Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu hướng phát triển nông nghiệp đô thị, sản xuất hoa và cây cảnh đang trở thành ngành kinh tế mang lại giá trị gia tăng cao so với các loại cây trồng truyền thống. Cây hoa cúc lá nhám (Zinnia sp.), thuộc chi Cúc ngũ sắc (Zinnia), là loài cây thân thảo được ưa chuộng trên thị trường hoa chậu nhờ màu sắc phong phú, thời gian nở hoa kéo dài, kỹ thuật nhân giống thuận tiện và khả năng thích ứng với nhiều mùa vụ trong năm. Tại Thành phố Hồ Chí Minh – một trong những trung tâm tiêu thụ hoa kiểng lớn nhất cả nước – nhu cầu sử dụng hoa chậu phục vụ trang trí cảnh quan đô thị, công viên và các sự kiện ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, phần lớn các giống cúc lá nhám đang lưu hành trên thị trường hiện nay có nguồn gốc nhập nội, dẫn đến tình trạng các nhà vườn gặp khó khăn trong việc xác định giống có khả năng sinh trưởng ổn định, chống chịu sâu bệnh và đạt phẩm cấp thương phẩm cao dưới điều kiện khí hậu đặc thù của địa phương. Việc canh tác trực tiếp tại chỗ giúp tối ưu hóa chi phí vận chuyển từ các vùng chuyên canh xa như Đà Lạt hay Sa Đéc. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài "Khảo sát sinh trưởng phát triển và phẩm chất của 7 giống hoa cúc lá nhám (Zinnia sp.) trồng chậu vụ hè thu tại Thành phố Hồ Chí Minh" đã được thực hiện.

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là xác định được giống hoa cúc lá nhám trồng chậu sinh trưởng, phát triển tốt, đạt phẩm chất hoa cao trong vụ hè thu năm 2022 tại thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Theo dõi, thu thập số liệu và đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng sinh dưỡng của 7 giống hoa cúc lá nhám (chiều cao cây, số lá, đường kính thân, số nhánh trên thân chính, đường kính tán qua các giai đoạn).
  2. Khảo sát các mốc thời gian sinh trưởng, phát triển và các chỉ tiêu cấu thành phẩm chất hoa (tỷ lệ nảy mầm, ngày phân nhánh, ngày ra nụ, ngày ra hoa, ngày tàn hoa, tổng thời gian sinh trưởng, số nụ/cây, số hoa/cây, tỷ lệ hoa nở, đường kính hoa và độ bền hoa).
  3. Đánh giá tình hình phát sinh và mức độ gây hại của các đối tượng sâu, bệnh hại chính trên các giống tham gia thí nghiệm.
  4. Phân loại phẩm cấp chậu hoa theo tiêu chuẩn thương phẩm và sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế trên quy mô 1.000 chậu của 7 giống hoa cúc lá nhám, từ đó đưa ra kết luận và đề xuất giống triển vọng cho sản xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: 7 giống hoa cúc lá nhám thương mại bao gồm FZIN237 (Yellow Double Profision), FZIN052 (Preciosa Pink), FZIN161 (Magellan Cherry), FZIN051 (Preciosa White), FZIN257 (Double Zhara Raspberry Ripple), FZIN252 (Double Zhara Yellow) và FZIN164 (Magellan Orange – giống đối chứng).
  • Không gian nghiên cứu: Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Thời gian nghiên cứu: Vụ hè thu, từ tháng 06/2022 đến tháng 10/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cây hoa cúc lá nhám (Zinnia elegans Jacq.) thuộc lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae), phân lớp Cúc (Asterales), họ Cúc (Asteraceae), có nguồn gốc từ Trung Mỹ (Mexico) và Nam Mỹ. Về đặc tính thực vật học, cây có bộ rễ chùm ăn nông phát triển theo chiều ngang; thân thảo mọc đứng có phân nhánh mạnh, bề mặt phủ lông mềm. Dựa vào chiều cao thân, cúc lá nhám được phân thành ba nhóm: thân cao (75–90 cm), thân trung bình (45–60 cm) và thân lùn (15–45 cm); các giống sử dụng trong nghiên cứu này thuộc nhóm thân lùn phù hợp trồng chậu. Cụm hoa dạng đầu trạng đặc trưng, gồm các hoa cái dạng tràng lưỡi ở vòng ngoài và hoa lưỡng tính hình ống ở giữa đĩa hoa. Cúc lá nhám là cây ưa sáng, phản ứng với quang chu kỳ ngày ngắn khi phân hóa mầm hoa (thời gian chiếu sáng tối ưu 10 giờ/ngày), nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 10–35°C (tối hảo 15–20°C), độ ẩm giá thể thích hợp từ 60–70% và khả năng chịu ngập úng kém.

