Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về hoa cúc đơn 1.1 Nguồn gốc phân loại Cây hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum sp., có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu. Sản phẩm hoa cúc mang lại giá trị kinh tế từ năm 1995, có trên 70 giống hoa cúc cắt cành, những giống chủ lực nhập từ Hà Lan. Theo Nguyễn Thị Kim Lý và ctv. (2012), trong hệ thống phân loại thực vật, các cây hoa họ cúc thuộc ngành thực vật hạt kín: Angiospermes, lớp hai lá mầm (Dicotyledonae), phân lớp cúc (Asteridae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), phân họ hoa cúc (Asteroideae), chi Chrysanthemum sp.
Theo điều tra hiện nay chi Chrysanthemum ở Việt Nam có 5 loài và trên thế giới có tới 200 loài. Các giống loài thuộc chi này chủ yếu sử dụng dé làm hoa và làm cảnh. Hiện nay cúc có rất nhiều giống việc phân loại chưa thống nhất, nhưng trong sản xuất đại trà dựa vào số lượng hoa trên cành dé phân loại: Cúc đơn là cúc chỉ để 1 hoa chính trên cây, hoa thường to như CN93, CN97, CN98. Cúc chùm là cúc đề nhiều hoa trên cây, hoa thường nhỏ như cúc chỉ trắng, chỉ vàng.2 Đặc điểm thực vật học Theo Nguyễn Thị Kim Lý và ctv.
(2012), hoa cúc đơn có những đặc điểm thực vật học như sau: 1.1 Rễ Rễ hoa cúc đơn thuộc loại rễ chùm, rễ cây ít ăn sâu mà phát triển theo bề ngang ở tầng đất mặt 10 - 20 cm nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh.2 Thân Thân hoa cúc đơn thuộc loại thân thảo, dạng đứng hoặc bò, khả năng phân nhánh mạnh, có nhiều đốt giòn và dai, dé gay, càng lớn càng cứng. Cây cao hay thấp, đốt dài hay ngắn, sự phân cành mạnh hay yếu tùy thuộc vào từng giống. Nhìn chung cây ở điều kiện Việt Nam có thé cao 30 - 80 em. Ở điều kiện ngày dai cây cúc có thé cao đến 1,5 — 2,0 m.
Hoa Lá Thân Hình 1.1 Đặc điểm hình thái của cây hoa cúc đơn 1.3 Lá Lá hoa cúc đơn xẻ thùy có răng cưa to, sâu, thường là lá đơn mọc so le nhau. Mặt dưới lá bao phủ một lớp lông tơ, mặt trên nhẫn, gân hình mạng lưới. Từ mỗi nách lá thường phát sinh một mầm nhánh. Phiến lá có thể to hay nhỏ, dày hoặc mỏng, màu sắc xanh đậm, xanh vàng hay xanh nhạt còn phụ thuộc vao từng giống và kỹ thuật chăm sóc.4 Hoa Theo Phạm Anh Cường và Nguyễn Mạnh Chinh (2008), hoa cúc don chỉ có 1 bông trên 1 thân, có rất nhiều màu sắc đa dạng (trắng, vàng, đỏ, cam, vàng nghệ).
Với loại hoa này người ta thường vặt bỏ các mầm nách và các hoa ở nách lá đề tập trung dinh dưỡng cho bông chính ở ngọn, đường kính hoa trung bình khoảng 60 - 70 mm, sẽ có những bông hoa rất to, đường kính 100 - 150 mm.5 Quả và hạt Hoa cúc đơn có quả bế khô chỉ có một hat. Hạt có phôi thang và không có nội nhũ.3 Điều kiện ngoại cảnh 1.1 Nhiệt độ Theo Nguyễn Thị Kim Ly va ctv (2012), hoa cúc đơn có nguồn gốc ôn đới nên nó chỉ ưa khí hậu mát mẻ, hoặc với điều kiện nhiệt độ chỉ nóng trung tính. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển là từ 20 - 22°C, cúc có thé chịu ở nhiệt độ từ 10 - 35°C, nhưng nhiệt độ trên 35°C và dưới 10°C sẽ làm cho cúc sinh trưởng phát triển kém. Ở thời kỳ cây con, yêu cau nhiệt độ cao hơn các giai đoạn khác.
