MỞ ĐẦU Ung thư phối là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư trên toàn thế giới. Đa số bệnh nhân ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn trễ mà không có triệu chứng đặc hiệu; có tiên lượng xấu trên lâm sàng do bệnh thường diễn tiễn nhanh và có nguy cơ tử vong rất cao. So với thể bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ (small-cell lung cancer), ung thư phối không tế bào nhỏ (UTPKTBN; non-small cell lung cancer) thường gặp hơn và có tiên lượng tốt hơn nhờ có các thuốc điều trị nhắm đích đột biến gen EGFR, ALK, BRAF hay ROST. Trong đó, các thuốc nhắm đích đột biến EGFR (EGFR TKI — tyrosine kinase inhibitor) thé hệ một duoc sử dụng rộng rãi nhất hiện nay nhờ hiệu quả cao, trong khi đột biến này cũng thường xuất hiện ở UTPKTBN hơn so với ALK, BRAF hay ROSI.
Đây được xem là bước nhảy vọt trong điều tri UTPKTBN, giúp nâng cao hiệu quả điều trị so với hóa trị cô điển và xa trị, kéo dài thời gian sống không tiến triển bệnh và giảm thiêu được tối đa các tác dụng phụ do hóa chất và tia xạ gây ra, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sông cho bệnh nhân. Đề được điều trị với EGFR TKI như erlotinib hay gefitinib, bệnh nhân UTPKTBN cần được sinh thiết dé lay mẫu mô làm xét nghiệm tìm đột biến EGFR (điều kiện đủ) theo khuyến cáo. Trong đó, hai kiểu đột biến nhạy thuốc được tầm soát trước tiên gồm mất đoạn exon19 (E19del) và đột biến điểm L858R ở exon 21. Xét nghiệm trên mẫu mô được xem là tiêu chuẩn vàng trong thực hành lâm sàng.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều trường hợp mới phát hiện bệnh nhưng không sinh thiết được dé lấy mẫu mô làm xét nghiệm chan đoán do nhiều nguyên nhân khác nhau (tuổi già, sức khỏe kém, tình trạng bệnh nặng, có rối loạn chức năng hô hấp, tim mạch, hoặc khối u nằm ở vị trí khó sinh thiết. Trong khi đó, nhiều bệnh nhân dù đủ điều kiện sinh thiết nhưng tỷ lệ thành công của thủ thuật chỉ khoảng 80% mà thôi. Một số trường hợp khác mặc dù đã sinh thiết được nhưng không đủ tế bao dé làm xét nghiệm tìm đột biến gen do mẫu quá nhỏ, và vì vậy không được hưởng lợi từ liệu pháp EGFR TKI. Trong một tinh thế khác, bệnh nhân có đột biến EGFR, đã được điều trị với EGFR TKI thế hệ thứ nhất nhưng nghỉ ngờ kháng trị, cần phải xác định lại tình trạng đột biến EGFR, đặc biệt là đột biến EGFRT?9%M thứ phát dé chuyển hướng điều trị với EGFR TKI thế hệ thứ ba như osimertinib theo khuyến cáo.
Van đề là sinh thiết lại ở bệnh nhân kháng trị thực sự rất khó khăn. Trong khi đó, sinh thiết lại cũng tiềm ấn nhiều nguy cơ biến chứng nguy hiểm, với tỷ lệ tương đương hoặc thậm chí cao hơn so với sinh thiết lần đầu. Ngoài ra, không thể xác định được thời điểm tối ưu dé sinh thiết lai, trong khi kết quả xét nghiệm rất khác biệt giữa các thời điểm, và giữa những tổn thương u trong cơ thé do tính không đồng nhất của khối u (tumor heterogeneIty). Trong bối cảnh đó, sự ra đời của kỹ thuật sinh thiết lỏng (liquid biopsy) có thể là giải pháp thay thế cho sinh thiết mô đặc, giúp bác sĩ lâm sàng có thêm lựa chọn dé dễ dàng thu mẫu bệnh phẩm và làm xét nghiệm chan đoán cho bệnh nhân.
Xác định đột biến EGFR trong huyết tương là kỹ thuật không xâm lấn do chỉ cần lay máu làm xét nghiệm, rat phù hợp với bệnh nhân khó sinh thiết hoặc không sinh thiết được. Các nghiên cứu cho thấy độ nhạy và độ tương đồng kết quả xét nghiệm EGFR huyết tương so với trong mẫu mô rất khác biệt giữa các trung tâm, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tiền phân tích, phương pháp tách chiết cfDNA (circulating free DNA) từ huyết tương, kỹ thuật xác định đột biến, và cả yếu tố chủng tộc. Trong khi, vẫn chưa có khuyến cáo về quy trình chuẩn hóa cho xét nghiệm này từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO: world health organization). Mặt khác, vẫn chưa có sự đồng thuận về việc sử dụng xét nghiệm EGFR huyết tương trong theo dõi điều trị với EGFR TKI, đánh giá đáp ứng thuốc và tiên lượng sống còn cho bệnh nhân UTPKTBN.
Tại Việt Nam, nghiên cứu về xét nghiệm EGFR huyết tương vẫn còn rất hạn chế, hầu hết được báo cáo trong khoảng một năm gần đây, trong khi vẫn chưa có báo cáo nào về vai trò của xét nghiệm nay trong theo dõi điều trị với EGFR TKI va tiên lượng sống còn cho bệnh nhân UTPKTBN. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài nghiên cứu “Đánh giá giá trị chan đoán và theo dõi điều trị trên bệnh nhân ung thư phối không tế bào nhỏ giai đoạn IIIB và IV bằng xét nghiệm đột biến gen EGFR huyết tương” được thực hiện dé cho thấy sức thuyết phục trong chân đoán và vai trò tiên lượng của xét nghiệm này trong thực tế. Do vậy, nghiên cứu mang đậm tính thực tiễn, hướng tới triển khai ứng dụng kỹ thuật mới trên lâm sàng để chọn lựa bệnh nhân cho liệu pháp EGFR TKI, giúp giảm thiểu nguy cơ biến chứng cho bệnh nhân, giảm chi phí phát sinh, rút ngắn thời gian khám chữa bệnh va nâng cao chất lượng dịch vụ. Nghiên cứu còn có ý nghĩa đặc biệt, nhằm góp phần xây dựng cơ sở khoa học trong tầm soát nhanh gen bệnh ung thư nói chung và UTPKTBN nói riêng; làm phong phú thêm co sở dữ liệu phục vụ cho công tác dao tạo, giảng dạy nâng cao kinh nghiệm, trình độ cho người làm chuyên môn; giúp bắt kịp tiễn bộ khoa học công nghệ mới nhất so với các nước trên thế giới.
Ba mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm: 1. Đánh giá khả năng thay thé cho xét nghiện EGFR trên mẫu mô bằng xét nghiệm EGFR huyết tương. Đánh giá vai trò của xét nghiện EGFR huyết tương trong theo dõi điều trị với EGER TKI thé hệ một; và khả năng phát hiện được đột biến EGFRTMTM thự phát khi bệnh nhân kháng tri. Đánh giá vai trò của xét nghiện EGFR huyết tương trong tiên lượng bệnh ung thu phổi không tế bào nhỏ khi điều trị với EGFR TKI thé hệ một.
Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TONG QUAN VE UNG THU PHOI KHONG TE BAO NHỎ 1. Dich té hoc Ung thư phối là nguyên nhân gây tử vong hang dau trong các loại ung thư trên toàn thế giới. Số liệu mới nhất năm 2018 cho thấy toàn thế giới có khoảng 2,1 triệu ca mắc mới (chiếm 11,6% trong tổng số các loại ung thư), và khoảng 1,76 triệu ca tử vong do ung thư phôi (chiếm 18,4% tổng số ca tử vong do ung thư) [15].
