Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học "Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề quản lý rác thải sinh hoạt tại xã Tả Phời, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai" được thực hiện bởi sinh viên Đỗ Khánh Linh (ngành Khoa học Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2015), dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thanh Hải.
Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định xuất phát từ áp lực gia tăng rác thải sinh hoạt (RTSH) trong quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa và công nghiệp hóa tại tỉnh Lào Cai – một tỉnh miền núi biên giới có diện tích 6.384 km² và dân số 648.000 người. Dù hệ thống cơ sở hạ tầng đã được quan tâm đầu tư, công tác thu gom và xử lý rác thải toàn tỉnh vẫn bộc lộ nhiều hạn chế; lượng phát sinh rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh đạt trên 500 tấn/ngày. Tại xã Tả Phời – địa bàn vùng cao đặc thù với 86,9% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số và có nhiều khai trường khai thác quặng apatit đang hoạt động – công tác quản lý rác thải còn mang tính tự phát, khoảng 15% lượng RTSH mỗi ngày chưa được thu gom xử lý đúng quy chuẩn, dẫn đến ô nhiễm cục bộ môi trường đất, nước và không khí.
Mục tiêu của đề tài:
- Tìm hiểu nhận thức và thái độ của người dân trong vấn đề phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu.
- Làm rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng và phương tiện truyền thông trong công tác quản lý môi trường tại địa phương.
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng, từ đó thúc đẩy thay đổi hành vi quản lý RTSH của người dân.
Nhiệm vụ/Yêu cầu nghiên cứu:
- Điều tra, phân tích thái độ và nhận thức của người dân về các khâu phân loại, thu gom và xử lý RTSH.
- Đánh giá thực trạng quản lý, thu gom và các phương thức xử lý rác sinh hoạt đang áp dụng tại địa phương.
- Xác định các thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý RTSH tại xã Tả Phời.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao nhận thức và hiệu quả quản lý RTSH phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng nhận thức, hành vi của người dân và các giải pháp quản lý RTSH; các hộ gia đình, hộ kinh doanh và cán bộ công chức tại xã Tả Phời.
- Phạm vi không gian: 3 thôn đại diện gồm thôn Trạm Thải, thôn Lắp Máy và thôn Đoàn Kết thuộc xã Tả Phời, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và thu thập dữ liệu thực địa từ tháng 01/2015 đến tháng 04/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Tác giả hệ thống hóa các khái niệm nền tảng trong khoa học môi trường và tâm lý học xã hội:
- Môi trường, tiêu chuẩn môi trường, ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) theo quy định học thuật và Luật Bảo vệ môi trường.
- Nhận thức, ý thức, thái độ và hành vi: Tiếp cận theo Tâm lý học đại cương và Từ điển Tiếng Việt Phổ thông để phân tích mối quan hệ nhân quả từ hiểu biết (nhận thức), quan điểm (thái độ) đến hành động thực tế (hành vi) của cộng đồng.
- Chất thải rắn sinh hoạt, quản lý rác thải, thu gom và xử lý rác thải: Định nghĩa các quy trình kỹ thuật từ phân loại tại nguồn, lưu trữ, thu gom, vận chuyển đến tiêu hủy/tái chế.
Cơ sở pháp lý
Nghiên cứu viện dẫn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và địa phương:
- Hiến pháp năm 1992; Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015); Nghị định số 19/2015/NĐ-CP;
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP và Nghị định số 21/2008/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật BVMT;
- Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg về thu gom và quản lý chất thải rắn (khuyến khích xã hội hóa 100%);
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn; Thông tư số 13/2007/TT-BXD; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD;
- Nghị định số 67/2003/NĐ-CP, Nghị định số 04/2007/NĐ-CP và Nghị định số 174/2007/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường;
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6696-2000 về bãi chôn lấp hợp vệ sinh;
- Quyết định số 29/2010/QĐ-UBND ngày 19/09/2010 của UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quy chế Bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và kế thừa: Thu thập dữ liệu khí tượng, thủy văn, sinh thái, báo cáo kinh tế - xã hội của xã Tả Phời và các nghiên cứu quản lý chất thải trong nước, quốc tế.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn bán cấu trúc gồm 2 phần (thông tin nhân khẩu học và các vấn đề RTSH). Mẫu khảo sát gồm 70 phiếu (60 phiếu phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình tại 3 thôn Trạm Thải, Lắp Máy, Đoàn Kết; 10 phiếu phỏng vấn cán bộ chuyên trách UBND xã Tả Phời).
- Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp điểm tập kết, bãi rác tự phát, thói quen xử lý rác tại vườn nhà của người dân và hoạt động của đội thu gom.
- Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Word và Microsoft Excel để tổng hợp bảng thống kê, tính tỷ lệ phần trăm và biểu diễn dữ liệu.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh xã Tả Phời đang chuyển dịch kinh tế từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa nhưng cơ sở hạ tầng môi trường chưa theo kịp. Khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dữ liệu thực nghiệm về xã hội học môi trường vùng cao và ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở cho chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách quản lý.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
- Cơ sở thực tiễn quốc tế: Tổng hợp suất phát sinh chất thải rắn đô thị: nước thu nhập thấp đạt 15,46 kg/người/năm (theo trích dẫn tài liệu), nước thu nhập cao đạt 86,47 kg/người/năm. Suất phát sinh rác tại Canada là 1,7 kg/người/ngày, Australia là 1,6 kg/người/ngày, New York (Mỹ) đạt 1,8 kg/người/ngày, Singapore đạt 0,8–1,0 kg/người/ngày. Phân tích mô hình phân loại 3 túi rác tại Nhật Bản, mô hình đấu thầu thu gom theo khối lượng tại California (Mỹ), cơ chế kiểm soát chất thải nghiêm ngặt tại Pháp và Singapore.
| Quốc gia |
Tái chế (%) |
Chôn lấp (%) |
Đốt (%) |
Chế biến phân vi sinh (%) |
| Canada |
10 |
80 |
8 |
2 |
| Đan Mạch |
19 |
29 |
48 |
4 |
| Phần Lan |
15 |
83 |
2 |
0 |
| Pháp |
3 |
54 |
42 |
1 |
| Đức |
16 |
46 |
36 |
2 |
| Thụy Điển |
16 |
47 |
3 |
34 |
| Thụy Sĩ |
22 |
17 |
59 |
2 |
| Mỹ |
15 |
67 |
16 |
2 |
- Cơ sở thực tiễn tại Việt Nam: Suất phát sinh rác đô thị dao động từ 0,35–0,8 kg/người/ngày; trung bình mỗi người thải khoảng 200 kg rác/năm. Tỷ lệ thu gom rác trung bình toàn quốc chỉ đạt khoảng 31%; khu vực đô thị thu gom đạt 60–65%, còn nông thôn phần lớn chưa có hệ thống thu gom đồng bộ. Tác giả chỉ rõ 5 khó khăn cốt lõi: thiếu kinh phí đầu tư, nhận thức cán bộ và cộng đồng chưa cao, thực thi pháp luật chưa nghiêm, thiếu giải pháp liên ngành đồng bộ, và năng lực cung ứng dịch vụ quản lý chất thải còn hạn chế.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy định chi tiết khung nghiên cứu, đối tượng khảo sát (60 hộ dân và 10 cán bộ), 5 nhóm nội dung trọng tâm và quy trình triển khai 5 phương pháp nghiên cứu từ tháng 01/2015 đến tháng 04/2015.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung phản ánh kết quả khảo sát thực tế tại xã Tả Phời theo 5 nhóm nội dung:
1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Tả Phời
- Tự nhiên: Diện tích 8.879,2 ha (chiếm 37,8% diện tích TP. Lào Cai), cách trung tâm thành phố 20 km về phía Nam. Địa hình đồi núi thấp bị chia cắt mạnh bởi các thung lũng hẹp, suối Ngòi Đường và suối Sơn Cánh. Thủy văn chịu ảnh hưởng của sông Hồng (lưu lượng trung bình 414 m³/s, mùa kiệt 74 m³/s). Hệ sinh thái có 38 loài thực vật nổi (tảo Silic chiếm 78,2%), 30 loài động vật nổi, 39 loài động vật đáy, 70 loài động vật trên cạn và 181 loài thực vật trên cạn. Cảnh quan bị tác động lớn bởi hoạt động khai thác mỏ apatit (khai trường Cam Đường 2) gây bụi và hư hại đường giao thông.
- Xã hội: 22 thôn bản, 6.312 nhân khẩu, 7 dân tộc (Dáy, Dao, Tày, Kinh, Xa Phó, Hmong, Hoa) với dân tộc thiểu số chiếm 86,9%; có 8 thôn thuộc Chương trình 135 giai đoạn II. Nông nghiệp chiếm 80% lao động. Hệ thống hạ tầng gồm 54,29 km đường liên thôn (chất lượng còn thấp), 6 trường học (1.554 học sinh), 1 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia.
2. Thực trạng phân loại, thu gom và xử lý RTSH
- Nhận thức về phân loại rác: Đa số người dân (92,86%) đánh giá việc phân loại RTSH là quan trọng và rất quan trọng. Mức độ quan tâm cao nhất rơi vào nhóm tuổi 31–40 và 41–50 (30/32 người đánh giá quan trọng/rất quan trọng). Nhận thức theo giới tính tương đồng cao: 94,44% nam giới và 94,12% nữ giới coi việc phân loại là quan trọng/rất quan trọng.
| Tiêu chí khảo sát |
Nhóm phản hồi |
Số lượng (N) |
Tỷ lệ (%) |
| Đánh giá tầm quan trọng (N=70) |
Rất quan trọng |
44 |
62,86% |
|
Quan trọng |
21 |
30,00% |
|
Không quan trọng |
2 |
2,86% |
|
Khó trả lời |
3 |
4,28% |
| Thực tế phân loại hàng ngày (N=68) |
Có phân loại |
30 |
44,12% |
|
Không phân loại |
34 |
50,00% |
|
Khó trả lời |
4 |
5,88% |
| Hiểu biết cách phân loại (N=59) |
Biết cách phân loại |
44 |
74,58% |
|
Không biết cách |
15 |
25,42% |
| Người thực hiện phân loại chính (N=55) |
Vợ |
33 |
60,00% |
|
Chồng |
10 |
18,18% |
|
Người khác |
10 |
18,18% |
|
Con |
2 |
3,64% |
- Khoảng cách giữa nhận thức và hành động: Dù 74,58% người trả lời biết cách phân loại, thực tế có đến 50% số hộ hoàn toàn không thực hiện phân loại trước khi vứt bỏ. Việc phân loại chủ yếu mang tính tự phát. Phụ nữ (người vợ) giữ vai trò chủ đạo (60%) trong quản lý vệ sinh và phân loại rác gia đình.
- Công tác thu gom: Trước năm 2012, xã không có dịch vụ thu gom rác, người dân tự đào hố sâu 1x1m tại vườn. Từ năm 2013, xã bắt đầu có dịch vụ thu gom đưa về bãi rác Cam Đường (bố trí 3 xe chuyên chở). Từ tháng 09/2014, xã thành lập các tổ thu gom rác dân lập tại các thôn.
- Phương thức xử lý rác của hộ gia đình (N=60): Đào hố chôn/đốt tại vườn chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,67% (25 hộ); bỏ rác vào thùng công cộng chiếm 25,00% (15 hộ); vứt rác gần nhà chiếm 18,33% (11 hộ); để trước nhà chờ công nhân thu gom chỉ chiếm 15,00% (9 hộ).
- Hiểu biết về khâu xử lý cuối cùng: 68,33% (41/60 hộ) không biết chính quyền địa phương xử lý rác sau thu gom như thế nào; chỉ 8,33% cho biết là đem chôn lấp.
3. Nhận thức và thái độ của người dân đối với môi trường
- Nguyên nhân xả rác bừa bãi (N=60): Do thói quen chiếm 50,00% (30 hộ); do thuận tiện chiếm 16,67% (10 hộ); do thiếu thùng rác chiếm 16,67% (10 hộ); làm theo người xung quanh chiếm 8,33% (5 hộ); sợ tốn tiền đổ rác chiếm 3,33% (2 hộ); giờ lấy rác không hợp lý và không xử phạt kịp thời đều chiếm 1,67% (mỗi lý do 1 hộ).