Thí nghiệm đơn yếu tố được bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design – RCBD) với 3 lần lặp lại. Thí nghiệm gồm 7 nghiệm thức tương ứng với 7 giống cúc lá nhám. Quy mô thí nghiệm gồm 21 ô cơ sở, mỗi ô bố trí 25 chậu (mỗi chậu trồng 1 cây), tổng số lượng là 525 cây trên toàn bộ diện tích 163,5 m² (kích thước khu đất 18,32 m × 8,92 m bao gồm rãnh đi lại và hàng bảo vệ xung quanh). Khoảng cách giữa các chậu trong ô là 10 cm, khoảng cách giữa các ô cơ sở là 50 cm và giữa các khối lặp lại là 80 cm.

Vật liệu và kỹ thuật thí nghiệm:

  • Nguồn giống: 7 giống hoa cúc lá nhám được cung cấp bởi Công ty TNHH Hạt giống hoa Việt Nam.
  • Giá thể ươm hạt: Sử dụng giá thể thương mại Klasmann.
  • Giá thể trồng chậu: Hỗn hợp mụn dừa (đã ngâm xử lý nước vôi Ca(OH)₂ 10% trong 14 ngày, xả nước và phơi khô), tro trấu (ngâm xả nước 2 lần/ngày trong 14 ngày) và phân bò hoai mục được phối trộn theo tỷ lệ thể tích 1:1:1 kết hợp ủ với chế phẩm nấm Trichoderma (1 kg/đống ủ) trong 20 ngày. Giá thể có các chỉ tiêu lý hóa: pH(H₂O) = 6,80; EC = 4,39 mS/cm; hàm lượng chất hữu cơ OM = 1,16%; đạm tổng số N = 0,79%; lân tổng số P₂O₅ = 0,48%; kali tổng số K₂O = 0,62%; dung lượng hấp thu CEC = 46,25 Meq/100g; dung trọng = 0,12 g/cm³; độ rỗng = 75,60%. Chậu trồng là loại chậu nhựa HDPE màu trắng có kích thước 16 × 12 × 14 cm (đường kính miệng × đường kính đáy × chiều cao), chứa khoảng 870 g giá thể.
  • Quy trình chăm sóc và bảo vệ thực vật: Hạt được ngâm nước ấm 30°C trong 3 giờ trước khi gieo vào khay xốp 84 lỗ. Cây con đạt 2 cặp lá thật được cấy sang chậu. Kỹ thuật bấm ngọn được tiến hành khi cây đạt 5–6 cặp lá thật nhằm kích thích phân cành cấp 1. Chế độ phân bón sử dụng định kỳ gồm phân kích rễ N3M (5 g/L), phân hữu cơ Humic USA (0,2 g/L), NPK 30-10-5, NPK 20-20-20, đạm cá sinh học, chất điều hòa sinh trưởng Atonik 1.8SL (0,63 mL/L) và phân bón lá chuyên dùng tạo mầm hoa NPK 16-31-16+TE (1,25 g/L). Phòng trừ ốc bằng bả mồi Trioc annong (hoạt chất Metaldehyde), phòng nấm khuẩn bằng thuốc gốc Bismerthiazol (KASURA) và Mancozeb (Dithane), phòng trừ sâu hại bằng thuốc Sapen Alpha 5EC (hoạt chất Cypermethrin).

