Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Suy tim là hậu quả sau cùng của các bệnh lý tim mạch phức tạp như bệnh động mạch vành, bệnh cơ tim, bệnh van tim và các rối loạn chuyển hóa hay dị tật bẩm sinh ảnh hưởng đến tim. Tần suất mắc suy tim trên thế giới và tại Việt Nam liên tục gia tăng theo sự già hóa của dân số. Theo các thống kê dịch tễ được trích dẫn trong văn bản:

  • Tại Hoa Kỳ, nghiên cứu Framingham ghi nhận khoảng 2,3 triệu người mắc suy tim (năm 1981) với khoảng 400.000 ca mắc mới mỗi năm (năm 1983); cập nhật của Hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2005 ghi nhận khoảng 5 triệu bệnh nhân đang điều trị và hơn 500.000 ca chẩn đoán mới hàng năm.
  • Tại Châu Âu, tần suất suy tim dao động từ 0,4% đến 2% trên tổng dân số hơn 500 triệu người (tương đương 2 đến 10 triệu người bệnh).
  • Tại Việt Nam, dựa trên quy mô dân số 80 triệu người và ước tính theo tỷ lệ dịch tễ học Châu Âu, ước tính có từ 320.000 đến 1,6 triệu người suy tim cần điều trị (năm 2016).
  • Bệnh chiếm khoảng 2% dân số người trưởng thành ở các quốc gia phát triển, vượt mức 8% ở nhóm người trên 75 tuổi, chiếm 3–5% tổng số ca nhập viện và tiêu tốn đến 2% tổng chi phí y tế.

Trước năm 1954, các thuốc điều trị suy tim chủ yếu chỉ giải quyết triệu chứng; từ sau năm 1985, các nhóm thuốc mới hướng đến việc cải thiện dự hậu lâu dài và kéo dài tuổi thọ cho người bệnh. Để đánh giá thực trạng sử dụng thuốc trên lâm sàng tại địa phương, đề tài được thực hiện với 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Khảo sát một số đặc điểm của bệnh nhân suy tim trong mẫu nghiên cứu.
  2. Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị suy tim.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên được chẩn đoán suy tim điều trị nội trú tại Khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.
  • Phạm vi không gian: Khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu hồi cứu trên các bệnh án nhập viện từ ngày 01/06/2016 đến ngày 31/12/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và hướng dẫn điều trị

  • Định nghĩa và cơ chế bệnh sinh: Suy tim là trạng thái bệnh lý khi cung lượng tim không đủ đáp ứng nhu cầu oxy của cơ thể trong các tình huống sinh hoạt. Cơ chế bù trừ bao gồm phản ứng tại tim và ngoài tim; khi vượt quá giới hạn bù trừ sẽ dẫn đến giảm tưới máu tổ chức và ứ trệ tuần hoàn ngoại vi (tăng áp lực tĩnh mạch ngoại vi, gan to, phù, khó thở, phù phổi cấp).
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán: Áp dụng tiêu chuẩn lâm sàng Framingham (gồm các tiêu chuẩn chính như khó thở kịch phát về đêm, tĩnh mạch cổ nổi, ran phổi, tim to, phù phổi cấp... và các tiêu chuẩn phụ như phù mắt cá, ho về đêm, khó thở khi gắng sức, gan to, dung tích sống giảm).
  • Phân độ chức năng và phân loại lâm sàng: Phân độ chức năng theo Hội Tim mạch New York (NYHA I–IV); phân giai đoạn theo Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ / Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA giai đoạn A, B, C, D); phân loại lâm sàng theo Hội Nội khoa Việt Nam; phân loại phân số tống máu thất trái (EF) theo AHA 2013 (EF > 55%: bình thường; 50–55%: giảm nhẹ; 40 đến < 50%: giảm vừa; < 40%: giảm nhiều).
  • Khuyến cáo dược lý: Phác đồ chẩn đoán và điều trị suy tim theo Quyết định 4068/QĐ-BYT của Bộ Y tế Việt Nam (2016), khuyến cáo của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam (2015) và Hiệp hội Tim mạch Châu Âu (ESC 2016).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, cắt ngang mô tả.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Lấy mẫu thuận tiện toàn bộ các hồ sơ bệnh án thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ trong thời gian nghiên cứu, đạt cỡ mẫu $n = 272$ bệnh án.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân $\ge 18$ tuổi; được chẩn đoán suy tim theo NYHA; hồ sơ có đầy đủ thăm khám lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng thường quy; thời gian điều trị nội trú tối thiểu 7 ngày; nhập viện từ 01/06/2016 đến 31/12/2016.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân mang thai hoặc đang cho con bú; thời gian điều trị gián đoạn; bệnh nhân chuyển từ khoa khác đến hoặc chuyển sang khoa khác; bệnh nhân tử vong trong đợt điều trị.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Nhập và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 16.0. Sử dụng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, giá trị trung bình $\pm$ độ lệch chuẩn SD, trung vị, min–max). Kiểm định phân phối chuẩn bằng One-Sample Kolmogorov-Smirnov. So sánh tỷ lệ bằng kiểm định kiểm tra sự khác biệt tỷ lệ; so sánh giá trị trung bình bằng phép kiểm Independent Samples T-Test (khác biệt có ý nghĩa thống kê khi $p < 0,05$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Mở đầu

