Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc và đặc điểm ung thư Ung thư là một thuật ngữ dùng để chỉ hơn 200 loại bệnh khác nhau gây ra bởi sự tăng sinh quá mức của tế bào một cách không bình thường. Sự tăng sinh này không tuân theo mọi cơ chế kiểm soát của cơ thể.
Đây là kết quả của hàng loạt các biến đổi bất thường trong cơ chế sinh sản của tế bào. Căn cứ vào tính chất giải phẫu bệnh hoặc các cơ quan bị tổn thương, hoặc có thể dựa vào sự khởi phát của tế bào và vị trí của tế bào … người ta phân loại ung thư theo nhiều dạng khác nhau. Nếu căn cứ vào loại tế bào phát sinh, ung thư có thể chia thành các dạng như: ung thư biểu mô, có nguồn gốc từ tế bào biểu mô; ung thư mô liên kết, có nguồn gốc từ các tế bào ở mô liên kết … Tuy nhiên, tất cả các tế bào ung thư trong một khối u (cả tế bào di căn) thường có nguồn gốc chung là xuất phát từ một tế bào ban đầu [2], [3], [8]. Từ đó, việc xác định, nhận biết sớm và chính xác về ung thư là vô cùng cần thiết và quan trọng, bởi khi phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm là một trong những điều kiện thuận lợi để điều trị kịp thời cho những bệnh nhân không may mắc phải căn bệnh nguy hiểm này.
Nguồn gốc tế bào ung thư Sự phân chia tế bào là một quá trình sinh lý xảy ra trong những điều kiện nhất định tại hầu hết các mô trong cơ thể sinh vật đa bào nói chung, cơ thể người nói riêng, giúp cho cơ thể tồn tại, sinh trưởng và phát triển. Bình thường, sự cân bằng giữa tốc độ của quá trình tăng sinh tế bào được điều hoà một cách chặt chẽ và chính xác, đảm bảo cho tính toàn vẹn của mô và các cơ quan trong cơ thể. Khi cơ chế này bị rối loạn sẽ xảy ra hiện tượng tế bào tránh được sự chết theo chương trình (apoptosis) và phân chia không có sự kiểm soát là nguyên nhân tạo thành các khối u lành tính hoặc ác tính (ung thư). Khối u lành tính sẽ không có hiện tượng lan tràn đến những vị trí khác nhau Soá hoùa bôûi trung taâm hoïc lieäu http://www.vn/ 5 trong cơ thể hoặc không có sự xâm lấn đến các mô xung quanh, vì vậy u lành tính hiếm khi ảnh hưởng đến tính mạng bệnh nhân trừ khi chúng chèn ép các cấu trúc sống còn trong cơ thể.
Ngược lại, các khối u ác tính thì có thể xâm lấn vào các cơ quan khác nhau trong cơ thể, lan đến những nơi xa hơn trong cơ thể (di căn), do đó sẽ đe dọa trực tiếp đến tính mạng của con người [2], [3], [8]. Vì vậy, di căn có thể được hiểu là yếu tố quan trọng nhất về tính chất ác tính của ung thư. Hai yếu tố quan trọng nhất trong hệ gen dẫn đến ung thư là tích luỹ các đột biến soma và tăng cường tính bất ổn di truyền. Các đột biến này rất nhạy với sự tăng sinh tế bào, nhất là khi chúng kết hợp với nhau thì tế bào có khả năng tăng sinh một cách không thể kiểm soát được [2].
Tính bất ổn di truyền phản ánh số lượng gen trong tế bào ung thư, đó có thể là kết quả của sự nhân lên hay mất đi hoặc sự di chuyển vị trí của DNA trên nhiễm sắc thể. Khi tính bất ổn ở mức độ nhiễm sắc thể có thể tác động đến hệ thống điều khiển sự phân chia tế bào. Như vậy, sinh ung thư là quá trình rối loạn tốc độ phân chia tế bào do tổn thương của DNA, do đó ung thư là một bệnh lý về gen. Thông thường một tế bào bình thường để chuyển sang tế bào ung thư phải qua ít nhất một vài đột biến tại một số gen nhất định.