Dự đoán năm 2020 trên toàn thế giới, số lượng ung thư phổi mắc mới tăng lên 2,27 triệu, và số lượng tử vong do ung thư phổi tăng lên 1,98 triệu. Phổi Vú Đại trực tràng Tiền liệt tuyến Dạ dày Gan Thực quản Cổ tử cung Tuyến giáp [ Mắc mới Bàng quang E Tử vong 1 200 000 1 600 000 2000000 sano 0 400 000 800 000 ro ty Số lượng Hình 1. Thứ hạng của 10 loại ung thư thường gặp nhất trên thé giới năm 2018 (Nguồn: GLOBOCAN 2018, WHO) Tại Việt Nam, năm 2018 có khoảng 23,7 ngàn ca mắc mới và 20,7 ngàn ca tử vong do ung thư phổi, đứng thứ hai sau ung thư gan. Tỷ lệ mắc ung thư phổi trung bình của cả 2 giới khoảng 21,7 người/100 ngàn dân [15].
Dự đoán năm 2020, số lượng ung thư phối mắc mới tại Việt Nam tăng lên 29,1 ngàn ca, với khoảng 26,1 ngàn ca tử vong. Trong ung thư phối nguyên phát, khoảng 85 — 90% các trường hợp là thé ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN; non-small cell lung cancer) [118]. Khoảng 10 — 15% trường hợp còn lại là ung thư phôi tế bào nhỏ (small cell lung cancer). Ung thư phổi thường diễn tiến chậm và thầm lặng, trong đó hầu hết (~ 80%) bệnh nhân không có triệu chứng gì cho đến khi được phát hiện đều ở giai đoạn tiến xa (giai đoạn IIIB, IV).
Thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân ở giai đoạn tiến xa chỉ khoảng 12 tháng [185]. Trong khi đó, chỉ khoảng 17% bệnh nhân ung thu phối sống thêm được 5 năm [185]. Hút thuốc hay ảnh hưởng bởi khói thuốc là một trong số yếu tố nguy cơ gây ung thư phổi [95]. Thống kê cho thấy hút thuốc lá gây ra ung thư phổi cho 85 — 90% số ca [95].
Nguy co mắc ung thư phổi của những người hút thuốc lá cao gấp 50 lần so với người không hút. Nguy cơ này ở người hít phải khói thuốc cũng cao hơn nhiều so với người bình thường [95]. Phơi nhiễm với các yếu tổ phóng xạ như uranium, radon 222, polonium. hay các yếu tô độc hại thải ra trong quá trình công nhiệp hóa như amiăng, kim loại nặng, silica, asbestos, khói, hay khí ga.
cũng là yếu tố nguy cơ gây ung thư phổi cao [95]. Ngoài ra, mac lao phôi, viêm phế quan phổi mạn tính hay tính nhạy cảm di truyền cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh [95]. Triệu chứng của bệnh Đa số bệnh nhân mắc UTPKTBN không có triệu chứng lâm sảng đặc hiệu, trong khi đó khoảng 25% bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng cụ thể [2]. Ở giai đoạn tiễn xa, bệnh nhân có thể có các triệu chứng như: ho kéo dài, đặc biệt là ho ra máu, khàn tiếng, khó thở, đau ngực, và các triệu chứng ở các cơ quan khác khi khối u đi căn tới như đau nhức xương, đau đầu do tăng áp lực nội sọ, giảm sức nhìn, đột quy.
Ngoài ra có thé có các triệu chứng không điển hình như suy nhược cơ thé, giảm cân. Chan đoán hình ảnh Chân đoán hình ảnh là công cụ đầu tiên giúp tầm soát UTPKTBN khi bệnh nhân có dấu hiệu nghi ngờ. Các kỹ thuật chân đoán hình ảnh thường dùng hiện nay gồm X-Quang, nội soi, CT-Scanner (computed tomography), PET-CT (positron emission tomography computed tomography), MRI (magnetic resonance imaging), xa hinh xuong va siéu 4m. X-Quang ngực được sử dung rộng rãi, với liều phóng xa thấp nhưng chi phát hiện được u khi bệnh đã ở giai đoạn tiến xa.
Nội soi phế quản là công cụ quan trọng, giúp đánh giá tắc nghẽn đường hô hap va thông qua đó thu mẫu dịch rửa phế quản hoặc mẫu sinh thiết dé làm xét nghiệm giải phẫu bệnh học. CT-Scanner ngực và PET-CT là hai công cụ quan trọng, giúp đánh giá giai đoạn bệnh, khả năng di căn và mức độ hoạt động của khối u.