Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây hoa cúc Cây hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum sp. có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước châu Âu. J (1985) [30] đã chứng minh rằng cúc đã được trồng ở Trung Quốc cách đây 500 năm trước công nguyên.
Ngày nay, cúc đã được trồng hầu khắp các nước trên thế giới như Hà Lan, Ý, Đức, Pháp, Nhật Bản. Ở Việt Nam, hoa cúc đã được trồng từ lâu, người Việt Nam coi hoa cúc là biểu tượng của sự thanh cao, là một trong 4 loài thảo mộc được xếp vào hàng tứ quý “Tùng, cúc, trúc, mai” hoặc “Mai, lan, trúc, cúc”. Theo Võ Văn Chi, Lê Khả Kế (1969) [1], trong hệ thống phân loại thực vật hoa cúc được xếp vào lớp hai lá mầm (Dicotyledonec), phân lớp cúc (Asterydae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa cúc (Asteroideae), chi Chrysanthemum. Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978) [2] điều tra hiện nay thì chi Chrysanthemum ở Việt Nam có 75 giống 200 loài và trên thế giới có tới 20.000 loài và trên 1.
Theo Trần Hợp (1993) [7], trong đó có 4 loài thông dụng nhất, được sử dụng nhiều nhất để chơi hoa, làm cảnh đó là: C. Nguồn gốc lịch sử phát triển cây hoa cúc Theo tài liệu cổ Trung Quốc thì hoa cúc có cách đây 3. Trong văn thơ Hán cổ hoa cúc có 30 đến 40 tên gọi khác nhau như: Nữ hoa, Cam hoa, Diên hoa. Hoa cúc có nguồn gốc từ một số loài dã sinh thuộc loại cúc (Dendran thema), trải qua quá trình trồng trọt lai tạo và chọn lọc từ những biến dị để có được những giống cúc ngày nay.
Tuy không có những ghi chép về lịch sử trồng trọt bắt đầu từ thời nào nhưng trong Sở từ (Trung Quốc) có nói đến “Thu Cúc”. Có một bộ sách nổi tiếng về hoa cúc sớm nhất là vào năm 1104 đời Bắc Tống do Lưu Mông viết gọi là cúc Phổ. Sau đời Tống, sách tài liệu về hoa cúc không dưới 30, 40 quyển, nội dung đề cập đến những vấn đề giống, phân loại trồng trọt, sâu bệnh. đã đóng góp rất lớn trong việc phát triển hoa cúc ở Trung Quốc nói riêng và của thế giới nói chung (Đặng Văn Đông, 2005) [5].
n 4 Tuy nhiên phải từ những năm 1930 việc trồng hoa cúc ở Trung Quốc mới bắt đầu được coi trọng, bảo hộ và đề cao. Lần đầu tiên vào năm 1982 Trung Quốc tổ chức triển lãm hoa Cúc ở Thượng Hải với trên 1.000 giống, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong sự nghiệp trồng hoa cúc. Các nhà làm vườn thế giới đã thảo luận rất sôi nổi về việc phân loại hoa cúc và tương đối thống nhất với cách phân loại của Trung Quốc. Năm 1993 giáo sư Lý Hồng Triết trong tác phẩm “Hoa Cúc Trung Quốc” đã thu thập và mô tả trên 6.000 mẫu giống hoa cúc sau đó chỉnh lý thành tập sách trên 3.000 giống, ông đã chụp ảnh 3.302 mẫu giống và miêu tả tính trạng từng giống.
Ở Thượng Hải (1989), Khai Phong (1992), Vô Tích (1995) và Thành Đô (1998) (Trung Quốc) đều đã có các cuộc triển lãm hoa cúc và có hàng vạn người đến dự. Các cuộc triển lãm đã nâng cao trình độ nghiên cứu phát triển và kỹ thuật trồng trọt của nghề trồng cúc. Theo Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc (2003) [6], khi hoa cúc được di thực từ Trung Quốc sang Nhật Bản, đã được đánh giá rất cao ở nước này và được mệnh danh là “Hoàng thất quốc hoa”. Năm 1939 Edsmit người Nhật đã bắt đầu lai tạo thành công nhiều giống Cúc và ông đã đặt tên cho hơn 100 giống của các thế hệ sau đó; một số giống này vẫn còn duy trì và được trồng đến ngày nay.