Quá trình này liên quan đến cả hệ thống gen tiền ung thư và gen át chế ung thư [2], [3], [8]. Gen tiền ung thư mã hoá cho nhóm protein tham gia vào quá trình hình thành những chất truyền tin (messenger) trong quá trình dẫn truyền tín hiệu tế bào. Các chất truyền tin này sẽ truyền tín hiệu "tiến hành phân bào" tới chính tế bào đó hay những thế bào khác. Do vậy, khi bị đột biến, các gen tiền ung thư sẽ biểu hiện quá mức (overexpression) làm các tế bào tăng sinh thừa thãi, lúc này trở thành những gen ung thư (cancer genes).
Tuy nhiên, các gen ung thư thực chất là dạng đột biến về trình tự hoặc mức độ biểu hiện của các gen cần thiết đối với quá trình phát triển, sửa chữa và ổn định nội môi của cơ thể, Soá hoùa bôûi trung taâm hoïc lieäu http://www.vn/ 6 do đó không thể loại bỏ các gen này khỏi hệ gen nhằm làm giảm khả năng ung thư [2], [3]. Ngược lại với gen ung thư, các gen át chế ung thư (tumorsuppressor gens) mã hóa cho các chất truyền tin hóa học nhằm giảm hoặc ngừng quá trình phân chia của tế bào khi phát hiện thấy có sai hỏng về DNA. Đó là các enzym đặc biệt có thể phát hiện các đột biến hay tổn thương DNA và đồng thời kích hoạt quá trình phiên mã của hệ thống enzym sửa chữa DNA. Điều này nhằm hạn chế tối đa khả năng các sai hỏng về DNA được truyền cho thế hệ tế bào kế tiếp.
Thông thường, các gen át chế ung thư sẽ được kích hoạt khi có tổn thương DNA xảy ra, nhưng một số đột biến có thể bất hoạt protein át chế ung thư hoặc làm mất khả năng truyền thông tin của nó. Điều này làm gián đoạn hoặc dừng cơ chế sửa chữa DNA, khi đó những tổn thương DNA được tích luỹ lại dần dần hình thành ung thư [2], [3]. Đặc điểm tế bào ung thư Tất cả các tế bào ung thư ác tính đều không có tính biệt hoá, điều này được thể hiện qua sự khác nhau giữa chúng với tế bào nguồn gốc ban đầu sinh ra chúng, thậm chí giữa các tế bào ác tính cũng có hình ảnh khác biệt nhau [2], [3], [8]; lúc này, các tế bào ác tính biểu hiện một số đặc điểm sau: Nhân của tế bào ác tính thường khác nhau về hình dạng và kích thước Hạch nhân ở tế bào u ác tính thường nổi rõ và có nhiều hạch nhân Tế bào u ác tính có nhiều dạng phân chia bất thường, lượng tế bào chất rất biến đổi Nhiễm sắc thể thường bị đột biến cả về số lượng và cấu trúc [2], [3]. Từ đó cho thấy các tính chất đặc trưng của tế bào ác tính là: Tránh được sự chết theo chương trình (apoptosis) Khả năng phát triển vô hạn (bất tử) Tự cung cấp các yếu tố phát triển Soá hoùa bôûi trung taâm hoïc lieäu http://www.vn/ 7 Không nhạy cảm với các yếu tố chống tăng sinh Tốc độ phân bào gia tăng Thay đổi khả năng biệt hoá tế bào Không có khả năng ức chế, tiếp xúc Khả năng di căn đến các mô khác nhau trong cơ thể Khả năng tăng sinh mạch máu [2], [3].
