ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến ở phụ nữ đứng thứ hai trên thế giới sau ung thư vú với tỉ lệ nhiễm bệnh và tỉ lệ tử vong khá cao. Theo Tổ chức y tế thế giới WHO, ước tính có 529.828 ca ung tư cổ tử cung mới và 275.128 ca tử vong trong năm 2008 và khoảng 86% các trường hợp này xảy ra ở các nước đang phát triển. Theo các nghiên cứu ung thư tại Việt Nam, mỗi năm có 5.174 phụ nữ được chẩn đoán ung thư cổ tử cung và khoảng 2.472 phụ nữ chết vì căn bệnh này. HPV - Human Papilloma Virus là một trong những tác nhân lây nhiễm qua đường tình dục phổ biến.
Hầu hết các viêm nhiễm đều tự biến mất mà không hề có triệu chứng. Tuy nhiên, viêm nhiễm HPV kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ xuất hiện các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung. Nếu không được điều trị, các tổn thương tiền ung thư này sẽ tiến triển thành ung thư cổ tử cung xâm lấn. Ung thư cổ tử cung có tỉ lệ mắc bệnh cao, đồng thời tỉ lệ tử vong cao do biểu hiện của bệnh xuất hiện không rõ ràng và khá lâu trung bình là 10-15 năm từ khi có nghịch sản cổ tử cung đến ung thư cổ tử cung.
Tuy nhiên, nếu bệnh được phát hiện sớm thì người bệnh sẽ có cơ hội chữa khỏi bệnh rất lớn và tiết kiệm một khoản chi phí đáng kể trong quá trình điều trị. Hiện nay, việc tầm soát ung thư cổ tử cung thông thường chỉ bằng các kĩ thuật như Pap smear, soi cổ tử cung, sinh thiết cổ tử cung, kĩ thuật HPV- PCR… nhưng những kĩ thuật này vẫn còn nhiều hạn chế. Do đó, việc tìm ra phương pháp nhằm phát hiện sớm bệnh là một nhu cầu cấp thiết. Cụ thể là việc sử dụng dấu chuẩn sinh học (biomaker) như là một dấu hiệu đặc trưng cho việc chẩn đoán ung thư cổ tử cung.
Mặc dù sự nhiễm HPV kéo dài được coi là yếu tố quan trọng nhất góp phần vào sự phát triển của ung thư cổ tử cung thì các nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng sự không ổn định của vật chất di truyền trong đó có hiện tượng epigenetics cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn tới ung thư. Epigenetics là hiện tượng làm thay đổi biểu hiện của gen nhưng trình tự nucleotide không thay đổi. Nguyên nhân của hiện tượng này là do biến đổi histone (phosphoryl hóa, acetyl hóa và sự methyl hóa), sự methyl hóa DNA và microRNA. Những biến đổi này có thể là tiềm năng trong việc phát hiện sớm bệnh ung thư.
Sự methyl hóa quá mức tại vùng promoter thuộc các gen ức chế khối u và gen có liên quan đến khối u được tìm thấy ở tất cả các mô ung thư. Do sự methyl hóa quá mức này ức chế hoặc dừng chức năng phiên mã của gen →biểu hiện gen bất thường → thiết lập nên giai đoạn khởi phát của khối u. Điều này cho thấy vai trò của sự methyl hóa trong bệnh ung thư và là một biểu hiện sớm trong bệnh mà dựa vào đó ta có thể thiết lập một marker sinh học phân tử. Đặc biệt, hiện tượng methyl hóa quá mức đảo CpG thuộc vùng promoter gây bất hoạt gen ức chế khối u mà các gen ức chế khối u này mã hóa thành những protein đặc biệt có thể phát hiện các đột biến hay tổn thương DNA và đồng thời kích hoạt quá trình phiên mã của hệ thống enzyme sửa chữa DNA.
Nhưng sự methyl hóa quá mức có thể bất hoạt gen ức chế khối u, sẽ làm gián đoạn hoặc dừng cơ chế sửa chữa DNA. Gen RARβ (retinoic acid receptor, beta ) theo HGNC _ Hugo Gen Nomenclature Committee; nó là một trong 20 gen ức chế khối u đã được phát hiện. Ngoài chức năng ức chế khối u, gen RARβ còn mã hóa cho thụ thể RARβ có chức năng quan trọng trong nhân tế bào. Chúng tôi lựa chọn phương pháp MSP (Methylation Specific PCR) để xác định nhanh chóng và chính xác tình trạng methyl hóa tại các vị trí CpG thuộc vùng promoter của các gen khảo sát trong đề tài nghiên cứu này.
Chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát mức độ methyl hóa tại các đảo CpG thuộc vùng promoter của gene RARβ trên bệnh nhân ung thư cổ tử cung” với các mục tiêu sau: ✓ Thu thập thông tin về đặc điểm, cấu trúc của RARβ và mối tương quan về sự methyl hóa trên gen này với ung thư cổ tử cung. ✓ Thiết kế được các cặp mồi khuếch đại đặc hiệu cho vùng khảo sát của gen trong phản ứng MSP. Từ đó có thể sử dụng cặp mồi này để đánh giá mức độ methyl hóa các gen RARβ trên các mẫu bệnh phẩm từ bệnh nhân ung thư cổ tử cung trong thực nghiệm. ✓ Cung cấp thêm thông tin góp phần cho một đề tài nghiên cứu lớn hơn nhằm xây dựng một hệ thống các gen liên quan đến sự methyl hóa bất thường dẫn đến sự phát sinh và phát triển ung thư nói chung và ung thư cổ tử cung nói riêng, từ đó có thể chẩn đoán sớm và hỗ trợ cho quá trình điều trị ung thư.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2011 Phần I TỔNG QUAN 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2011 I. ĐẠI CƯƠNG VỀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG. Tình hình bệnh ung thư cổ tử cung trên thế giới và ở Việt Nam: Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư phổ biến, đứng thứ hai sau ung thư vú và chiếm 13% trong các bệnh ung thư xảy ra ở phụ nữ trên thế giới, với tỉ lệ tử vong cao chiếm 52% trong số người mắc phải căn bệnh này (IARC, Globocan 2008). Theo Tổ chức y tế thế giới WHO (World Health Organization ), ước tính có 529.828 ca ung tư cổ tử cung mới và 275.128 ca tử vong trong năm 2008 và khoảng 86% các trường hợp này xảy ra ở các nước đang phát triển [7].000 trường hợp ở châu Phi; 77.000 trường hợp ở châu Mỹ Latin; 245.000 xảy ra ở Châu Á [22]; đặc biệt là các nước ở miền nam và miền đông Châu Phi, Trung và Nam Mỹ, vùng caribê có tỷ lệ mắc bệnh rất cao.