Theo Amagasa K, Kameya T. (1989) [ 23], lịch sử phát triển nghề trồng cúc ở châu Âu muộn hơn Trung Quốc. Năm 1843 một nhà thực vật học R. Fortune (người Anh) đến Trung Quốc khảo sát và mang về giống hoa cúc Chusan Daisy, giống này chính là giống bố mẹ của giống hoa cúc hình cầu và hình tán xạ ngày nay.
Năm 1889 nước Pháp nhập từ Trung Quốc 3 giống hoa cúc đại đoá về trồng và đến năm 1827 Bernet (người Pháp) đã thành công trong việc lai tạo ra một số giống cúc mới, từ đó dẫn đến một sự cải tiến rất mạnh mẽ về giống cúc ở châu Âu. Từ đầu thế kỷ XVIII hoa cúc đã được trồng ở Mỹ, nhưng phải đến năm 1860 hoa cúc mới trở thành hàng hoá và được trồng trong nhà lưới. Hiện nay ở Mỹ, hoa cúc là loại hoa rất quan trọng, chủ yếu là để cắt cành, một phần trồng trong chậu. Đặc điểm thực vật học của cây hoa cúc - Rễ Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) [11] rễ cây hoa cúc thuộc loại rễ chùm, chỉ khi cây thực sinh còn nhỏ mới có rễ chính thức rõ ràng.
Đầu chóp rễ có sức phân n 5 nhánh mạnh, trong điều kiện đất thích hợp thì rất nhanh hình thành bộ rễ có nhiều nhánh, điều đó có lợi cho sự hút nước và dinh dưỡng. Rễ của các cây nhân từ phương pháp vô tính đều phát sinh từ thân và đều là rễ bất định. Thân cúc bất kể ở đốt hay giữa lóng đều rất dễ hình thành rễ bất định, vì vậy cây hoa cúc là một loại cây rất dễ nhân giống từ thể dinh dưỡng. - Thân Cây hoa cúc thuộc loại thân thảo có nhiều đốt giòn, dễ gãy, khả năng phân cành mạnh.
Thường là những giống cúc đơn thân mập thẳng, giống cúc chùm thân nhỏ và cong. Vanderkamp (2000) [49] cho rằng thân đứng hay bò, cao hay thấp, đốt dài hay ngắn, sự phân cành mạnh hay yếu còn tuỳ thuộc vào từng giống. Cây có thể cao từ 30 đến 80 cm, thậm chí có khi đến 1,5 đến 2m. - Lá Theo Cockshull (1985) [26] mô tả: Lá cúc xẻ thuỳ có răng cưa, lá đơn mọc so le nhau, mặt dưới bao phủ một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân hình mạng lưới.
Từ mỗi nách lá thường phát sinh ra một mầm nhánh. Phiến lá to nhỏ, dày mỏng, xanh đậm nhạt hay xanh vàng còn tuỳ theo giống. Bởi vậy, trong sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao thường tỉa bỏ các cành nhánh phụ đối giống cúc đơn và để cây sinh trưởng phát triển tự nhiên đối với các giống cúc chùm. Từ những đặc điểm về thân lá cho thấy, những giống cúc có năng suất cao thường có bộ lá gọn, thân cứng mập và thẳng, khả năng chống đổ tốt.
- Hoa, quả, hạt + Hoa: Theo Cornish, Stevenson (1990) [27] và Okada (1994) [39] miêu tả hoa cúc là hoa lưỡng tính hoặc đơn tính với nhiều màu sắc khác nhau, đường kính hoa từ 1,5 đến12cm, có thể là đơn hay kép và thường mọc nhiều hoa trên 1 cành, phát sinh từ các nách lá. Hoa cúc chính là gồm nhiều hoa nhỏ hợp lại trên một cuống hoa, hình thành hoa tự đầu trạng mà mỗi cánh thực chất là một bông hoa. Tràng hoa dính vào bầu như hình cái ống, trên ống đó phát sinh cánh hoa. Những cánh nằm phía ngoài thường có màu sắc đậm hơn và xếp thành nhiều tầng, việc xếp chặt hay lỏng còn tuỳ giống.