Chương này tổng quan về gánh nặng bệnh tật của suy tim trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. Văn bản nhấn mạnh tính phức tạp của việc kiểm soát suy tim trong thực hành nội khoa, sự chuyển dịch từ các liệu pháp giảm triệu chứng đơn thuần sang các phác đồ cải thiện sống còn, từ đó xác lập tính cấp thiết của việc khảo sát mô hình sử dụng thuốc điều trị suy tim tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ nhằm cung cấp dữ liệu thực tiễn cho công tác điều trị nội khoa tại địa phương.

Chương 2. Tổng quan tài liệu

Chương 2 hệ thống hóa cơ sở lý luận chuyên ngành về bệnh học và dược lý học tim mạch:

  1. Đại cương về bệnh suy tim: Định nghĩa, cơ chế bệnh sinh của suy giảm cung lượng tim, hậu quả tăng áp lực tĩnh mạch ngoại vi (suy tim phải và suy tim trái), các dạng phân loại theo hình thái giải phẫu, tiến triển cấp/mạn, lưu lượng tim và phân số tống máu (PSTM giảm $\le 40%$, PSTM bảo tồn $\ge 50%$, PSTM bảo tồn giới hạn 41–49%).
  2. Nguyên nhân gây suy tim: Liệt kê các nhóm nguyên nhân suy tim tâm thu và tâm trương (bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, bệnh van tim, bệnh cơ tim giãn, rối loạn nhịp tim, tâm phế mạn, Basedow, thiếu vitamin B1).
  3. Chẩn đoán và phân độ: Trình bày bảng tiêu chuẩn Framingham, phân loại NYHA I–IV, phân độ theo Hội Nội khoa Việt Nam và đối chiếu giai đoạn A–D của ACC/AHA.
  4. Điều trị suy tim:
    • Các biện pháp không dùng thuốc: Giảm vận động gắng sức, ăn nhạt ($< 1,2\text{ g NaCl/ngày}$ tương đương $< 0,48\text{ g Na}^+$), hạn chế dịch ($500 - 1000\text{ ml/ngày}$), thở oxy, kiểm soát cân nặng, loại bỏ rượu bia và thuốc lá.
    • Các nhóm thuốc chính: Thuốc lợi tiểu (Thiazid, lợi tiểu quai Henle, lợi tiểu giữ kali); Thuốc ức chế men chuyển (ACEI); Thuốc chẹn thụ thể Angiotensin II (ARB); Thuốc chẹn thụ thể giao cảm Beta ($\beta$-blocker); Glycosid tim (Digoxin); Thuốc giãn mạch (nhóm Nitrat, Hydralazin); Thuốc ức chế kênh $I_f$ (Ivabradin); Thuốc kháng aldosteron (Spironolacton, Eplerenon); Omega-3.
    • Thuốc hỗ trợ: Thuốc hạ lipid máu (Statin), thuốc chống đông (Aspirin, Clopidogrel, Acenocoumarol, thuốc kháng đông đường uống mới), thuốc chống loạn nhịp (Amiodaron), thuốc trợ tim inotrope dương tính.
    • Các can thiệp kỹ thuật cao: Điều trị dụng cụ (máy khử rung tim cấy được ICD, máy tái đồng bộ tim CRT-P/CRT-D, dụng cụ hỗ trợ thất VAD) và chỉ định ghép tim.

