phần mở đầu, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn có kết cấu gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về Marketing xã hội Chƣơng 2: Phân tích hoạt động Marketing xã hội về bệnh truyền nhiễm vi rút HIV/ AIDS Chƣơng 3: Giải pháp về Marketing xã hội trong hoạt động ngăn chặn HIV/AIDS giai đoạn từ 2017-2020 Kết luận và khuyến nghị Học viên: Trƣơng Lê Trọng Hiệp - Lớp: MB01 6 Luận văn Cao học Khoa QTKD - Đại học Dân lập Hải Phòng CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MARKETING XÃ HỘI 1. Cơ sở lý thuyết về Marketing xã hội 1. Khái niệm và các hoạt động của Marketing xã hội Cũng giống nhƣ nhiều ý tƣởng giàu sáng tạo khác, “Markeling xã hội”, hay còn gọi là “Tiếp thị xã hội” (Social Marketing), là khái niệm đƣợc nhiều ngƣời nêu lên. Thuật ngữ này là do Philip Kotler đã dùng lần đầu năm 1971; sau đó ông đã viết một quyển sách về đề tài này (Kotler và Roberto, Social Marketing - Strategies for Changing Public Behavior, 1989) [114]; cùng nhiều ngƣời khác đã viết (Nedra Kline Weinreich, Hcinds-On Social Marketing - A Step by Step Guide, 1999) [110]; (Alan R.
Andreasen, Marketing Social Change, 1995) [101]; v. Nhƣng thực ra các hoạt động Marketing xã hội đầu tiên đã đƣợc thực hiện trƣớc khi có tên gọi. Trên thế giới, cách đây hơn 30 năm, các nhà nghiên cứu hàng đầu của ngành Marketing bắt đầu tìm tới các ứng dụng có thể thực hiện đƣợc và không nằm trong giới hạn theo truyền thống là Marketing trong khu vực thƣơng mại, dịch vụ. Những năm 1970, các nhà nghiên cứu Marketing tập trung vào việc đem các tƣ tƣởng, quy trình và khái niệm về Marketing vào hàng loạt các tổ chức thuộc dạng hoạt động không vì lợi nhuận, tổ chức,chƣơng trình, dự án về phòng ngừa dịch bệnh nguy hiểm của thời đại, những vấn đề toàn cầu cùng giải quyết.
Đến những năm 1980 và 1990, một số lớn các học giả và nhà nghiên cứu đã chuyển từ lĩnh vực khởi xƣớng sang thực hiện trọng tâm các chƣơng trình. Tại Việt Nam một số chƣơng trình Marketing xã hội đã gây đƣợc ảnh hƣởng lớn đến các hành vi cụ thể: Sinh đẻ có kế hoạch, đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe gắn máy, không đổ rác bừa bãi, không đi vệ sinh bừa bãi, xóa đói giảm nghèo, xếp hàng, áp dụng biện pháp tình dục an toàn, hoặc đi tiêm chủng cho trẻ em, cấp phát thuốc cho ngƣời nhiễm virus HIV. Tuy nhiên hiện nay đối với giáo dục Việt Nam chƣa có đặt Marketing xã hội thành một ngành học riêng biệt trong Marketing nói chung. Đồng thời hoạt động Marketing xã hội đƣợc hiểu nhƣ việc khởi phát, ấn định bởi Luật pháp, các Nghị định của Chính phủ và các thông tƣ liên ngành chứu không thuộc các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tƣ nhân.
Ví dụ đối với việc phòng chống các bệnh truyền nhiễm Học viên: Trƣơng Lê Trọng Hiệp - Lớp: MB01 7 Luận văn Cao học Khoa QTKD - Đại học Dân lập Hải Phòng đƣợc thực hiện bằng Bộ Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12 ngày 21/11/2017 trong đó tại Điều 3 khoản 1 phần b: “Nhóm B gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong… bệnh do vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngƣời HIV/AIDS…” Do vậy chƣa kêu gọi các nhà nghiên cứu, chuyên gia kinh tế quan tâm và tham gia nhiều hơn vào việc nghiên cứu Marketing xã hội đối với các vấn đề đang diễn ra trong xã hội nhằm tạo ra môi trƣờng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Hiện nay ở Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng chƣa có các Trung tâm Marketing xã hội theo quan điểm của các học giả, các các chuyên gia về Marketing trên thế giới nhƣ: Philip Kotler: “Marketing xã hội là việc sử dụng các nguyên lý và kỹ thuật Marketing gây ảnh hƣởng đến đối tƣợng mục tiêu để họ chấp nhận, khƣớc từ, thay đổi, hay loại bỏ một cách tự nguyện hành vi nào đó, mà điều đó có ch cho các cá nhân, nhóm ngƣời hoặc toàn xã hội”. Alan Andreasen: “Marketing xã hội là việc áp dụng những kỹ thuật Marketing trong kinh doanh cho việc phân tích, hoạch định, thực thi và lƣợng giá những chƣơng trình đƣợc thiết kế để tác động đến hành vi tự nguyện của tập thể đối tƣợng mục tiêu nhằm đem lại sự tốt lành cho bản thân họ và cho xã hội mà họ là thành viên”. • Nedra Kline Weinreich: “Marketing xã hội là sử dụng những kỹ thuậtMarketing kinh doanh để khuyến khích sự đồng thuận về một hành vi nào đó nhằm cải thiện sức khoẻ, hạnh phúc của từng đối tƣợng mục tiêu hay toàn xã hội” Với hình thái kinh tế, xã hội ở Việt Nam đến thời điểm viết luận văn, tác giả nhận thấy các quan điểm trên chƣa phân t ch rõ về Marketing xã hội: Sự khác biệt về thành phần của Marketing xã hội so với Marketing kinh doanh phạm vi ứng dụng của Marketing xã hội là môi trƣờng cộng đồng; sự khác biệt cơ bản giữa hoạt động Marketing xã hội không vì lợi nhuận với Marketing kinh doanh luôn vì lợi nhuận; xác định phạm vi ứng dụng của Marketing xã hội là môi trƣờng cộng đồng.
- Phân loại về Marketing xã hội Học viên: Trƣơng Lê Trọng Hiệp - Lớp: MB01 8 Luận văn Cao học Khoa QTKD - Đại học Dân lập Hải Phòng Marketing xã hội không có một khuôn khổ phân loại rõ ràng vì các mặt của đời sống xã hội thì rất đa dạng và luôn luôn chuyển động, vì thế, dựa vào các quan điểm của Marketing xã hội thì mọi hoạt động áp dụng các kỹ thuật Marketing kinh doanh nhằm mục tiêu phục vụ cho lợi ích của đối tƣợng mục tiêu hay cho toàn xã hội đều là hoạt động Marketing xã hội dù chúng có thể đƣợc đặt dƣới những hình thức khác nhau. Tác giả nhìn nhận hiện nay đã và đang có một số hoạt động Marketing xã hội cho các mục tiêu xã hội cụ thể khác nhau nhƣ sau: Mục tiêu xã hội có các hoạt động: - Marketing xã hội về việc cổ động chiêu sinh cho trƣờng dân lập, dạy nghề - Marketing xã hội về việc đội mũ bảo hiểm khi đi xe gắn máy, xe mô tô - Marketing xã hội về phòng chống lạm dụng trẻ em. Mục tiêu sức khoẻ cộng đồng có các hoạt động: - Marketing xã hội về phòng chống bệnh truyền nhiễm; - Marketing xã hội về phòng chống HIV/AIDS. - Marketing xã hội về phòng chống cao huyết áp.
- Marketing xã hội về lƣơng thực, thực phẩm sạch, an toàn. - Marketing xã hội về phòng ngừa suy dinh dƣỡng. - Marketing xã hội về phòng ngừa loãng xƣơng. Mục tiêu phát triển nhận thức công chúng có các hoạt động nhƣ: - Marketing xã hội về việc vận động nuôi con bằng sữa mẹ.
