Đặt vấn đề Chiết xuất các hợp chất từ tự nhiên là một quá trình quan trọng trong hóa học vì nó là nguồn gốc của nhiều hợp chất thuốc và dược phẩm. Hiện nay, ngày càng nhiều các loại dược phẩm cũng như các thực phẩm chức năng được sử dụng trên thị trường đều có nguồn gốc từ tự nhiên. Phần lớn, các hợp chất tự nhiên bắt nguồn từ thực vật, vi khuẩn, nấm, mốc, …. Nên việc phân lập và tinh chế các hợp chất tự nhiên là một quá trình quan trong để thu được các hợp chất có hoạt tính sinh học.
Các kỹ thuật hiện đại có thể dễ dàng xác định các thành phần hóa học của các hợp chất tự nhiên và xác định các tác dụng khác nhau của nó trên cơ thể. Chiết piperine từ hạt tiêu là một trong những quá trình đang được quan tâm nghiên cứu. Vì piperine có nhiều tác dụng sinh học và dược lý đã được nghiên cứu và dùng để điều trị bệnh đau dạ dày, viêm phế quản, sốt rét, dịch tả, chống nấm, kháng viêm, thấp khớp và bệnh ung thư như ung thư bạch cầu[1]. Để phân lập và tinh chế các hợp chất tự nhiên có nhiều phương pháp đã được sử dụng.
Một trong những phương pháp đó là sử dụng phương pháp chiết bằng dung môi. Ưu điểm của quá trình chiết sử dụng dung môi là dễ tìm, quá trình trích ly đơn giản, tuy nhiên có nhược điểm lớn là độc hại, dễ bay hơi, khó thu hồi hết nên ảnh hưởng đến môi trường. Với nhược điểm trên thì việc lựa chọn dung môi trích ly rất quan trọng. Chất lỏng ion với những tính chất như không bay hơi, có độ bền nhiệt cao, có khoảng hòa tan rộng, nhờ có tính chất ion nên thường có tốc độ phản ứng nhanh đặc biệt khi có sự hổ trợ của vi sóng hay sóng siêu âm, có thể để trong thời gian dài mà không bị phân hủy và đặc biệt là có khả năng thu hồi và tái sự dụng nên ít ảnh hưởng đến môi trường.
Vì vậy đề tài hướng đến nghiên cứu“Sử dụng chất lỏng ion trích ly piperine trong hạt tiêu đen”.2 Chất lỏng ion.1 Lịch sử phát triển chất lỏng ion Mặc dù Osteryoung, Wilkes, Hussey, và Seddon là những người tiên phong trong lĩnh vực ILs, nhưng báo cáo đầu tiên vềphản ứng và tính chất vật lý của ethylammonium nitrate ([C2H5NH3] NO3 được công bố bởi Welton vào năm 1914[2]. ILs dựa trên AlCl3 có thể được coi là thế hệ đầu tiên của ILs, nhưng bị hạn chế sử 1 dụng do tính chất hút ẩm. Tuy nhiên, thế hệ thứ hai của ILs ổn định trong môi trường ẩm đã được tổng hợp và thu hút sự chú ý trong việc sử dụng ILs trong các lĩnh vực khác nhau. Wilkes và Zaworotko[3], đã báo cáo tổng hợp của ILs dialkylimidazolium ổn định trong không khí và nước.
Họ tiết lộ rằng khi anion trao đổi với nhiều anion ổn định như BF4-, PF6-, NO3-, SO42- hoặc acetate, ILs có thể được chuẩn bị và lưu trữ một cách an toàn trong môi trường khí trơ. Liên quan đến sự tổng hợp và ứng dụng của ILs, [BMIM][BF4] và ([BMIM][PF6]) là ILs đầu tiên được sử dụng. Sau đó ILs dựa trên các anion kỵ nước hơn như trifluoromethanesulfonate (CF3SO3-), bis- (trifluoromethanesulfonyl) imide [Tf2N] - và tris- (trifluoromethanesulfonyl) methide [(CF3SO2)3 C-] được báo cáo[4]. Sự phát triển này đã dẫn đến sự ra đời của ILs hiện đại ngày nay.