Chương 3. Phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết về:

  • Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu dữ liệu hồ sơ bệnh án nội trú.
  • Địa điểm và thời gian thực hiện: Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 06/2016 đến tháng 12/2016.
  • Quy trình thu thập số liệu: Trích xuất hồ sơ bệnh án tại phòng lưu trữ theo phiếu khảo sát thống nhất gồm các chỉ tiêu nhân khẩu học, tiền sử bệnh, triệu chứng lâm sàng, kết quả siêu âm tim (EF), phân độ NYHA và toàn bộ danh mục thuốc điều trị nội trú.
  • Tiêu chí đánh giá mức độ khuyến cáo của thuốc theo Quyết định 4068/QĐ-BYT (các mức chỉ định Nhóm I, IIa, IIb, III kèm mức độ chứng cứ A, B, C).
  • Quy ước phân loại trị liệu: Đơn trị liệu (sử dụng 1 thuốc suy tim chính), Đa trị liệu (kết hợp từ 2 thuốc suy tim chính trở lên).

Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này công bố và bàn luận toàn bộ các dữ liệu thu thập được từ 272 bệnh án:

1. Đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng

  • Độ tuổi và giới tính: Bệnh nhân nam chiếm 51,8% (141 ca), nữ chiếm 48,2% (131 ca). Nhóm tuổi $\ge 70$ chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,9% (133 ca, gồm 21,7% nam và 27,2% nữ); tiếp theo là nhóm 60–69 tuổi (22,4%), nhóm 50–59 tuổi (16,2%), nhóm 40–49 tuổi (8,1%) và nhóm $< 40$ tuổi (4,4%). Sự khác biệt về phân bố giới tính giữa các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê ($p = 0,06$).
  • Yếu tố thúc đẩy suy tim: Bệnh mạch vành đứng hàng đầu với 86,4% (235 ca), trong đó thiếu máu cục bộ cơ tim chiếm 65,8% (179 ca) và nhồi máu cơ tim chiếm 20,6% (56 ca). Yếu tố thứ hai là tăng huyết áp chiếm 32,0% (87 ca). Kế tiếp là bệnh van tim chiếm 18,8% (51 ca), rối loạn nhịp tim chiếm 18,4% (50 ca), bệnh cơ tim chiếm 8,1% (22 ca) và Basedow chiếm 1,8% (5 ca).
  • Chỉ số phân số tống máu (EF) trước điều trị: Giá trị EF trung bình là $39,32 \pm 12,285%$ (dao động từ 18% đến 74%). Tỷ lệ bệnh nhân có suy giảm EF là 89,7% (244 ca), trong đó giảm nhiều ($\text{EF} < 40%$) chiếm đa số với 54,0% (147 ca), giảm vừa ($\text{EF } 40 - < 50%$) chiếm 27,2% (74 ca), giảm nhẹ ($\text{EF } 50 - 55%$) chiếm 8,5% (23 ca). Chỉ có 10,3% (28 ca) bệnh nhân có EF bình thường ($> 55%$).
  • Phân độ suy tim theo NYHA: Phần lớn bệnh nhân nhập viện ở mức độ suy tim nặng: NYHA độ III chiếm 85,7% (233 ca), NYHA độ II chiếm 12,5% (34 ca), NYHA độ IV chiếm 1,8% (5 ca); không ghi nhận trường hợp nào ở độ I (0%).

2. Tình hình sử dụng thuốc điều trị suy tim

  • Các nhóm thuốc chính được chỉ định:

    • Kháng aldosteron: Chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,6% (192 ca), toàn bộ là hoạt chất Spironolacton 25 mg.
    • Nhóm Nitrat: Chiếm 64,0% (174 ca), sử dụng duy nhất Isosorbid mononitrat (dạng 30 mg và 60 mg).
    • Thuốc lợi tiểu: Chiếm 57,0% (155 ca), gồm Furosemid 40 mg (56,6%, 154 ca) và Hypothiazid 25 mg (0,4%, 1 ca).
    • Glycosid tim: Chiếm 52,2% (142 ca), toàn bộ là Digoxin 0,25 mg.
    • Thuốc ức chế men chuyển (ACEI): Chiếm 45,2% (123 ca), gồm Lisinopril 10 mg (41,5%, 113 ca), Perindopril 4 mg (2,6%, 7 ca), Captopril 25 mg (0,7%, 2 ca) và Imidapril 5 mg (0,4%, 1 ca).
    • Thuốc chẹn thụ thể Angiotensin II (ARB): Chiếm 43,4% (118 ca), gồm Valsartan 80 mg (35,3%, 96 ca), Losartan 25 mg (5,5%, 15 ca), Telmisartan 40 mg (1,5%, 4 ca) và Irbesartan 150 mg (1,1%, 3 ca).
    • Thuốc chẹn Beta: Chiếm tỷ lệ thấp 13,2% (36 ca), gồm Bisoprolol 5 mg (9,9%, 27 ca), Metoprolol 50 mg (2,6%, 7 ca) và Carvedilol 12,5 mg (0,7%, 2 ca).
    • Ivabradin 5 mg: Chiếm 5,5% (15 ca).
  • Các thuốc và nhóm thuốc hỗ trợ:

    • Thuốc chống đông/kháng kết tập tiểu cầu: Clopidogrel 75 mg chiếm 66,2% (180 ca), Acenocoumarol 4 mg chiếm 21,7% (59 ca), Aspirin 81 mg chiếm 15,4% (42 ca).
    • Thuốc hạ lipid máu (Statin): Chiếm 61,4% (167 ca).
    • Bổ sung điện giải: Kali chlorid 0,5 g chiếm 6,6% (18 ca), Magiesium–B6 chiếm 4,0% (11 ca).
    • Thuốc khác: Thuốc chống loạn nhịp Amiodaron chiếm 1,5% (4 ca), Trimethazidin 20 mg chiếm 0,4% (1 ca), các thuốc hỗ trợ bệnh khác chiếm 5,1% (14 ca).
  • Mô hình phối hợp thuốc:

    • Đơn trị liệu chỉ chiếm 3,7% (10 ca).
    • Đa trị liệu chiếm ưu thế tuyệt đối với 96,3% (262 ca). Trong đó, phối hợp 4 thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất là 36,0% (98 ca); phối hợp 3 thuốc chiếm 26,5% (72 ca); phối hợp 2 thuốc chiếm 16,9% (46 ca); phối hợp 5 thuốc chiếm 16,5% (45 ca); phối hợp trên 5 thuốc chiếm 0,4% (1 ca).
    • Trong nhóm phác đồ có lợi tiểu (155 ca, 57%): Kiểu phối hợp phổ biến nhất là phác đồ 5 thuốc gồm [Lợi tiểu + Digoxin + Kháng aldosteron + ARB + Nitrat] chiếm 8,5% (23 ca); kế tiếp là [Lợi tiểu + Digoxin + Kháng aldosteron + ACEI + Nitrat] chiếm 7,0% (19 ca); phác đồ 4 thuốc [Lợi tiểu + Kháng aldosteron + ACEI + Digoxin] chiếm 5,9% (16 ca).
    • Trong nhóm phác đồ không dùng lợi tiểu (117 ca, 43%): Kiểu phối hợp phổ biến nhất là phác đồ 4 thuốc gồm [Digoxin + ARB + Kháng aldosteron + Nitrat] chiếm 5,9% (16 ca); kế tiếp là [Digoxin + ACEI + Kháng aldosteron + Nitrat] chiếm 4,8% (13 ca).

Chương 5. Kết luận và đề nghị

Tác giả đúc kết lại các phát hiện cốt lõi về phân bố bệnh nhân (tập trung ở người cao tuổi, đa số có bệnh mạch vành và suy tim độ III theo NYHA) và tình hình kê đơn (Spironolacton, Nitrat, Furosemid, Digoxin được dùng phổ biến; đa trị liệu chiếm chủ đạo, nổi bật là phác đồ 4 và 5 thuốc). Phần đề nghị hướng đến việc nâng cao hiệu quả tuân thủ phác đồ điều trị suy tim chuẩn mực tại bệnh viện.


Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp các dữ liệu nghiên cứu chính ($n = 272$)

Nhóm chỉ tiêu Phân loại / Hoạt chất Số ca ($n$) Tỷ lệ (%)
Độ tuổi $< 40$ tuổi 12 4,4%
40 – 49 tuổi 22 8,1%
50 – 59 tuổi 44 16,2%
60 – 69 tuổi 61 22,4%
$\ge 70$ tuổi 133 48,9%
Yếu tố thúc đẩy Bệnh mạch vành (Thiếu máu cơ tim: 65,8%; NMCT: 20,6%) 235 86,4%
Tăng huyết áp 87 32,0%
Bệnh van tim 51 18,8%
Rối loạn nhịp tim 50 18,4%
Bệnh cơ tim 22 8,1%
Basedow 5 1,8%
Phân độ NYHA NYHA độ I 0 0,0%
NYHA độ II 34 12,5%
NYHA độ III 233 85,7%
NYHA độ IV 5 1,8%
Phân số tống máu (EF) $\text{EF} > 55%$ (Bình thường) 28 10,3%
$\text{EF } 50 - 55%$ (Giảm nhẹ) 23 8,5%
$\text{EF } 40 - < 50%$ (Giảm vừa) 74 27,2%
$\text{EF} < 40%$ (Giảm nhiều) 147 54,0%
Nhóm thuốc chính Kháng aldosteron (Spironolacton 25 mg) 192 70,6%
Nitrat (Isosorbid mononitrat 30/60 mg) 174 64,0%
Lợi tiểu (Furosemid 56,6%, Hypothiazid 0,4%) 155 57,0%
Glycosid tim (Digoxin 0,25 mg) 142 52,2%
Ức chế men chuyển - ACEI (Lisinopril 41,5%...) 123 45,2%
Chẹn thụ thể Angiotensin II - ARB (Valsartan 35,3%...) 118 43,4%
Chẹn Beta (Bisoprolol 9,9%, Metoprolol 2,6%, Carvedilol 0,7%) 36 13,2%
Ivabradin 5 mg 15 5,5%
Hình thức điều trị Đơn trị liệu 10 3,7%
Đa trị liệu 2 thuốc 46 16,9%
Đa trị liệu 3 thuốc 72 26,5%
Đa trị liệu 4 thuốc 98 36,0%
Đa trị liệu 5 thuốc 45 16,5%
Đa trị liệu $> 5$ thuốc 1 0,4%

Đóng góp thực tiễn của đề tài

  1. Phản ánh thực trạng kê đơn lâm sàng tại địa phương: Khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng cụ thể về mô hình bệnh tật và thực hành kê đơn thuốc suy tim nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ giai đoạn nửa cuối năm 2016.
  2. Nhận diện khoảng cách giữa thực hành và khuyến cáo: Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ sử dụng thuốc chẹn Beta còn ở mức khiêm tốn (13,2%), trong khi nhóm kháng aldosteron (70,6%) và nitrat (64,0%) chiếm tỷ lệ rất cao, phản ánh đặc thù điều trị trên nhóm bệnh nhân nhập viện phần lớn có suy tim NYHA độ III và yếu tố thúc đẩy chính là bệnh mạch vành/thiếu máu cục bộ cơ tim.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Thiết kế nghiên cứu hồi cứu mô tả phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ đầy đủ của thông tin ghi chép trên hồ sơ bệnh án nội trú.
    • Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại một cơ sở y tế (Khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ) trong khoảng thời gian 7 tháng (06/2016 – 12/2016), chưa đánh giá được toàn diện diễn biến điều trị dài hạn sau khi người bệnh xuất viện chuyển sang điều trị ngoại trú.
    • Chưa phân tích sâu mối liên quan giữa các biến cố bất lợi, tương tác thuốc cụ thể và kết cục cải thiện chức năng tim trên từng phác đồ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Triển khai các nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc kết hợp đánh giá kết quả điều trị ngoại trú của bệnh nhân suy tim sau xuất viện.
    • Nghiên cứu can thiệp dược lâm sàng nhằm đánh giá tính an toàn, theo dõi nồng độ thuốc trong máu (TDM đối với Digoxin) và giám sát tác dụng không mong muốn khi phối hợp nhiều thuốc tim mạch trên bệnh nhân cao tuổi.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên chuyên ngành Dược học, Dược sĩ lâm sàng, Bác sĩ nội khoa và Bác sĩ chuyên khoa Tim mạch.
  • Nội dung có giá trị tham khảo:
    • Khung lý thuyết và các bảng đối chiếu phân loại suy tim (Framingham, NYHA, ACC/AHA, Quyết định 4068/QĐ-BYT).
    • Dữ liệu chi tiết về cơ cấu các kiểu phối hợp thuốc thực tế (phác đồ 2, 3, 4, 5 thuốc có và không có lợi tiểu) làm tài liệu tham khảo cho các phân tích sử dụng thuốc và bình bệnh án dược lâm sàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phân bố độ tuổi và giới tính của bệnh nhân suy tim trong mẫu nghiên cứu có đặc điểm gì nổi bật?
Bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,9% (133/272 ca). Tỷ lệ bệnh nhân nam là 51,8% (141 ca) và nữ là 48,2% (131 ca); sự khác biệt về giới tính giữa các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê với $p = 0,06$.