- Nguồn tiếp cận thông tin môi trường (N=60): Báo chí, đài, tivi chiếm 33,33% (20 người); chính quyền cơ sở chiếm 31,67% (19 người); đài phát thanh địa phương chiếm 13,33% (8 người); gia đình/bạn bè chiếm 10,00% (6 người); phong trào tuyên truyền cổ động chiếm 8,33% (5 người). Nam giới tiếp cận nhiều hơn qua báo đài, trong khi nữ giới chủ yếu nắm bắt qua chính quyền và loa truyền thanh thôn xã.
- Phản ứng khi thấy người khác xả rác (N=60): 48,33% (29 hộ) cảm thấy khó chịu; 18,33% (11 hộ) trực tiếp nhắc nhở; 13,33% (8 hộ) không phản ứng; 11,67% (7 hộ) báo chính quyền; 8,33% (5 hộ) tự nhặt bỏ vào thùng rác.
4. Vai trò của cơ quan quản lý và sự tham gia của người dân
- Hoạt động quản lý: UBND xã đã tổ chức tuyên truyền luật, lập tổ thu gom dân lập, trang bị bảo hộ lao động, tăng xe gom và kiểm tra xử lý xả thải chăn nuôi. Tuy nhiên, các lớp tập huấn kỹ thuật phân loại rác tại nguồn chưa được tổ chức sâu rộng.
- Mức độ tổ chức chương trình BVMT: 75,00% (45/60 hộ) xác nhận địa phương có tổ chức vận động BVMT; 53,33% cho biết việc tổ chức chỉ diễn ra "thỉnh thoảng" thông qua lồng ghép họp tổ dân phố.
- Mức độ tham gia của người dân (N=60): Tỷ lệ tham gia đạt 86,67% (trong đó 50,00% thỉnh thoảng tham gia và 36,67% thường xuyên tham gia dọn vệ sinh, trồng cây xanh); chỉ có 13,33% (8 hộ) không tham gia.
5. Đề xuất giải pháp
Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Đẩy mạnh tuyên truyền đa phương tiện (loa phát thanh, băng rôn, áp phích, tờ rơi) nhằm chuyển hóa nhận thức thành hành động phân loại rác cụ thể.
- Chính quyền địa phương mở các lớp tập huấn kỹ thuật phân loại và hướng dẫn công nghệ xử lý rác phù hợp với năng lực hộ nông thôn.
- Đưa tiêu chí bảo vệ môi trường, phân loại và nộp phí rác thải đúng quy định vào bình xét "Gia đình văn hóa".
- Tăng cường phối hợp liên ngành giữa chính quyền xã với cơ quan chuyên môn tài nguyên - môi trường để giám sát và thực thi chế tài xử phạt nghiêm minh.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết toàn bộ các phát hiện định lượng chính, khẳng định nhận thức của người dân Tả Phời đã có chuyển biến tích cực nhưng hạ tầng kỹ thuật và kỹ năng phân loại còn hạn chế; đồng thời kiến nghị địa phương cần sớm đồng bộ hóa hệ thống thu gom và xử lý rác thải.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Định lượng hóa mức độ nhận thức của người dân xã Tả Phời: 92,86% người dân nhận thức được tầm quan trọng của phân loại rác và 74,58% biết cách phân loại, nhưng có tới 50% số hộ chưa từng thực hiện phân loại trước khi thải bỏ.
- Làm rõ cấu trúc phân công lao động môi trường gia đình tại vùng cao: Phụ nữ là đối tượng chính thực hiện thu gom và phân loại rác sinh hoạt (chiếm 60%).
- Xác định thực trạng xử lý rác tại chỗ: 41,67% hộ gia đình tự xử lý bằng cách đào hố chôn lấp hoặc đốt tại vườn do đội thu gom chưa bao phủ tới các ngõ xóm vùng sâu; khoảng 15% tổng lượng rác sinh hoạt hàng ngày trên địa bàn xã chưa được kiểm soát.