Phương pháp theo dõi và xử lý số liệu:

  • Trên mỗi ô cơ sở, chọn ngẫu nhiên 9 cây ở vị trí trung tâm để gắn thẻ theo dõi định kỳ 7 ngày/lần bắt đầu từ 10 ngày sau trồng (NST).
  • Các chỉ tiêu theo dõi gồm: Tỷ lệ nảy mầm (%), ngày phân nhánh, ngày ra nụ (đạt kích thước 0,5 cm), ngày ra hoa, ngày hoa tàn, tổng thời gian sinh trưởng phát triển (TGSTPT); chiều cao cây (cm), số lá (lá/cây), đường kính thân (mm, đo cách 2 lá mầm 1 cm bằng thước kẹp điện tử), số nhánh trên thân chính, đường kính tán (cm); tỷ lệ cây bị sâu khoang hại (%); số nụ/cây, số hoa/cây, tỷ lệ hoa nở (%), đường kính hoa (mm) và độ bền hoa trên cây (ngày).
  • Tiêu chuẩn phân cấp phẩm chất hoa dựa theo khung đánh giá của Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007) thành 3 cấp: Loại 1 (tán cân đối, không sâu bệnh, khuyết tật < 3%, chiều cao > 30 cm, đường kính hoa > 4,5 cm), Loại 2 (không cân đối, có khuyết tật > 6%, chiều cao < 25 cm) và Loại 3 (không đạt tiêu chuẩn thương phẩm).
  • Hiệu quả kinh tế sơ bộ tính trên quy mô 1.000 chậu thông qua các chỉ tiêu: Tổng thu, Tổng chi, Lợi nhuận thuần và Tỷ suất lợi nhuận.
  • Xử lý số liệu: Số liệu thu thập được tổng hợp bằng phần mềm Microsoft Excel và xử lý phân tích phương sai (ANOVA), kiểm định phân hạng trung bình LSD bằng phần mềm thống kê chuyên ngành SAS 9.1 ở các mức xác suất α = 0,05 và α = 0,01.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các đặc tính sinh vật học của cây cúc lá nhám (Zinnia sp.), phân tích các yêu cầu về điều kiện sinh thái (nhiệt độ, ánh sáng, quang chu kỳ, chế độ nước và nhu cầu dinh dưỡng khoáng đa - trung - vi lượng). Tác giả tổng quan bức tranh sản xuất hoa cúc trên thế giới (với diện tích dẫn đầu của Trung Quốc đạt 44.079 ha hoa cắt cành vào năm 2008) và tình hình canh tác hoa kiểng tại Việt Nam (vùng chuyên canh Đà Lạt chiếm 40% diện tích và 50% sản lượng hoa cả nước; làng hoa Sa Đéc với 506 ha và hơn 2.000 chủng loại hoa kiểng). Phần tổng quan nghiên cứu phân tích các công trình chọn tạo giống, xử lý điều khiển ra hoa bằng quang chu kỳ và nhiệt độ của các tác giả quốc tế (Runke, Hendrids, Rosenvist), đồng thời đối chiếu với các kết quả khảo nghiệm cúc lá nhám trồng chậu trong nước: nghiên cứu của Nguyễn Thị Trúc Ly (2021) xác định giống TPR đạt tỷ lệ nảy mầm 88,0%, lợi nhuận 13,2 triệu đồng/1.000 chậu; nghiên cứu của Đặng Thị Bích Hoàng (2021) trên 7 giống cúc vụ đông xuân 2020 xác định giống FZIN164 có chiều cao 30,1 cm, độ bền hoa 21,3 ngày và tỷ suất lợi nhuận 1,7 lần.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết điều kiện khí tượng tại trạm thực nghiệm trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 9/2022: nhiệt độ trung bình dao động 28,0–29,3°C (nhiệt độ cao nhất đạt 35,0–35,6°C, thấp nhất 23,8–24,9°C), tổng lượng mưa cao nhất vào tháng 8/2022 (314,6 mm), độ ẩm không khí trung bình 78–80%, số giờ nắng dao động từ 156,3 đến 205,4 giờ. Tác giả mô tả chi tiết nguồn gốc và đặc tính ban đầu của 7 giống cúc lá nhám thương phẩm, các bước xử lý nguyên liệu phối trộn giá thể hữu cơ (tỷ lệ 1:1:1), thông số hóa lý giá thể sau ủ, quy cách chậu và khay ươm, quy trình kỹ thuật canh tác (bấm ngọn, bón phân gốc, phun phân bón lá theo từng giai đoạn phát triển), danh mục hoạt chất bảo vệ thực vật phòng trừ sâu bệnh, sơ đồ bố trí thí nghiệm RCBD và các công thức toán học đo đạc chỉ tiêu nông học, phân cấp phẩm cấp chậu hoa và hạch toán kinh tế.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương này phân tích toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được qua 6 nội dung chính:

  • Thời gian sinh trưởng và phát triển: Tỷ lệ nảy mầm của 7 giống đạt từ 80,0% đến 91,2%. Giống FZIN237 đạt tỷ lệ nảy mầm cao nhất (91,2%), bắt đầu phân nhánh sớm nhất (25,7 NST), xuất hiện nụ hoa sớm nhất (33,0 NST), nở hoa sớm nhất (42,7 NST) và có thời gian sinh trưởng phát triển là 77,1 ngày. Giống FZIN257 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất (75,6 ngày), trong khi giống đối chứng FZIN164 có thời gian sinh trưởng dài nhất (83,6 ngày).
  • Khả năng sinh trưởng dinh dưỡng: Ở giai đoạn thu hoạch (45 NST), chiều cao cây có sự phân hóa rõ rệt, dao động từ 28,8 cm đến 40,2 cm; trong đó giống FZIN161 đạt chiều cao lớn nhất (40,2 cm), kế đến là FZIN052 (38,5 cm), giống FZIN237 đạt chiều cao 28,8 cm (dáng cây lùn cân đối, chống đổ ngã). Số lá tại 45 NST dao động từ 30,2 đến 41,1 lá/cây; FZIN237 đạt số lá nhiều nhất (41,1 lá/cây). Đường kính thân đạt từ 4,8 mm đến 5,7 mm; FZIN051 có thân to nhất (5,7 mm). Số nhánh trên thân chính dao động từ 5,9 đến 11,1 nhánh/cây; FZIN252 đạt 11,1 nhánh/cây và FZIN237 đạt 10,6 nhánh/cây. Đường kính tán của FZIN237 phát triển rộng nhất, đạt 34,6 cm tại thời điểm 45 NST.
  • Tình hình sâu bệnh hại: Trong suốt vụ hè thu 2022, nhờ thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa định kỳ nên bệnh hại không xuất hiện. Đối tượng sâu hại chính là sâu khoang (Spodoptera litura Fabricius) cắn phá lá và nụ hoa với tỷ lệ hại dao động từ 8,7% đến 14,9%; trong đó giống FZIN237 có tỷ lệ bị hại thấp nhất (8,7%), giống FZIN052 bị hại cao nhất (14,9%) và giống đối chứng FZIN164 bị hại 11,0%.
  • Khả năng phát triển và phẩm chất hoa: Số nụ trên cây dao động từ 5,5 đến 20,2 nụ/cây; số hoa dao động từ 3,3 đến 18,3 hoa/cây; tỷ lệ hoa nở dao động từ 60,1% đến 90,6%. Giống FZIN237 vượt trội với 20,2 nụ/cây, 18,3 hoa/cây và tỷ lệ hoa nở đạt 90,6%. Đường kính hoa của giống đối chứng FZIN164 đạt kích thước lớn nhất (81,3 mm), trong khi FZIN237 đạt 56,5 mm. Độ bền hoa trên cây của FZIN237 kéo dài nhất (19,4 ngày), tương đương giống đối chứng FZIN164 (18,6 ngày).
  • Tỷ lệ chậu thương phẩm: Giống FZIN237 đạt tỷ lệ chậu Loại 1 cao nhất (77,3 chậu trên tổng số theo dõi), chậu Loại 2 là 8,3 chậu và chậu Loại 3 là 14,4 chậu. Giống FZIN052 có số chậu Loại 1 thấp nhất (36,2 chậu).
  • Hiệu quả kinh tế trên 1.000 chậu: Tổng chi phí đầu tư cho 1.000 chậu dao động từ 7,7 triệu đồng (các giống FZIN237, FZIN257, FZIN252) đến 8,1 triệu đồng (các giống FZIN161, FZIN164). Tổng tỷ lệ chậu thương phẩm (Loại 1 + Loại 2) dao động từ 67,9% đến 85,6%. Giống FZIN237 mang lại tổng thu cao nhất (21,0 triệu đồng), lợi nhuận thuần cao nhất (13,3 triệu đồng) và tỷ suất lợi nhuận cao nhất (1,7 lần). Giống FZIN252 xếp thứ hai với lợi nhuận 12,3 triệu đồng và tỷ suất lợi nhuận 1,6 lần. Các giống FZIN161, FZIN051 và FZIN257 có tỷ suất lợi nhuận thấp nhất (1,1 lần).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã thu thập và phân tích hệ thống số liệu thực nghiệm hoàn chỉnh về 7 giống hoa cúc lá nhám trồng chậu trong điều kiện vụ hè thu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, phẩm chất hoa và hiệu quả kinh tế được tổng hợp trong bảng đối chiếu sau:

Chỉ tiêu theo dõi FZIN237 FZIN052 FZIN161 FZIN051 FZIN257 FZIN252 FZIN164 (ĐC)
Tỷ lệ nảy mầm (%) 91,2 80,0 85,0 86,1 87,4 86,0 85,0
Ngày phân nhánh (NST) 25,7 28,7 28,6 28,0 28,9 26,8 30,8
Ngày ra nụ (NST) 33,0 36,0 36,9 35,1 36,2 35,0 37,1
Ngày ra hoa (NST) 42,7 48,2 49,8 48,0 48,3 44,9 50,0
Ngày hoa tàn (NST) 62,1 63,2 62,8 64,7 60,6 62,0 68,6
Tổng TGSTPT (ngày) 77,1 78,2 77,9 79,7 75,6 77,0 83,6
Chiều cao cây 45 NST (cm) 28,8 38,5 40,2 30,7 30,1 29,8 32,7
Số lá tại 45 NST (lá/cây) 41,1 32,7 33,4 30,2 38,7 39,3 32,7
Đường kính thân 45 NST (mm) 4,8 5,2 5,6 5,7 5,6 5,6 4,8
Số nhánh tại 45 NST (nhánh/cây) 10,6 6,7 6,0 5,9 8,7 11,1 7,6
Đường kính tán 45 NST (cm) 34,6 26,0 25,8 23,6 27,9 30,9 30,1
Tỷ lệ sâu khoang hại (%) 8,7 14,9 13,3 13,3 10,6 13,4 11,0
Số nụ/cây (nụ) 20,2 5,5 6,7 7,7 11,0 16,5 6,7
Số hoa/cây (hoa) 18,3 3,3 4,7 5,2 6,7 11,6 5,4
Tỷ lệ hoa nở (%) 90,6 60,1 70,2 67,5 60,9 70,3 80,6
Đường kính hoa (mm) 56,5 60,9 59,7 62,7 53,4 60,9 81,3
Độ bền hoa trên cây (ngày) 19,4 15,0 13,0 16,6 12,3 14,6 18,6
Tỷ lệ chậu thương phẩm (%) 85,6 72,8 69,8 68,9 67,9 81,9 76,1
Tổng chi phí (triệu đồng/1.000 chậu) 7,7 7,9 8,1 7,9 7,7 7,7 8,1
Tổng thu (triệu đồng/1.000 chậu) 21,0 17,5 16,8 16,6 16,5 20,0 18,3
Lợi nhuận (triệu đồng/1.000 chậu) 13,3 9,6 8,7 8,7 8,8 12,3 10,2
Tỷ suất lợi nhuận (lần) 1,7 1,2 1,1 1,1 1,1 1,6 1,3

Kết luận và đề xuất của tác giả:

  • Trong số 7 giống khảo nghiệm, giống FZIN237 (Yellow Double Profision) được đánh giá là giống phù hợp nhất với điều kiện sinh thái vụ hè thu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giống này có tỷ lệ nảy mầm cao (91,2%), thời gian ra hoa sớm (42,7 NST), chiều cao cây vừa phải (28,8 cm) giúp chống đổ ngã tốt, phân cành mạnh (10,6 nhánh/cây), tán rộng (34,6 cm), số hoa nhiều (18,3 hoa/cây), độ bền hoa cao (19,4 ngày), tỷ lệ chậu thương phẩm đạt 85,6% và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất (lợi nhuận 13,3 triệu đồng/1.000 chậu, tỷ suất lợi nhuận 1,7 lần). Kế tiếp là giống FZIN252 (Double Zhara Yellow) với tỷ lệ thương phẩm 81,9% và lợi nhuận 12,3 triệu đồng/1.000 chậu.
  • Tác giả đề xuất đưa giống FZIN237 vào cơ cấu sản xuất hoa chậu tại địa phương trong vụ hè thu, đồng thời khuyến nghị áp dụng quy trình xử lý giá thể phối trộn mụn dừa : tro trấu : phân bò (1:1:1) kết hợp kỹ thuật bấm ngọn ở giai đoạn 5–6 cặp lá thật để tối ưu hóa hình thái tán cây.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước:

  • So với nghiên cứu của Đặng Thị Bích Hoàng (2021) thực hiện trong vụ đông xuân 2020 vốn xác định giống Magellan Orange (FZIN164) đạt hiệu quả cao nhất (chiều cao 30,1 cm, độ bền hoa 21,3 ngày, tỷ suất lợi nhuận 1,7 lần), nghiên cứu này đã chỉ ra rằng trong điều kiện vụ hè thu (mưa nhiều, ẩm độ cao 78–80%), giống FZIN164 bộc lộ hạn chế về thời gian sinh trưởng kéo dài (83,6 ngày), số hoa ít (5,4 hoa/cây) và tỷ lệ chậu thương phẩm thấp hơn (76,1%). Ngược lại, giống FZIN237 thể hiện tính thích ứng vượt trội trong điều kiện mùa mưa với khả năng chống chịu sâu khoang tốt hơn (tỷ lệ hại 8,7% so với 11,0% của FZIN164) và đạt tỷ suất lợi nhuận cao nhất (1,7 lần).
  • Công trình đã cung cấp thêm dẫn liệu khoa học về phản ứng nông học và phân hóa phẩm cấp của các bộ giống cúc lá nhám thương mại mới khi canh tác trên nền giá thể hữu cơ phối trộn tại vùng đất TP. Hồ Chí Minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận đã xác định một số giới hạn thực tế trong phạm vi triển khai:

  • Thí nghiệm mới chỉ được thực hiện trong phạm vi một vụ canh tác duy nhất (vụ hè thu từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2022) tại một điểm nghiên cứu (Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, thành phố Thủ Đức), chưa theo dõi biến động sinh trưởng qua các mùa vụ khác nhau trong năm (vụ đông xuân, vụ xuân hè).
  • Thí nghiệm áp dụng một công thức phối trộn giá thể cố định (mụn dừa, tro trấu, phân bò hoai mục tỷ lệ 1:1:1) và một chế độ phân bón quy chuẩn, chưa khảo sát ảnh hưởng của các tỷ lệ phối trộn giá thể khác hoặc các liều lượng phân bón khác nhau đối với từng giống.

Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo bao gồm:

  • Tiếp tục bố trí thí nghiệm lặp lại qua các vụ canh tác khác trong năm nhằm đánh giá toàn diện tính ổn định về năng suất, phẩm chất hoa và khả năng thích ứng thời tiết của giống FZIN237 và FZIN252.
  • Nghiên cứu sâu hơn về các công thức dinh dưỡng chuyên biệt, mật độ bố trí chậu và các biện pháp điều tiết sinh trưởng nhằm nâng cao hơn nữa tỷ lệ hoa nở và kích thước hoa cho giống FZIN237.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Bảo vệ Thực vật và Hoa viên Cảnh quan có thể tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm đơn yếu tố theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), phương pháp theo dõi các chỉ tiêu nông học cây hoa chậu, cách tính toán phẩm cấp hoa và phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm SAS 9.1.
  • Kỹ thuật viên nông nghiệp và các nhà vườn sản xuất hoa kiểng thương phẩm tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận có thể ứng dụng trực tiếp quy trình kỹ thuật phối trộn và xử lý giá thể hữu cơ (mụn dừa, tro trấu, phân bò hoai kết hợp nấm đối kháng Trichoderma), kỹ thuật bấm ngọn kích nhánh, lịch trình bón phân qua lá theo giai đoạn và lựa chọn giống cúc lá nhám phù hợp cho vụ hè thu nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống hoa cúc lá nhám nào thể hiện khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế cao nhất trong vụ hè thu 2022 tại TP. Hồ Chí Minh? Giống FZIN237 (Yellow Double Profision) đạt kết quả tốt nhất với tỷ lệ nảy mầm 91,2%, thời gian ra hoa sớm nhất (42,7 NST), chiều cao cây 28,8 cm, số nhánh đạt 10,6 nhánh/cây, đường kính tán rộng 34,6 cm, số hoa đạt 18,3 hoa/cây, độ bền hoa 19,4 ngày, tỷ lệ chậu thương phẩm đạt 85,6%, mang lại lợi nhuận cao nhất (13,3 triệu đồng/1.000 chậu) và tỷ suất lợi nhuận đạt 1,7 lần.

2. Thành phần và tỷ lệ phối trộn giá thể trồng cúc lá nhám trong thí nghiệm được thực hiện như thế nào? Giá thể trồng chậu được phối trộn từ mụn dừa (đã xử lý ngâm nước vôi 10% trong 14 ngày), tro trấu (ngâm xả mặn 14 ngày) và phân bò hoai mục theo tỷ lệ thể tích 1:1:1, kết hợp ủ với 1 kg nấm Trichoderma trong 20 ngày. Giá thể có pH(H₂O) đạt 6,80; EC đạt 4,39 mS/cm; OM đạt 1,16%; hàm lượng đạm tổng số 0,79%; lân tổng số 0,48%; kali tổng số 0,62% và độ rỗng đạt 75,60%.

3. Đối tượng sâu bệnh hại chính xuất hiện trong quá trình thí nghiệm là gì và mức độ gây hại ra sao? Trong suốt quá trình thí nghiệm không ghi nhận sự xuất hiện của bệnh hại nhờ quy trình phun phòng trừ định kỳ. Đối tượng sâu hại chính là sâu khoang (Spodoptera litura Fabricius) gây hại trên lá và nụ hoa với tỷ lệ dao động từ 8,7% đến 14,9%; trong đó giống FZIN237 có tỷ lệ cây bị sâu hại thấp nhất (8,7%) và giống FZIN052 có tỷ lệ sâu hại cao nhất (14,9%).

4. Giống đối chứng FZIN164 (Magellan Orange) có đặc điểm gì nổi bật so với các giống còn lại? Giống đối chứng FZIN164 có đường kính hoa lớn nhất trong số 7 giống khảo nghiệm (đạt 81,3 mm) và độ bền hoa cao (18,6 ngày). Tuy nhiên, trong điều kiện vụ hè thu, giống này có thời gian sinh trưởng dài nhất (83,6 ngày), ra hoa muộn nhất (50,0 NST), số hoa trên cây tương đối thấp (5,4 hoa/cây), tỷ lệ chậu thương phẩm đạt 76,1% và tỷ suất lợi nhuận đạt 1,3 lần.

5. Chi phí đầu tư và mức lợi nhuận bình quân trên quy mô 1.000 chậu cúc lá nhám dao động trong khoảng nào? Tổng chi phí đầu tư cho 1.000 chậu hoa cúc lá nhám dao động từ 7,7 triệu đồng đến 8,1 triệu đồng tùy theo giá cây giống. Tổng doanh thu thu được dao động từ 16,5 triệu đồng đến 21,0 triệu đồng, đem lại lợi nhuận thuần từ 8,7 triệu đồng đến 13,3 triệu đồng/1.000 chậu, tương ứng với tỷ suất lợi nhuận dao động từ 1,1 lần đến 1,7 lần.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Ngọc Hảo đã hoàn thành việc đánh giá toàn diện các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, phẩm chất hoa và hiệu quả kinh tế của 7 giống cúc lá nhám trồng chậu trong vụ hè thu 2022 tại thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu khẳng định giống FZIN237 (Yellow Double Profision) và FZIN252 (Double Zhara Yellow) là hai giống có khả năng thích nghi cao với điều kiện mùa mưa, cho tán cây cân đối, sai hoa, tỷ lệ thương phẩm cao và mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội. Công trình cung cấp cơ sở khoa học thực nghiệm và quy trình kỹ thuật canh tác giá thể hữu cơ thiết thực cho các cơ sở sản xuất và nhà vườn hoa kiểng đô thị tại khu vực phía Nam.