Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về hoa cúc lá nhám 1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại thực vật học Cúc lá nhám có nguồn gốc từ Mexico, là một trong những loài hoa cảnh thuộc họ Cúc (Asteraceae) với nhiều màu sắc khác nhau (Karimi và ctv, 2002; Dole và Wilkins, 2005). Cúc lá nhám có tên khoa học là Zinnia elegans, thuộc chi Zinnia sp, tên tiếng Anh la Zinnia Thumberlina Mix. Hoa cúc lá nhám được phát triên từ các thực vật hoang dã mọc ở Mexico. Giông hoa cúc nhám đã tách ra và được thuan hóa ở nhiêu khu vực của miên Nam nước Mỹ, bao gồm trung tâm Florida.
Hoa cúc lá nhám thuộc phân lớp cúc (Asterydae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae hay Compisitae), chi cúc (Zinnia sp. Cúc lá nhám còn có tên gọi khác như: cúc ngũ sắc, cúc cánh giấy, cúc Zinnia,. Chung là dòng cúc đẹp, hoa to, nhiều cánh và màu sắc đa dạng, bao gồm các loại cúc nhám nửa kép, cúc nhám đơn, cúc nhám kép.2 Đặc điểm thực vật học Hoa Lá Nụ Thân Hình 1.1 Đặc điểm thực vật học cây cúc lá nhám 3 Ré của cây hoa cúc lá nhám là loại rễ chùm, rễ ít ăn sâu mà thường tập trung phát triển theo chiều ngang, chủ yếu ở tang dat 10 - 20cm. Khối lượng bộ rễ lớn do sinh nhiều rễ phụ và lông hút, nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh.
Thân cây là thân thảo, mọc thành bụi. Cây phát triển hướng dần lên trên. Một gốc cây gồm nhiều thân cây nhỏ tạo thành. Thân cũng có màu xanh mát giống với lá và cũng có khá nhiều lông con.
Chiều cao của cây phụ thuộc vào đặc tính giống, giống cúc thấp chỉ cao từ 20 - 30 cm, còn giống cúc cao có thé cao trên 1 m. Nhìn chung, cúc zinnia là loài thực vật có tính đa dạng cao (Ghahsare và Kafi, 2009). Lá của cúc lá nhám là dạng lá đơn mọc đôi xứng với nhau trên thân, lá có dạng bâu dục, nhọn về phân cuôi lá. Trên phiên nôi gân rõ ràng, lá thường rât xanh và có nhiêu lông con trên thân lá.
Hoa có màu sắc tươi sáng, nở trên đỉnh ngọn mỗi cành, nhiều cánh hoa hình dẹt xếp liền nhau và xếp thành từng tầng. Mỗi bông hoa có khoảng 4 - 5 tầng xếp tròn đều xung quanh nhụy, các tầng cánh ôm sát cuống và xòe rộng dài 2 - 3 cm đa dạng màu sắc như vàng, hồng, cam, đỏ hoặc trắng hồng. Đường kính hoa phụ thuộc vào giống: giống hoa to có đường kính 10 - 12 cm, loại trung bình 5 - 7 cm và loại nhỏ I - 2 cm (Dang Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003). Quả bế khô chỉ chứa 1 hạt, hạt có phôi thang và không có nội nhũ, quả có 2 răng ở đầu, có màu từ xám đến đen (Phạm Hoàng Hộ, 2003) Hạt phát triển ở phần cuối cánh hoa.
Sau khi hoa tàn hết và cánh hoa rụng đi thì trên bầu nhụy bắt đầu hình thành nhiều hạt màu đen nhỏ, người ta sẽ dùng hạt này dé nhân giống. Giống hoa cúc lá nhám được thực hiện trong thí nghiệm thuộc nhóm thân thấp, dạng cánh kép và đường kính hoa loại trung bình với màu đỏ tham.3 Điều kiện ngoại cảnh Nhiệt độ: Đa số các giống cúc lá nhám đều ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp dé phát triển và sinh trưởng là từ 10°C — 35°C, nhưng khoảng nhiệt độ tốt nhất là từ 15°C — 20°C. Anh sáng: Cúc lá nhám là cây ngày ngắn, ưa sáng. Trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, cây cần ánh sáng ngày dài trên 13 giờ.
Thời gian chiếu sáng thời kì phân hoá mầm hoa tốt nhất là 10 giờ ánh sáng/ngày, cường độ ánh sáng trung bình > 0,8 mol/m”/s, với nhiệt độ thích hợp là 18°C. Thời kì cây bắt đầu ra rễ cần ánh sáng ít, thời kì chuẩn bi phân cành cây cần nhiều ánh sáng hơn dé quang hợp. Âm độ: Âm độ đất từ 60 - 70%, âm độ không khí 55 - 65% rất thuận lợi cho cúc sinh trưởng. Nếu âm độ không khí > 80% thì cây sinh trưởng mạnh, nhưng dé mắc một số bệnh do nắm.
Thời kỳ thu hoạch cần thời tiết trong xanh và khô ráo, tuy nhiên nếu ẩm độ không khí quá cao hoa sẽ bị thối Dat trồng: Dat thích hợp dùng dé gieo hạt cúc lá nhám là loại đất thịt nhẹ, tơi xốp, có khả năng thoát nước tốt, pH đất phù hợp từ 6 - 6,5, pH nước từ 6 - 7 và EC < 0,5.4 Dinh dưỡng Theo Nguyễn Thị Kim Lý và ctv (2012), trong quá trình sinh trưởng, cây cúc cần đủ các chất đạm (N), lân (PzO;), kali (KO) và các chất trung - vi lượng. Đạm có tác dụng thúc đây sự tăng trưởng thân lá, làm cây xanh tốt, sinh trưởng nhanh. Thiếu đạm cây can cỗi, lá úa vàng, hoa nhỏ và xâu, nhưng nếu thừa cành sẽ phát triển nhiều, thân béo mập có thé không ra hoa. Cây cúc cần nhiều đạm từ sau khi trồng, cây còn nhỏ đến lúc bắt đầu phân hoá mầm hoa.
Lượng N nguyên chất cần cho 1.000 chậu từ 5,8 — 6,6 kg. Lân giúp bộ rễ phát triển mạnh, cây con khoẻ, tỷ lệ sống cao, thân cứng, nhanh chóng ra hoa, hoa bền, màu sắc đẹp, giúp cây hút đạm nhiều hơn và tăng khả năng chống rét cây. Thiếu lân bộ rễ kém phát triển, cành nhánh ít hoa, hoa ra muộn, chóng tản, màu sắc nhợt nhạt. Cúc yêu cầu lân đặc biệt mạnh vào thời kì sau khi hình thành nụ và ra hoa.
Lượng PzOs cần cho 1 ha từ 120 - 140 kg. Kali giúp cho sự tổng hợp và vận chuyền các chất đường bột trong cây, giúp cây chịu hạn, chịu rét và chống chịu sâu bệnh. Cùng với lân, kali đảm bảo quá trình quang hợp của cây hiệu quả. Thiêu kali mau sắc hoa nhot nhạt, mau tàn.
Cây cúc cân kali vào thời kì kết nụ và ra hoa. Lượng KạO cần cho 1 ha cúc từ 100 - 120 kg. Canxi rất cần cho sự phát triển của bộ rễ cúc, giúp cây tăng khả năng chịu nhiệt, ngoài ra canxi có tác dụng giảm chua, tăng độ phì cho đất. Canxi được bón cho cúc thông qua vôi bột.
Lượng vôi bón cho l1 ha trồng cúc từ 250 - 300 kg. Các chất vi lượng như kẽm (Zn), sắt (Fe), đồng (Cu), mangan (Mn), bo (B), Magié (Mg), lưu huỳnh (S) tuy cần ít nhưng cũng không thể thiếu. Các chất vi lượng làm tăng cường hoạt động của các men sinh học, giúp các quá trình quang hợp. Thiếu vi lượng cây sinh trưởng kém, lá nhỏ và có các đốm chết hoại.
Đối với loại phân này thường bón qua lá vào thời kì cây con, với nồng độ thấp từ 0,01 - 0,02%.5 Các thời kì sinh trướng, phát triển của cây cúc lá nhám Các thời kì sinh trưởng phát triển của cúc lá nhám gồm: Giai đoạn nay mầm (1 - 3 NSG): pH phù hợp cho giai đoạn này là 5,8 - 6,2. Độ âm vừa phải sẽ giúp cây phát triển tốt, nếu âm độ quá cao sẽ làm cây dé bị nam bệnh tấn công ngược lại am độ thấp sẽ không đủ điều kiện cho cây phát triển. Nhiệt độ cần thiết từ 21 - 24°C. EC < 0,5 (mS/cm), nếu lớn hon sẽ dé làm chết rễ.
Ánh sáng không cần thiết trong giai đoạn nảy mầm. Gieo hạt trong bóng râm. Giai đoạn kết thúc quá trình nảy mầm của hạt. Rễ đã bắt đầu phát triển, hình thành thân cây và lá mầm (4 - 6 NSG): Nhiệt độ từ 18 - 20°C, EC: 0,5 - 0,75 (mS/cm).
Cây cần thời gian chiếu sáng dài để thúc đây nhanh quá trình ra hoa của cây, tuy nhiên cần che sáng 75% do cây nhỏ chưa thích nghỉ với ánh sáng mạnh. Trong giai đoạn này, chỉ cần một ít phân bón có gôc canxi dé giúp cho cây được cứng cáp hon. Giai đoạn hình thành lá thực (7 - 10 NSG): Ở giai đoạn này rễ đã kết lại với nhau thành 1 khối và xuất hiện từ 2 - 3 cặp lá thật. Tiến hành cho cây từ khay ươm/bầu ươm sang chậu có kích cỡ to hơn dé giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt hơn.
Có thé ngắt dot dé tạo tán cho cây và sử dụng chất kích thích sinh trưởng ra rễ, ra nhánh là cần thiết cho giai đoạn này. Sâu bệnh hại cũng phát triển mạnh ở giai đoạn này, đặc biệt là sâu ăn lá, sâu cuốn lá, bọ trĩ. Nên việc giữ cho lá ít bị 4m ướt cũng giúp cây ít bi nấm bệnh tấn công. Giai đoạn ra nụ hoa (25 - 32 sau khi sang chậu): Cây bắt đầu cho những nụ ở thân chính, sau đó cho các nụ ở cành phụ.
Ở giai đoạn này nên bón phân Kali dé kích thích ra hoa. Nếu chiếu sáng liên tục cây sẽ hạn chế ra hoa. Chế độ dinh dưỡng cân đối sẽ giúp hoa ra liên tục và bền mảu.2 Giới thiệu về phân bón Phân bón là các chất hữu cơ hoặc vô cơ chứa các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng được bón vào đất hay hòa vào nước phun, xử lí hạt giống, rễ và cây con (Đường Hồng Dật, 2002).1 Khái niệm về phân bón lá Phân bón lá là những hợp chất dinh dưỡng, có thể là các nguyên tố đa lượng, trung lượng hoặc vi lượng được hòa tan trong nước và phun lên cây để cây hấp thu. Bón phân qua lá, phân phát huy hiệu lực nhanh chóng, tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường đạt ở mức cao.
Cây sử dụng đến 95% chất dinh đưỡng qua phân bón lá, trong khi bón qua dat, cây chi sử dụng 45 - 50% (Đường Hồng Dat, 2002).2 Các dạng phân bón lá Có thé chia thành các nhóm theo: dang, thành phần dinh dưỡng va cơ chế liên kết các nguyên tô dinh dưỡng. Theo dang: dạng ran và dang lỏng Theo thành phần dinh dưỡng: chỉ có các yếu tố dinh dưỡng vô cơ riêng lẻ hoặc phối hợp (đa lượng, trung lượng va vi lượng) có bố sung chất điều hòa sinh trưởng (kích thích, ức chế) và có thuốc BVTV Theo cơ chế liên kết các nguyên tố dinh dưỡng: dạng hữu cơ, dang vô cơ trong đó có xelat và dạng hữu cơ - khoáng. Cơ chế tác động của phân bón lá Thành phần chính của dòng phân bón lá hữu cơ bao gồm dưỡng chất hữu cơ, vi sinh được chiết xuất từ amino axit tự nhiên, kết hợp với các thành phần đa lượng va vi lượng hữu cơ. Ngoài bộ rễ có thé hap thu dinh dưỡng cho cây, bộ lá và các cơ quan khác trên mặt dat cũng có thé hút dinh dưỡng trực tiếp qua mô bề mặt.
Chất tan có thé đi vào tế bao biểu bì lá qua khí khống trên bề mặt lá.