Đặc biệt trong thời kỳ ra hoa, đảm bảo cho cúc nhiệt độ cần thiết thì hoa sẽ to và đẹp. Ban ngày cây cần nhiệt độ cao hơn dé quang hợp, còn ban đêm nếu nhiệt độ cao sẽ thúc đây qua trình hô hấp làm tiêu hao chất dự trữ trong cây.2 Ánh sáng Hoa cúc đơn nói riêng và họ cúc nói chung là loại cây ngày ngắn, ưa sáng. Thời kỳ cây mới ra rễ thì cần ít ánh sáng. Khi hạt hoặc hom hết chất dinh dưỡng dự trữ thì cây con chuyền sang sống tự dưỡng nên cần nhiều ánh sáng dan lên.
Thời kỳ phan cành, cây cúc cần nhiều ánh sáng để quang hợp tạo nên hợp chất hữu duy trì hoạt động sống của cây. Ánh sáng quá mạnh làm cho cây chậm lớn (Theo Phạm Thị Minh Tâm và Nguyễn Pham Hồng Lan, 2017). Hau hết các nhóm cúc cần quang chu kỳ ngắn. Vì vây, dé cây phát triển chiều cao cần bổ sung ánh sáng bằng cách thắp đèn 4 — 5 giờ vào ban đêm.
Cây trổ bông khi gặp điều kiện ngày ngắn 12 — 13 giờ (Dinh Thế Lộc và Dang Văn Đông, 2003) Thời gian chiếu sáng thích hợp cho sự phân hóa mầm hoa là khoảng 10 giờ/ngày và nhiệt độ tương đối thấp. Thời gian chiếu sáng dài, thân cây cao, lá to, thời gian sinh trưởng kéo dài và ra hoa muộn (Phạm Anh Cường và Nguyễn Mạnh Chinh, 2008). Vào mùa hè nên chiếu sáng bổ sung 4 giờ/ngày, vào mùa đông 5 giờ/ngày. Thời gian bắt đầu chiếu sáng bổ sung hiệu quả nhất là từ 22 giờ đêm đến 2 giờ sáng.
Tùy theo mùa vụ và giống, giai đoạn chiếu sáng bổ sung có thé kéo dai từ 10 — 25 ngày (Đinh Thế Lộc và Dang Văn Dong, 2003).3 Âm độ Cây yêu cầu 4m độ đất 60 - 70%, âm độ không khí 55 - 65%. Nếu âm độ >80% thì cây sinh trưởng mạnh, nhưng lá dé bị mắc một số bệnh nam. Thời kỳ thu hoạch thì cần thời tiết khô ráo. Nếu âm độ kém thì cúc có thể vàng lá.4 Dinh dưỡng Cây hoa cúc đơn thích hợp với đất thịt màu mỡ, thoát nước, pH từ 6 - 7.
Theo Phạm Thị Minh Tâm và Nguyễn Phạm Hồng Lan (2017): Dinh dưỡng có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển, năng suât, phâm chât của các loài hoa, cây cảnh. Dam và kali là hai nguyên tổ tìm thay với tỷ lệ phần trăm nhiều nhất trong tế bào cây. Đạm cần nhiều ở giai đoạn sinh trưởng thân lá (từ cây con đến phân hóa mầm hoa). Nên sử dụng hỗn hợp đạm vô cơ với phân chuồng hoặc phân vi sinh bón cho cây hoa cúc dé dinh dưỡng cân đối.
Lượng dam cây can từ 140 - 160 kg N/ha. Kali có vai trò trao đối, vận chuyên đường bột và tích lũy các chất hữu cơ, tăng tính chống chịu trong cây hoa. So với đạm, kali thường được bón với liều lượng tương đương. Giúp tăng cường hút các dinh đưỡng của cây cúc.
Lượng kali cây cần từ 100 - 120 kg K2O/ha. Lân giúp phát triển bộ rễ khỏe, tăng cường hút các chất dinh dưỡng khác của cây cúc, giúp cho thân cứng và hoa đẹp, bền màu. Lượng lân cây cần từ 120 - 140 kg P2Os/ha. Canxi tham gia vào quá trình trao đổi chat trong cây hoa va có ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ, có tác dụng đặc biệt trong việc duy trì cân bằng của môi trường bên ngoài, tăng cường sự nở hoa, tăng độ bên của hoa.
Magiê tham gia vào tổng hợp điệp luc, Mg va Ca là 2 nguyên tố đối kháng mạnh mẽ nhau trong môi trường rễ. Tuy nhiên, nếu quá nhiều Mg có thé làm thiếu K trầm trọng hơn, triệu chứng điển hình là các gân lá còn xanh trong khi phần thịt lá đã biến vàng. Thiếu Mg, cây hoa thường nhỏ, giòn và dé gãy. Lưu huỳnh có vai trò quan trọng trong quá trình trao đối lipit và sự hô hấp của cây bởi S tham gia vào quá trình tổng hợp protein, axit amin, vitamin giúp cây sinh trưởng mạnh.
Ngoài các nguyên tố đa lượng, cần bé sung các nguyên tố vi lượng với nồng độ rat thấp 0,01 - 0,02% như Fe, Mn, Zn, Cu, Bo, Mo, Ni và Cl để giúp cây to, khỏe và mau sac đúng với đặc trưng của giông.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cúc 1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cúc trên thế giới Diện tích trồng hoa cúc ở Nhật Bản lớn nhất thế giới. Diện tích trồng hoa cúc chiếm 2/3 tổng diện tích trồng hoa Nhật Bản có 614 ha ngoài trời và 1.150 ha nhà kính dé trồng hoa cúc vào năm 1991 (FAO, 1998). Tuy vậy hàng năm Nhật Ban vẫn phải nhập một lượng lớn hoa cúc từ Hà Lan và một sô nước khác trên thê gidi. Ở Châu Á, nhu cầu hoa cúc rất lớn, do vậy diện tích trồng loại hoa này cũng rất lớn so với các loại hoa khác.
Cúc là 1 trong 10 loại hoa cắt cành được trồng nhiều nhất tại Trung Quốc. Hoa cúc chiếm khoảng 20% lượng hoa cắt cành được bán ở Trung Quốc. Ở Malaysia, 3 loại hoa quan trọng nhất là hoa hồng, hoa cúc và hoa cam chướng, chiếm 91,1% tổng lượng hoa cắt cành. Ở Thái Lan, năm 1994 tổng diện tích và sản lượng hoa cúc tăng gấp đôi so với năm 1988 (FAO, 1998).
Cúc được trồng quanh năm ở Thái Lan với số lượng cành cắt hàng năm là hơn 50 triệu cành (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007). Lượng tiêu thụ hoa cúc ở An Độ rat lớn, chỉ tính riêng Jakarta tiêu thu hơn 12 triệu cành hoa cúc trong năm 1999, chỉ đứng sau lượng tiêu thụ hoa hồng (FAO, 1998).2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cúc ở Việt Nam Sahu và ctv (2021) đã kết luận rằng hoa cúc chùm trồng ở khoảng cách 30 x 30 cm làm tăng chiều cao cây đáng kể (32,3 cm) và trồng ở khoảng cách 30 x 45 cm làm tăng số lá trên cây (114,8 lá), số cành trên cây (30,6 cành), đường kính tán (27,1 cm), số hoa trên cây (86,8 hoa/cây), kích thước hoa (4,77 cm) và trọng lượng hoa (1,25 8). Ở Việt Nam, tổng diện tích trồng hoa năm 1993 là 1.585 ha, chiếm 0,02% điện tích đất canh tác. Hoa chủ yếu được trồng ở các khu vực gần đô thị lớn như Hải Phòng, Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Lạt và các đô thị nhỏ hơn.
Sản xuất hoa cho lợi nhuận cao gấp 10 — 20 lần so với cây lúa. Từ năm 1986, cùng với quá trình đổi mới kinh tế, tình hình dat nước có nhiều thay déi và đời sống của dân cư được cải thiện kéo theo việc tăng diện tích trồng, đa dạng hơn các chúng loại hoa và việc nghiên cứu về hoa cũng nhiều hơn (FAO, 1998). Hiện nay, hoa cúc được trồng khắp nước ta, chẳng hạn như ở Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân (Hà Nội), Dang Hai, Dang Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), Triệu Sơn, thành phố Thanh Hóa (Thanh Hóa), Gò Vấp, Hóc Môn (thành phố Hồ Chi Minh), thành phố Da Lat (Lâm Đồng) với tổng diện tích trồng hoa khoảng 2.