2. Bệnh lý nào là yếu tố thúc đẩy suy tim phổ biến nhất ở các bệnh nhân được khảo sát?
Bệnh mạch vành là yếu tố thúc đẩy đứng hàng đầu, xuất hiện ở 86,4% bệnh nhân (235 ca), trong đó thiếu máu cục bộ cơ tim chiếm 65,8% (179 ca) và nhồi máu cơ tim chiếm 20,6% (56 ca). Yếu tố đứng thứ hai là tăng huyết áp với 32,0% (87 ca).

3. Tỷ lệ bệnh nhân bị suy giảm phân số tống máu (EF) trước điều trị là bao nhiêu?
Có 89,7% bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu bị suy giảm phân số tống máu (giá trị EF trung bình toàn mẫu là $39,32 \pm 12,285%$). Trong đó, nhóm bệnh nhân suy giảm EF mức độ nhiều ($\text{EF} < 40%$) chiếm tỷ lệ cao nhất là 54,0% (147 ca).

4. Nhóm thuốc điều trị suy tim chính nào được chỉ định nhiều nhất và ít nhất trong mẫu nghiên cứu?
Nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất là kháng aldosteron với 70,6% (192 ca, toàn bộ là Spironolacton 25 mg). Nhóm thuốc chẹn Beta có tỷ lệ sử dụng thấp nhất trong các nhóm thuốc điều trị suy tim cơ bản với 13,2% (36 ca).

5. Kiểu điều trị đơn trị hay đa trị chiếm ưu thế và dạng phối hợp cụ thể nào xuất hiện nhiều nhất?
Đa trị liệu chiếm ưu thế vượt trội với 96,3%, trong đó phối hợp 4 thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (36,0%). Kiểu phối hợp cụ thể xuất hiện nhiều nhất trong nhóm có dùng lợi tiểu là phác đồ 5 thuốc gồm [Lợi tiểu + Digoxin + Kháng aldosteron + ARB + Nitrat] chiếm 8,5% (23 ca).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Nguyễn Kim Ngân đã hoàn thành việc khảo sát đặc điểm lâm sàng và thực trạng sử dụng thuốc trên 272 bệnh án suy tim điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2016. Kết quả nghiên cứu chỉ ra suy tim tập trung chủ yếu ở nhóm bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên với bệnh mạch vành là yếu tố thúc đẩy hàng đầu và đa số bệnh nhân ở mức độ suy tim NYHA độ III kèm giảm phân số tống máu. Về mặt điều trị, Spironolacton, Nitrat, Furosemid và Digoxin là các thuốc được sử dụng phổ biến nhất, với mô hình phối hợp đa trị (đặc biệt là 4 và 5 thuốc) giữ vai trò chủ đạo trong kiểm soát suy tim tại cơ sở nghiên cứu.