Cánh có nhiều hình dạng khác nhau, cong hoặc thẳng, có loại cánh ngắn đều, có loại dài, xoè ra ngoài hay cuốn vào trong. Cũng theo Cockshull (1976) [25] và Zagorski, Ascher, Widmer (1983) [55] n 6 hoa cúc có từ 4 đến 5 nhị đực dính vào nhau, bao xung quanh vòi nhụy. Vòi nhụy mảnh, hình chẻ đôi. Khi phấn chín, bao phấn nở tung phấn ra ngoài, nhưng lúc này vòi nhụy còn non chưa có khả năng tiếp nhận hạt phấn.
Bởi vậy, hoa cúc tuy lưỡng tính nhưng thường biệt giao, nghĩa là không thể thụ phấn trên cùng hoa, nếu muốn lấy hạt phấn phải thụ phấn nhân tạo. Nên trong sản xuất, việc cung cấp cây con chủ yếu thực hiện bằng phương pháp nhân giống vô tính. + Quả: Theo Anderson (1988) [22] và Ishiwara (1984) [32] quả cúc thuộc loại quả bế khô, hình trụ hơi dẹt, trong quả chứa rất nhiều hạt. Hạt có phôi thẳng và không có nội nhũ.
Yêu cầu ngoại cảnh và dinh dưỡng của cây hoa cúc 1. Nhiệt độ Cây hoa cúc có nguồn gốc ôn đới nên ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp cho cây cúc sinh trưởng, phát triển tốt từ 15 đến 200C, cúc có thể chịu được nhiệt độ từ 10 đến 350C, nhưng trên 350C và dưới 100C sẽ làm cúc sinh trưởng, phát triển kém. Deong (1984) [30], Hoogeweg (1999) [31] và Karlson (1989) [34] cho rằng, nhiệt độ tối thích cho sự ra rễ của cúc là 160C, nên trong điều kiện miền Bắc Việt Nam việc giâm cành cúc trong mùa Hè là hết sức khó khăn nếu không có biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp như tưới tiêu, bảo vệ thực vật và điều chỉnh hợp lý một số yếu tố: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm bằng phương pháp nhân tạo. Trên cơ sở phản ứng ra hoa của cúc với nhiệt độ, Kawata (1987) [35] đã chia thành 3 nhóm.
Loại cúc có thể ra hoa ở bất kỳ nhiệt độ nào, trong khoảng từ 10 đến 270C nhưng tốt nhất ở 170C về ban đêm. Cúc ưa lạnh ở nhiệt độ thấp liên tục (10 đến 130C) và làm chậm sự hình thành chồi. Ở nhiệt độ trên 270C ra hoa chậm nhưng hình thành chồi nhanh. Ánh sáng Yulian, Fujime (1995) [54] đã kết luận, cúc là cây ngày ngắn, ưa sáng và đêm lạnh.
Thời kỳ đầu mầm non mới ra rễ cây cần ít ánh sáng, nhưng trong quá trình sinh trưởng, ánh sáng quá mạnh cũng làm cho cây chậm lớn. Ngoài ra, Jong J, D (1989) [33] và Strojuy (1985) [48] đã khẳng định, thời gian chiếu sáng rất quan trọng cho cây hay nói cách khác ngày đêm dài hay ngắn có tác dụng khác nhau đối với loại hoa này. Hầu hết, các giống cúc trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng cần n 7 ánh sáng ngày ngắn, đêm dài trên 13 giờ, còn trong giai đoạn trổ hoa cây chỉ cần ánh sáng ngày ngắn từ 10 đến 11h và nhiệt độ không khí dưới 200C. Bởi vậy, trong điều kiện Việt Nam cúc rất phù hợp với thời tiết thu đông, nhưng hiện nay một số giống cúc nhập nội có thể ra hoa trong điều kiện ngày dài, điển hình như các giống CN93, CN98 rất thích hợp với vụ Xuân Hè và Hè Thu, nên cúc có thể trồng quanh năm thay vì trước đây chỉ có hoa vào mùa Đông.
Nhiệt độ, ánh sáng không tác động một cách riêng rẽ mà phối hợp nhau, kìm hãm hay thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc.