi vị của thịt cá sấu Nếu đƣợc nuôi bằng thức ăn là cá, ít nhiều thịt sẽ có mùi vị của cá.
Cá sấu thƣờng có lớp mỡ rất dày, nhất là ở đuôi và đặc biệt ở những cá sấu nuôi nhốt trong chuồng. Lƣợng đạm trong thịt cá sấu khá cao, tỷ lệ phần trăm của mỡ cũng khá cao. Để có thể thấy đƣợc tỷ lệ các thành phần trong thịt của cá sấu có thể so sánh với thành phần của thịt lợn, ở thịt lợn thành phần trung bình của các chất nhƣ sau: đạm 13%, mỡ 20%, nƣớc 57%.1 Thành phần của thịt cá sấu nuôi [64] Thịt lấy ở vị trí Đạm thô (%) Mỡ thô (%) Nƣớc (%) Tro (%) Đuôi 21. Các sản phẩm phụ khác của cá sấu Hai tuyến xạ ở dƣới hàm cá sấu đƣợc dùng trong công nghệ chế biến nƣớc hoa vì nhờ nó mà nƣớc hoa có mùi đặc trƣng và bền mùi hơn.
Một số bộ phận của cá sấu sấy khô đƣợc dùng làm các loại thuốc truyền thống ở phƣơng Đông, tuy nhiên thị trƣờng còn rất hạn chế. Mật cá sấu đƣợc dùng để chữa những bệnh ở đƣờng hô hấp, tiêu hoá. Một vài nơi bán dầu cá sấu chế từ mỡ của nó. Có ngƣời dùng xƣơng sọ và toàn bộ xƣơng của cá sấu để nấu cao, làm đồ thủ công mỹ nghệ, xay làm phân bón, thức ăn gia súc.
Tình hình chăn nuôi cá sấu trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình nuôi cá sấu trên thế giới Cá sấu là động vật quý hiếm, da đƣợc dùng làm hàng mỹ nghệ cao cấp, thịt làm thực phẩm, vì lý do đó số lƣợng cá sấu trong tự nhiên đã giảm nhanh và có nguy cơ tuyệt chủng do bị săn bắt nhiều. Cách đây 40-50 năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, tất cả các loài cá sấu trên thế giới đều là mục tiêu để con ngƣời săn lùng ráo riết. Lúc đó cá sấu bị coi là những con vật có hại, gây nguy hiểm cho ngƣời và gia súc nên ở nhiều nơi mọi ngƣời đƣợc phép tự do săn bắt vì vậy chúng ngày một khan hiếm.
Thực tế một số loài cá sấu đã bị tuyệt chủng nhƣ cá sấu sông ở Bắc Mỹ. Vào năm 1971 do nạn săn bắt, số cá sấu trên thế giới còn ít tới mức các nƣớc đã nhất trí áp đặt lệnh cấm xuất khẩu các sản phẩm cá sấu. Cá sấu đƣợc bảo vệ bằng cách đƣợc liệt vào phụ lục 1 của CITES (Công ƣớc buôn bán quốc tế các loài bị đe doạ). Tuy nhiên vào năm 1986 chúng đƣợc đƣa sang phụ lục II nghĩa là sản phẩm cá sấu nuôi có thể đƣợc xuất khẩu.
Để khắc phục tình trạng săn bắt cá sấu trong tự nhiên, việc nuôi cá sấu có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển loài động vật hoang dã nhƣng có 4 nhiều lợi ích này. Để bảo tồn, phát triển cũng nhƣ khai thác lợi ích của cá sấu, ở một số nƣớc nhƣ Thái Lan, Campuchia, Malaixia, Cuba, Hoa Kỳ, Việt Nam, các trại nuôi cá sấu tập trung với số lƣợng lên đến hàng nghìn con đã đƣợc xây dựng. Tại Ấn độ và Papua New Guinea, hai dự án đầu tiên trên thế giới về nuôi cá sấu đã đƣợc tổ chức Nông nghiệp và Thực phẩm của Liên hợp quốc (FAO) triển khai vào những năm 70. Ở ấn độ ngƣời ta đã nuôi thử nghiệm hàng trăm con cá sấu mõm dài sông Hằng (Gavialis gangeticus) để cứu loài vật này khỏi bị tuyệt chủng.