Tương tự như các muối của acid và base, ILs được tạo thành từ các họ cation và anion riêng biệt, nhưng không giống như muối thường, ILs có xu hướng khó kết tinh do cấu trúc cation cồng kềnh và bất đối xứng của nó. Việc kết hợp gần như vô hạn của các cation và anion phù hợp quyết định tính chất của ILs, các anion thường ảnh hưởng đến ổn định và bền môi trường ẩm, các cation chịu trách nhiệm với tính chất nhiệt độ nóng chảy và hòa tan hữu cơ. ILs cũng được biết đến như là "dung môi đặc biệt" vì ILs có khả năng thay đổi theo yêu cầu sử dụng. Các nhà nghiên cứu có thể tổng hợp một ILs cụ thể bằng cách chọn anion điện tích nhỏ như [Tf2N]-, PF6-, hoặc PF4- và điện tích cation lớn alkylimidazolium, alkylpyridinium, alkylpyrrolidinium, alkylphospho-nium, hoặc alkylmorpholinium.
Những ILs cụ thể có thể được sử dụng để hòa tan một chất hóa học đặc biệt hoặc để trích ly một chất trong nguyên liệu. Mặc dù các cation và anion đặc biệt kết hợp khác nhau của ILs đã được nghiên cứu rộng rãi và cho các ứng dụng tiềm năng của ILs trong nhiều quá trình hóa học và vật lý [5-7].Các cation thường dùng. Các cation thường gặp. Các anion thường dùng là các halide như là BF4-, PF6-, SbF6-, ZnCl3-, CuCl2-, N(CF3SO2)2-, N(C2F5SO2)2-, N(FSO2)2-, C(CF3SO2)3-, CF3SO2-, CF3SO3- và CH3SO3-.
Ngoài ra còn có các anion đa phân (polynuclear anion) khác như Al2Cl7-, Al3Cl10-, Au2Cl7-, Fe2Cl7-, và Sb2F11-. Trong đó các chất lỏng ion chứa các anion đa phân như vậy thường dễ bị phân hủy dưới tác động của không khí và hơi nước. Tùy thuộc vào mục đích sử dụng chất lỏng ion mà lựa chọn cấu trúc cation và anion thích hợp. Độ tan của các anion.2 Tính chất của chất lỏng ion Độ tan trong nước của ILs có thể được điều chỉnh bằng cách thay đổi các nhóm R trên các thành phần cation.
Ngoài ra, các anion có thể thay đổi đáng kể tính chất hóa học và tính chất vật lý. Các đặc tính chung của ILs đã được nghiên cứu một cách rộng rãi [5]. a) Nhiệt độ nóng chảy Tiêu chí quan trọng để đánh giá một ILs là điểm nóng chảy của nó. CácILs có điểm nóng chảy thấp hơn 100 °C và hầu hết trong số đó là chất lỏng ở nhiệt độ phòng.
Có một mối quan hệ giữa các thành phần cấu trúc và hóa học của một ILs và điểm nóng chảy của nó. Tính chất vật lý này có thể được điều chỉnh thông qua biến đổi cation hoặc anion, Nhiệt độ nóng chảy thấp của ILs do ảnh hưởng của cả cation và anion.Sự 3 gia tăng kích thước anion dẫn đến làm giảm nhiệt độ nóng chảy. Ví dụ, điểm nóng chảy của 1-etyl-3-methylimidazolium với các anion khác nhau, chẳng hạn như [BF4-] và [Tf2N] là 15 °C và -3 °C[8]. So sánh các điểm nóng chảy của các muối clo khác nhau minh họa ảnh hưởng của các cation rõ hơn.
Điểm nóng chảy cao là đặc trưng cho clorua kim loại kiềm, trong khi chloride với cation hữu cơ phù hợp, nóng chảy ở nhiệt độ dưới 150 °C[9]. b) Tính ổn định nhiệt Đa số các ILs có độ ổn định nhiệt cao, nói chung lớn hơn 350°C. Nó đã được chứng minh rằng sự ổn định phụ thuộc vào các anion theo thứ tự [PF6] > [Tf2N] > [BF4] > halogenua. Sự gia tăng kích thước của cation từ1-butylđến 1-octyl, không ảnh hưởng lớn [11].
c) Độ nhớt Độ nhớt của nhiều ILs tương đối cao so với các dung môi thông thường. Độ nhớt được hình thành bởi lực van der Waals, liên kết hydro, và lực tĩnh điện. Sự hình thành của các liên kết hydro của các anion fluoro như BF4- và PF6-cũng hình thành độ nhớt của ILs [8]. Đối với nhiều ILS, độ nhớt đã được công bố trong khoảng 10-500 mPa/s ở nhiệt độ phòng.