Điều này do một phần là thiếu các chương trình truy tìm và phát hiện sớm ung thư cổ tử cung đối với các đối tượng ít được chăm sóc về y tế. Ngoài ra, chất lượng của một số chương trình tầm soát bằng tế bào học cổ tử cung thường chưa đạt yêu cầu. Theo điều tra của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế IARC ( International Agency for Research on Cancer), tỉ lệ nhiễm HPV (Human Papilloma Virus) của phụ nữ toàn cầu dao động trong khoảng 9-13%, nghĩa là cứ khoảng 10 phụ nữ sẽ có 1 người nhiễm HPV. Ở Việt nam nếu chỉ tính riêng ung thư cổ tử cung thì số người chết vì HPV đã cao hơn nhiều so với HIV.
Trong 10 năm qua đã có khoảng 6.000 phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung, cao gấp đôi so với phụ nữ chết vì HIV/AIDS; mặc dù khác với HIV, các tổn thương do HPV, thậm chí ung thư do HPV có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm. Tuy nhiên thực tế ở Việt Nam, phần lớn bệnh nhân ung thư cổ tử cung chỉ được phát hiện ở giai đoạn cuối, vài năm trước khi qua đời [2]. Ung thư cổ tử cung là mối e ngại lớn đối với phụ nữ bởi vì hiện nay nó đang là nguyên nhân gây tử vong cao hàng thứ hai ở Việt Nam nói chung và đứng đầu ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Kết quả thống kê của IARC vào năm 2008 cho thấy rằng có 2.472 ca tử vong trong số 5.174 trường hợp được chẩn đoán ung thư cổ tử cung mới mắc phải tại Việt Nam [7].
2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2011 I.2 Tác nhân gây bệnh: Tháng 11/1991, hội thảo do Trung Tâm Nghiên Cứu Thế Giới về Ung Thư (IARC) và Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) khẳng định Human Papilloma virus (HPV) là nguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành và phát triển ung thư cổ tử cung [21]. Ngày 6/10/2008, giải Nobel y học 2008 đã được trao cho nhà khoa học Đức Harald zur Hausen (72 tuổi) với công trình phát hiện virus HPV, tác nhân gây bệnh ung thư cổ tử cung. HPV là loại virus gây u nhú ở người, chiếm khoảng 70-80% số trường hợp phụ nữ bị ung thư cổ tử cung. Đây là virus rất dễ lây lan và hầu hết mọi phụ nữ đều có nguy cơ nhiễm virus này và những phụ nữ bị nhiễm HPV thường có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung tăng gấp 2,5-5 lần so với phụ nữ không bị nhiễm.
HPV thuộc họ Papillomaviridae. HPV được chia làm hai nhóm, nhóm nguy cơ cao và nguy cơ thấp (về tính gây ung thư): nhóm “nguy cơ thấp” với bộ gen tồn tại độc lập với tế bào chủ, thường chỉ gây ra các u lành biểu mô (u nhú gai, mụn cóc.); nhóm “nguy cơ cao” với khả năng xác nhập DNA vào bộ gen của tế bào người, làm rối loạn, sinh sản ác tính gây ra ung thư [5]. Nhóm nguy cơ cao có liên quan trực tiếp đến bệnh lý ung thư, chúng được phát hiện có mặt trên 90% các trường hợp ung thư cổ tử cung (ung thư tế bào lát hay ung thư tế bào tuyến), trái lại nhóm nguy cơ thấp thì hiếm gặp trong các trường hợp ung thư. Tần suất lưu hành HPV cao trong cộng đồng, ở người bình thường có khả năng từ 6-11%, và 2/3 trường hợp nhiễm HPV thuộc nhóm nguy cơ cao.
Ngoài ra, người ta còn thấy liên quan của HPV với các ung thư âm đạo, âm hộ, dương vật, hậu môn hay vùng hầu họng [3]. Hiện nay, có khoảng 100 type HPV. Nhóm nguy cơ cao hiện nay vào khoảng 15-18 type, phổ biến nhất là type 16, 18 liên quan đến khoảng 70% các ca ung thư cổ tử cung. Sau HPV 16, 18, các type HPV 45, 31, 33, 52, 58, 35 cũng thường gây ung thư cổ tử cung.
Những nhóm nguy cơ cao thường gây tình trạng nhiễm virus kéo dài hơn nhóm nguy cơ thấp (nghĩa là thời gian hiện diện virus tại mô của cổ tử cung dài 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 2011 hơn) nên người ta nghĩ rằng có thể trong nhóm nguy cơ cao, các gen gây ung thư có hoạt tính mạnh hơn, cũng như có thể khả năng lây lan cao hơn nhóm nguy cơ thấp [3].