Mở đầu. Phần 2: Tổng quan. Phần 3: Vật liệu và phương pháp. Phần 4: Kết quả và bàn luận.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị. Phần 6: Tài liệu tham khảo. Phần 7: Phụ lục. Địa bàn khảo sát: Bèo tấm được lấy từ đầm rau nhút huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Sau đó đem lên Trung tâm Thí nghiệm thực hành Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM để loại tạp chất, rửa sạch, phơi khô, xay và rây theo kích thước và thực hành các thí nghiệm. Tổng quan về bèo tấm Bèo tấm là nhóm thực vật một lá mầm thủy sinh có phổ phân bố rất rộng cùng với tốc độ sinh trưởng nhanh, có tiềm năng kinh tế cao. Tận dụng khả năng ấy, người ta nghiên cứu để tìm ra bèo tấm là một loại thực vật mới có thể cung cấp protein để sử dụng với số lượng lớn. Và điều quan trọng ở đây là bèo tấm thích hợp làm thức ăn cho động vật cũng như phù hợp với sự tiêu thụ protein của con người hay không, thì còn phải quyết định bởi điều kiện nuôi trồng tối ưu và các phương pháp chế biến phù hợp cho từng mục đích sử dụng.
Mô tả thực vật Giới: Plantae. Phân họ: Lemmoideae. Loài: Lemna minor. Bèo tấm Các loài thực vật này rất đơn giản, chúng thiếu thân hoặc lá, nhưng bao gồm cấu trúc nhỏ giống như lưỡi lam trôi nổi trên hoặc chỉ ngay dưới bề mặt nước, có hoặc không có các rễ con đơn giản.
Sự sinh sản của chúng diễn ra chủ yếu là vô tính, nhờ nảy chồi, nhưng thỉnh thoảng thì hoa, bao gồm 2 nhị hoa và một nhụy hoa (đôi khi gọi nó là cụm hoa gồm 3 hoa đơn tính) cũng được sinh ra. Quả là loại túi nhỏ, một cái túi chứa không 3 khí và hạt, nhằm mục đích có thể nổi được. Hoa của chi Wolffia là nhỏ nhất trong thế giới các loài hoa, nó chỉ dài 0. Phân loại Bèo tấm là một loài thủy sinh nhỏ nổi trên mặt nước, được tìm thấy ở trên toàn thế giới và thường phát triển ở những ao hồ nước ngọt hay nước lợ.
Bèo tấm loại thực vật thủy sinh một lá mầm. Hiện nay, phân họ Lemnoideae có 37 loài thuộc 5 chi: Spirodela, Landoltia, Lemna, Wolffiella và Wolffia. Các chi trong phân họ bèo tấm bao gồm: Spirodela: gồm các loài S. sichuanensi,…Các loài này có tản xoan hay tròn, rộng 6-8mm dài hơn ngang 1-1.5 lần, gân 7-16, khó nhận, mặt dưới đỏ, mỗi tản mang 7-21 rễ.
Mô có hai môi, buồng mang hai nhị, noãn 1-2, đứng trong lá noãn, mọc trà trộn với các loại bèo khác trên ao hồ, ruộng khắp nơi. Landoltia: loài đặc trưng là bèo đốm (L.punctata), có hình thái trung gian giữa Lemna và các loài Spirodela khác. Lemna: gồm các loài L.gibba, …Các loài này này gồm một đến 4 lá hình bầu dục trên một thân, màu xanh lục nhạt, nổi trên mặt nước. Chúng sinh sản vô tính là chủ yếu.
Wolffiella: gồm các loài W.welwitschii…các loài này không có rễ, hình thái lật ngược cho phép duy trì định hướng trong nước. Chúng sinh sản chủ yếu bằng vô tính, một số loài có khả năng sinh sản hữu tính. Wolffia: gồm các loài W.neglecta,…là loài thực vật có hoa nhỏ nhất, không có rễ, trôi nổi tự do. Các loài đại diện của 5 chi bèo tấm với kích thước hệ gen tương ứng (Nguồn: sửa đổi từ nguồn Cao và cộng sự, 2015) Tại Việt Nam, người ta đã phát hiện 3 chi bèo (Spirodela, Lemna, Wolffia) với hơn 7 loài khác nhau.
Các loài này phân bố khá phổ biến trên các vùng mặt nước, ao hồ đồng ruộng chủ yếu ở các đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ. Nguồn gốc và phân bố Hình thái của bèo tấm cực kỳ đơn giản vì chúng không có cành, lá hình dạng của chúng nhỏ, hình bầu dục. Với loài Wolffia đường kính nhỏ hơn 2mm, loài Lemma khoảng 6-8mm, và loài Spirodela khoảng 20mm. Bèo tấm thường phát triển ở nhiệt độ nước từ 6 đến 33℃, pH từ 5-9 nhưng tăng trưởng tốt nhất ở pH 6.
So với hầu hết các loài thực vật, bèo tấm là loại có ít chất xơ nhất (5%) vì chúng không cần cấu trúc thân phải đứng thẳng. Trái ngược với nhiều loại như đậu nành, gạo, hay ngô có tới 50% sinh khối ở dạng xơ. Bèo tấm là loài có khả năng sống đa dạng ở nhiều vùng địa lý và thích hợp với nhiều dạng khí hậu. Chúng được tìm thấy ở những sa mạc không có nước và cả những vùng băng giá.
Chúng phát triển tốt nhất ở vùng có khí hậu nhiệt đới và ôn đới. Dinh dưỡng tốt nhất cho bèo tấm phát triển là khi chúng được sống trong vùng nước chứa nhiều chất hữu cơ cung cấp đủ chất dinh dưỡng và có đủ năng lượng mặt trời để chúng tăng trưởng. Đối với tốc độ tăng trưởng nhanh của bèo tấm, chúng đòi hỏi các chất dinh dưỡng phải được cung cấp sẵn, được lấy từ các khoáng chất hòa tan trong ao. Chúng có thể tăng gấp đôi khối lượng ban đầu chỉ trong khoảng 16 đến 48 giờ, nếu được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng mặt trời, nhiệt độ nước tối ưu.
Mô hình tăng trưởng của chúng cũng giống như sự tăng trưởng theo hàm mũ của tảo đơn bào, điều này thuận lợi cho việc tăng khả năng sản xuất, là nguồn thức ăn cho chăn nuôi dồi dào. 5 Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của bèo tấm sẽ giảm đi nếu chịu nhiều áp lực như: sự khan hiếm hoặc mất cân bằng chất dinh dưỡng, độc tố, ảnh hưởng của pH và nhiệt độ, sự cạnh tranh điều kiện sống từ những loài thực vật khác. Nhưng nếu điều kiện sống tốt, bèo tấm còn đem lại nguồn lớn chất dinh dưỡng như: protein, chất béo, tinh bột, và cả khoáng chất,… 1. Thành phần hóa học của bèo tấm Bèo tấm có chứa các chất dinh dưỡng với sự đa dạng về cả thành phần và hàm lượng.
Sinh khối bèo tấm có chứa các vitamin A, B1, B2,…và các amino acid không thay thế được (trừ methionine). Hầu hết các loài bèo tấm chứa hàm lượng protein đạt từ 6.8- 45%, phụ thuộc và điều kiện sinh trưởng và phát triển. Ở điều kiện nuôi trồng tối ưu, hàm lượng protein trong bèo tấm có thể đạt giá trị cực đại tương đương lượng protein có trong đậu nành. Rusoff và cộng sự báo cáo rằng thành phần acid amin của protein bèo tấm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người.
Gần đây, nghiên cứu thành phần acid béo của 30 loài khác nhau của bèo tấm. Họ báo cáo bão hòa, không là bao gồm các acid bão hòa đơn và không bão hòa đa acid béo trong các loài, trong đó có thể được sử dụng để đánh giá giá trị dinh dưỡng cũng như trong thức ăn của con người. Thành phần và hàm lượng các hợp chất hữu cơ có trong bèo tấm Thành phần Hàm lượng (% trọng lượng chất khô) Protein 6.6 Bèo tấm nếu được sinh trưởng trong điều kiện tối ưu về dinh dưỡng và các điều kiện nuôi cấy thì hàm lượng protein đạt đến 45% trọng lượng chất khô. Hàm lượng protein rất cao so với các loài thực vật khác và tương đương với hàm lượng protein có trong đậu nành.
Với hàm lượng protein khá cao thì bèo tấm đang là một trong những hướng nghiên cứu đầy triển vọng trong cuộc chiến lương thực sạch ngày nay. Trong những năm qua, công ty Parabel đã điều tra thành phần dinh dưỡng của bèo và các sản phẩm có nguồn gốc từ cây thủy sinh. Một báo cáo gần đây phân tích thành phần hóa học của sáu loài đại diện cho tất cả năm chi Spirodela polyrhiza, Landoltia punctata, Lemna gibba, Lemna minor, Wolffiella hyalina, Wolffia microscopica. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng hàm lượng chất khô 6 loài dao động từ 4 đến 8%, protein dao động từ 20 đến 35% (dw), thấp nhất là L.
punctata và cao nhất là W. hyalina, hàm lượng chất béo từ 4 đến 7% (dw), acid béo bão hòa khoảng 25 đến 46 % 6 tổng hàm lượng chất béo, và tinh bột từ 4 đến 10% (dw). Ngoài ra trong bèo còn chứa vi chất dinh dưỡng bao gồm khoáng chất và chất dinh dưỡng thực vật. Nồng độ và tính chất của các nguyên tố vi lượng có trong Lemnaceae cũng phụ thuộc phần lớn vào nguồn nước nơi bèo tấm phát triển.
Thành phần hóa học của 6 loài (A) Trọng lượng khô, (B) Hàm lượng protein tổng số, (C) Hàm lượng acid béo, (D) Hàm lượng tinh bột. Dữ liệu (B – D) có liên quan đến trọng lượng khô. Có nghĩa là ± độ lệch chuẩn được đưa ra. Nồng độ và tính chất của các nguyên tố vi lượng có trong Lemnaceae cũng phụ thuộc phần lớn vào nguồn nước nơi bèo tấm phát triển.
Kết quả khảo sát hàm lượng các vi lượng có trong một số loài bèo và được 5 thu ở những vùng khác nhau Source Ca P Na K Fe Mg Zn Cu Mn Lemna 1.38 NR NR NR NR NR minor Wolffia microsco 6.8 NR NR NR NR NR NR gibba Lemna 0.5 NR NR NR NR NR NR NR minor Lemna 0.04- paucicos - NR NR NR NR 0.71 NR NR NR NR NR NR NR perpusill a Water 2.17 NR NR NR NR NR NR NR lentils Lemna sp.0003 Lemna NR NR NR NR NR NR 0. Thành phần dinh dưỡng Thành phần dinh dưỡng của bèo tấm chứa hàm lượng cao protein, chất béo, tinh bột, và còn có chứa nhiều amino acid và acid béo trong bèo tấm. Hàm lượng protein chiếm 20-35%, chất béo từ 4-7%, và tinh bột từ 4-10% trong chất khô. Theo khuyến nghị của WHO, trong bèo tấm còn chứa hàm lượng acid amin cần thiết cho cơ thể như: 4.7% Methionine và Cysteine, 7.7% Phenylalanine và Tyrosin.
Vai trò của bèo tấm - Xử lí nước thải: Nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn, trong khi đó nhu cầu về nước phục vụ cho con người và sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng. Bên cạnh đó, việc sử dụng quá mức phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm. Thực trạng thiếu hụt nguồn nước sạch sinh hoạt 8 đã và đang trực tiếp ảnh hưởng đến hơn 1 tỷ người trên toàn thế giới. Việc sử dụng một số loài thực vật thủy sinh có khả năng hấp thụ và chuyển hóa các chất trong nước thải được xem như là liệu pháp sinh học có nhiều hứa hẹn để giải quyết vấn đề ô nhiễm nước thải và tái sử dụng nguồn nước này.
Do có khả năng sinh trưởng trong môi trường nước thiếu oxy và hấp thụ các chất dinh dưỡng cần thiết như PO43- và NO3- nên bèo tấm được sử dụng cho việc xử lý nước thải.