Độ nhớt của ILS có thể ảnh hưởng đến tính chất như khuếch tán và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình khuấy, trộn, và bơm. d) Tỉ trọng ILs thường nặng hơn hoặc các dung môi hữu cơ và nước, với các giá trị khác nhau, điển hình 1-1,6 g /cm3. Khối lượng riêng của ILs giảm khi tăng chiều dài của chuỗi alkyl trong cation. Khối lượng riêng của ILs phụ thuộc vào loại cation và anion.
Khối lượng riêng của ILs giảm khi tăng chiều dài cation hữu cơ. Thứ tự của khối lương riêng ngày càng tăng cho ILskhi thay đổi anion theo thứ tự CHSO3-≈ BF4- <CF3CO2-<CF3SO3-<C3F7CO2- [8]. e) Tính phân cực Để phân loại các dung môi, sự phân cực là một trong những thuộc tính quan trọng nhất cho việc xác định tác dụng dung môi trong các phản ứng hóa học. Theo tài liệu IUPAC, phân cực được định nghĩa là "sự tổng của tất cả các khả năng, tương tác 4 đặc hiệu giữa các ion, phân tử chất tan và phân tử dung môi, các tương tác như vậy dẫn đến sự biến đổi hóa học nhất định của các ion hay phân tử của chất tan"[12].
Sự phân cực của [BMIM][BF4], [BMIM][PF6], hoặc [BMIM][NTf2] cao hơn so với methanol hoặc acetonitrile[5, 10]. f) Độ dẫn điện Một khía cạnh hấp dẫn của ILs là khả năng dẫn điện nhờ đó ILs là dung môi hữu ích và là chất điện giải trong các phản ứng điện hóa. Dựa trên thực tế rằng ILs được cấu tạo hoàn toàn từ các ion, được cho rằng có độ dẫn điện cao. Tuy nhiên, độ dẫn điện của bất kỳ dung môikhông chỉ phụ thuộc vào số lượng của các hạt mang điện mà còn về độ nhớt, mật độ, kích thước ion, anion, sự di chuyển của ion.
Kích thước lớn của các ion trong ILs làm giảm sự di chuyển ion đó, dẫn đến làm giảm độ dẫn điện. Hơn nữa, hình thành cặp ion hoặc tập hợp ion dẫn đến giảm tính dẫn.Độ dẫn của ILstỉ lệ nghịch với độ nhớt của nó. Do đó, ILscó độ nhớt càng cao thìđộ dẫn càng thấp[8]. ILs họ imidazolium cho thấy rằng nó có khả năng dẫn điện tốt nhất.3 Tổng hợp chất lỏng ion Có ba phương pháp cơ bản để tổng hợp ILs: Phản ứng trao đổi, phản ứng trung hòa acid - base, và phản ứng kết hợp trực tiếp.
Nhiều halogen alkylammonium thương mại có sẵn được tổng hợp đơn giản bằng cách tiến hành phản ứng trao đổi của halogenoalkane và amin thích hợp. Pyridinium và imidazolium halogenua cũng được tổng hợp bằng phản ứng trao đổi. Mặt khác, các muối nitrat monoalkylammonium được tổng hợp nhờtrung hòa dung dịch nước của amin với axit nitric. Sau khi phản ứng trung hòa, ILs được cô quay dưới chân không để loại bỏ nước dư thừa [2].
Sulfonates Tetraalkylammonium cũng được chuẩn bị bằng cách trộn axit sufonic và hydroxide tetraalkylammonium. Để có được ILstinh khiết, sản phẩm được hòa tan trong dung môi hữu cơ như acetonitrile và làm sạch bằng than hoạt tính, và các dung môi hữu cơ được loại bỏ trong chân không. Phương pháp cuối cùng tổng hợp của ILs là sự kết hợp trực tiếp của muối halogen với một kim loại halogen. Halogenoaluminate và chlorocuprate ILs được chuẩn bị bằng phương pháp này.
Các phương pháp tổng hợp ILs đã được đưa ra trong nhiều nghiên cứu trước đây[5, 13-15] 5 Thông thường, các quá trình tổng hợp chất lỏng ion được chia thành hai giai đoạn tổng quát. Giai đoạn 1: tạo muối để hình thành cation thích hợp, giai đoạn 2: trao đổi anion để hình thành sản phẩm chất lỏng ion mong muốn.