- Marketing xã hội về phòng chống lạm dụng dƣợc phẩm. - Marketing xã hội về chống hút thuốc lá. - Marketing xã hội về tiêm chủng mở rộng - Marketing xã hội về nhà tiêu dùng thông thái v. Đối với phòng chống và điều trị vi rút HIV/AIDS từ năm 2003, có một chƣơng trình Marketing xã hội về phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngƣời (HIV/AIDS) đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ khởi phát bằng Quyết định số 36/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 về việc phê duyệt chiến lƣợc quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, thực hiện bởi Uỷ ban phòng chống các bệnh truyền nhiễm do Viện vệ sinh Dịch tễ Học viên: Trƣơng Lê Trọng Hiệp - Lớp: MB01 9 Luận văn Cao học Khoa QTKD - Đại học Dân lập Hải Phòng thực hiện (sau này Uỷ ban Quốc gia phòng chống HIV/AIDS với các tổ chức quốc tế tài trợ.
Các giai đoạn trong quá trình Marketing xã hội - Quá trình Marketing xã hội đƣợc hình thành qua 5 giai đoạn : - Giai đoạn 1: Hoạch định. - Giai đoạn 2: Triển khai tài liệu, đƣa ra thông điệpvà phát triển các sản phẩm marketing. - Giai đoạn 3: Kiểm tra thử nghiệm. - Giai đoạn 4: Thực hiện.
- Giai đoạn 5: Thẩm định và thu thập thông tin phản hồi. Trong thực tế, Marketing xã hội không nhất thiết phải là một chuỗi rõ ràng các giai đoạn nhƣng là một quá trình của việc thu thập thông tin phản hồi và điều chỉnh. Điều này có thể bao gồm cả việc xem xét lại những giai đoạn đã thực hiện và có những điều chỉnh dựa trên thông tin mới. 05 giai đoạn Marketing xã hội chi tiết nhƣ sau: Giai đoạn 1: Hoạch định Đây là giai đoạn lập kế hoạch định hình nền tảng để phát triển những bƣớc tiếp theo.
Để tạo ra một hoạt động Marketing xã hội hiệu quả, chúng ta phải hiểu đƣợc vấn đề mà chúng ta đang quan tâm, đối tƣợng mục tiêu của chúng ta và môi trƣờng để thực hiện hoạt động Marketing xã hội. Phân tích những yếu tố này và phát triển chiến lƣợc hành động tác động đến quá trình tự nhận thức và thay đổi hành vi của đối tƣợng mục tiêu. Giai đoạn 2: Triển khai tài liệu, đƣa ra thông điệp và phát triển các sản phẩm Marketing xã hội. Giai đoạn này sử dụng thông tin có đƣợc từ giai đoạn lập kế hoạch để tạo ra những thông điệp thuyết phục cũng nhƣ tài liệu và các sản phẩm Marketing để truyền tải thông điệp đến đối tƣợng mục tiêu.
Giai đoạn 3: Kiểm tra, thử nghiệm Là giai đoạn kiểm tra trƣớc, bao gồm sử dụng nhiều phƣơng pháp khác nhau để kiểm tra thông điệp và tài liệu với đối tƣợng mục tiêu để xác định xem những công việc nào hoàn thành phù hợp mục tiêu của hoạt động. Việc lặp lại nhiều lần Học viên: Trƣơng Lê Trọng Hiệp - Lớp: MB01 10 Luận văn Cao học Khoa QTKD - Đại học Dân lập Hải Phòng quá trình thực hiện giai đoạn 2 và giai đoạn 3 (triển khai - kiểm tra) nhằm mục đ ch có những điều chỉnh cần thiết cần thiết về thông điệp, tài liệu hoặc tất cả chiến lƣợc và thăm dò xem việc tiếp cận có hiệu quả không?. Giai đoạn 4: Thực hiện Để thực hiện hoạt động, công tác chuẩn bị rất quan trọng cho sự thành công của hoạt động và phải giám sát quá trình thực hiện để bảo đảm rằng mỗi yếu tố đƣợc triển khai theo đúng kế hoạch đã đƣợc hoạch định. Giai đoạn 5:Thẩm định và thu thập thông tin phản hồi Đây là bƣớc cuối cùng đánh giá và thu thập thông tin phản hồi.
Đánh giá hoạt động vừa là một tổng thể vừa là một yếu tố độc lập của chiến lƣợc hoạt động.