Ở Papua New Guinea cũng đã tiến hành những biện pháp mới đƣa cá sấu vào chƣơng trình bảo vệ các động vật quí hiếm. Sau hai dự án này, tổ chức FAO còn giúp nhiều nƣớc khác ở châu Á- Thái Bình Dƣơng, châu Phi và Mỹ La Tinh cùng phát triển nghề nuôi cá sấu. Khi cá sấu đƣợc đặt dƣới sự bảo vệ chính thức vào năm 1967, cá sấu nuôi lấy da trở thành lựa chọn khả thi nhất cho sản xuất da, chủ yếu tập trung ở miền nam Hoa Kỳ, Louisiana, Florida và Georgia. Việc chăn nuôi cá sấu nhanh chóng lan sang các quốc gia khác.
Cả Mỹ và Trung Quốc, cá sấu đang đƣợc nuôi với số lƣợng lớn [39], [67], [78]. Ở Châu phi có nhiều trại chăn nuôi cá sấu sông nile, cá sấu nƣớc mặn đƣợc nuôi nhiều ở Úc, còn cá sấu caiman nói chung có giá trị kinh tế nhỏ vẫn đƣợc nuôi và gây giống ở miền nam nƣớc Mỹ [72], [76], [79]. Cá sấu (Crocodylus niloticus) đã đƣợc nuôi ở Nam Phi 25 năm qua. Tại Nam Phi, nuôi cá sấu bắt đầu từ cuối những năm 1960 với 40 trang trại đƣợc cấp phép năm 1992.
Ngành công nghiệp truyền thống tập trung sản xuất những sản phẩm từ da cung cấp những phụ kiện cho ngành thời trang, chính sự thu hút này đã thúc đẩy quá trình chăn nuôi cá sấu tại đây. Đóng góp vào thu nhập từ nguồn lợi cá sấu tại Nam Phi bây giờ phải kể đến du lịch và nguồn thịt cá sấu cung cấp cho thị trƣờng. Nguồn thịt cá sấu thu đƣợc thƣờng bán cho các nhà hàng hoặc bán cho các trang trại cá sấu [51]. Thái Lan là một trong những nƣớc nổi tiếng thế giới về nuôi cá sấu.
Trại nuôi cá sấu đầu tiên của Thái Lan và cũng là của châu Á do ông Utai Yangprakom thành lập năm 1950 tại tỉnh Samut Prakan, một tỉnh lỵ cách Băng Cốc về phía Tây Nam 10 km. Năm 1960 trại mới chỉ xuất đƣợc 150 con cá sấu nhỏ, đến nay trại đã có hơn 5 40.000 con cá sấu với đủ các kích cỡ (mỗi ngày cần tới 4-5 tấn thịt gà làm thức ăn). Thành công của trại Samut Prakan đã không những cứu cá sấu nƣớc này khỏi bị tuyệt chủng mà còn liên tục cung cấp da và các sản phẩm phụ của cá sấu cho thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. Tình hình nuôi cá sấu tại Việt Nam Tính đến năm 2004 ở thành phố Hồ Chí Minh tổng đàn cá sấu của 4 doanh nghiệp đăng ký xuất khẩu (Trại cá sấu thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn xuất nhập khẩu Suối Tiên, công ty trách nhiệm hữu hạn chăn nuôi kinh doanh cá sấu Tồn Phát ở Củ Chi, Trại cá sấu Forimex thuộc công ty Lâm nghiệp Sài Gòn, công ty trách nhiệm hữu hạn Cá sấu Hoa Cà) khoảng 31732 con.
Ngoài ra còn khoảng 23 – 25 trại nuôi cá sấu quy mô hộ gia đình, tổng đàn cá sấu của các hộ này là 4796 con.