Tuy nhiên lúc mới hình thành, các tế bào khối u thường không có tất cả các đặc điểm trên cùng một lúc, nhưng thế hệ sau của nó sẽ được chọn lọc để có đặc tính nói trên. Đó chính là quá trình chọn lọc theo dòng của tế bào ung thư, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn trong việc chẩn đoán và điều trị ung thư. Ung thư phổi UTP là một trong những căn bệnh hiểm nghèo gây chết người trong hơn 200 căn bệnh về sự tăng sinh không bình thường của tế bào. Theo nghiên cứu của tổ chức ung thư Quốc tế (International Agency for Research on Cancer - IARC), đa số UTP xuất phát từ lớp biểu mô phế quản, do đó UTP còn được gọi là ung thư biểu mô phế quản - phổi nguyên phát, rất hiếm khi phát triển từ biểu mô phế nang [2], [7], [8].
UTP thường là một khối u rắn chắc, khi phát hiện được thì khối u đã có kích thước từ 2-10 cm hoặc có thể lớn hơn. Mặt ngoài của khối u thường gồ gề, nhiều múi, nhăn nhúm; mặt cắt của khối u thường đồng nhất và có màu trắng giống như tổ chức não [2], [3], [7], [8]. Một trong những nguyên nhân để phát hiện UTP muộn là do giai đoạn tiền bệnh, UTP hầu như không có bất cứ dấu hiệu, triệu chứng nào biểu hiện, đây cũng chính là đặc điểm phổ biến của tất cả các loại ung thư và cũng chính là nguyên nhân để ung thư trở nên khó chẩn đoán được sớm. Soá hoùa bôûi trung taâm hoïc lieäu http://www.vn/ 8 Nếu sử dụng các phương pháp chẩn đoán thông thường thì việc phát hiện UTP ở giai đoạn sớm là rất khó khăn, làm hạn chế hiệu quả điều trị.
Chính vì vậy, các nhà khoa học hiện nay đang nỗ lực tìm kiếm và tạo ra các phương pháp chẩn đoán phân tử nhằm đem lại kết quả vừa nhanh vừa chính xác cho căn bệnh nguy hiểm này. Những người mắc UTP thường xuất hiện các triệu chứng sau: Ho không khỏi và ngày càng nặng hơn Thường xuyên thấy đau ngực Ho ra máu Khó thở, ngạt mũi, khàn giọng Viêm phổi và viêm phế quản tái đi tái lại Phù nề vùng mặt và cổ Mất cảm giác ngon miệng hoặc giảm cân, mệt mỏi… Tuy nhiên, các triệu chứng này cũng có thể xuất hiện ở các bệnh khác về phổi, vì vậy muốn khẳng định chắc chắn bệnh nhân có mắc UTP hay không, cần phải thực hiện các chẩn đoán y học đáng tin cậy [2], [3], [7], [8]. Nguyên nhân ung thư phổi Hiện nay, người ta chưa biết rõ nguyên nhân chính xác gây ra UTP. Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu đã xác định những yếu tố thuận lợi gắn liền với quá trình phát sinh UTP là: khói thuốc lá, thuốc lào; các tác nhân vật lý, hóa học; yếu tố liên quan đến di truyền; ô nhiễm môi trường và một số các yếu tố khác.
Khói thuốc lá, thuốc lào Trong khói thuốc lá có chứa các chất hydrocacbua thơm nhiều vòng, trong số đó độc nhất là chất 3 - 4 benzopyrene với hàm lượng 0,5 microgam trong một điếu thuốc và một số chất khác như nitrosamine, benzanthracene… Đây là những chất có liên quan đến sự phát sinh UTP. Mặt khác, các chuyên Soá hoùa bôûi trung taâm hoïc lieäu http://www.vn/ 9 viên về UTP cũng đã kết luận: 80-90% căn nguyên UTP bắt đầu từ nghiện hút thuốc lá [2], [7], [97].