- Chỉ rõ rào cản hành vi: 50% người dân thừa nhận việc vứt rác không đúng nơi quy định là do "thói quen" và 68,33% người dân hoàn toàn không nắm được quy trình xử lý rác sau thu gom của địa phương.
- Ghi nhận tỷ lệ tham gia phong trào môi trường cộng đồng đạt mức cao (86,67% người dân tham gia thường xuyên hoặc thỉnh thoảng).
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Về mặt truyền thông và giáo dục: Đổi mới nội dung tuyên truyền theo hướng trực quan hóa (tờ rơi, loa đài thôn bản); lồng ghép nội dung hướng dẫn phân chia rác hữu cơ, rác tái chế và rác vô cơ vào các buổi sinh hoạt thôn.
- Về mặt quản lý và chính sách: Đưa quy ước bảo vệ môi trường và đóng phí rác thải vào tiêu chuẩn bình xét gia đình văn hóa hàng năm; kiện toàn các tổ thu gom rác dân lập tại 22 thôn bản.
- Về mặt kỹ thuật và hạ tầng: Bổ sung thùng rác công cộng tại các trục đường chính và khu vực đông công nhân mỏ apatit; chuyển giao công nghệ ủ phân hữu cơ (compost) quy mô hộ gia đình đối với rác thải hữu cơ nông thôn.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu điều tra xã hội học môi trường chi tiết tại một xã vùng cao chịu áp lực kép giữa xây dựng nông thôn mới và hoạt động công nghiệp khai khoáng (quặng apatit). Đây là nguồn tư liệu thực tế giúp chính quyền xã Tả Phời và TP. Lào Cai nhìn nhận chính xác các nút thắt trong công tác quản lý chất thải rắn nông thôn giai đoạn 2015.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Quy mô khảo sát giới hạn ở 60 hộ gia đình và 10 cán bộ tại 3/22 thôn (Trạm Thải, Lắp Máy, Đoàn Kết), chưa bao quát toàn bộ 22 thôn bản có điều kiện địa hình và thành phần dân tộc khác nhau của xã Tả Phời. Đề tài tập trung chủ yếu vào khía cạnh nhận thức xã hội học đối với rác thải sinh hoạt, chưa đi sâu phân tích thành phần lý - hóa của rác thải hay đánh giá tác động của chất thải công nghiệp từ các khai trường mỏ apatit lân cận.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điều tra đến toàn bộ 22 thôn bản của xã Tả Phời; nghiên cứu mô hình ủ phân vi sinh từ rác thải hữu cơ tại hộ gia đình nông thôn vùng cao; đánh giá toàn diện sự tương tác giữa chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp khai khoáng trên địa bàn.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Phát triển Nông thôn và Xã hội học; cán bộ quản lý môi trường cấp xã, phường và cán bộ làm công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường tại các huyện miền núi.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Khung bảng hỏi và phương pháp điều tra xã hội học về nhận thức môi trường tại cộng đồng đa dân tộc thiểu số (Phần 3).
- Hệ thống dữ liệu thực nghiệm về mối liên hệ giữa độ tuổi, giới tính và hành vi xả rác của người dân nông thôn (Phần 4).
- Mô hình tổ chức tổ thu gom rác dân lập cấp thôn bản (Phần 4.4).
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ người dân xã Tả Phời thực tế có thực hiện phân loại rác thải sinh hoạt hàng ngày là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát trên 68 hộ phản hồi tại xã Tả Phời, có 44,12% (30 hộ) có thực hiện phân loại rác trước khi xử lý, trong khi có tới 50,00% (34 hộ) không phân loại và 5,88% (4 hộ) khó trả lời.
2. Ai là người chủ yếu đảm nhận công việc phân loại rác trong các hộ gia đình tại xã Tả Phời?
Kết quả khảo sát 55 hộ gia đình cho thấy người vợ đảm nhận chính việc phân loại rác hàng ngày, chiếm tỷ lệ 60,00% (33 hộ); tiếp theo là người chồng chiếm 18,18% (10 hộ), người khác trong gia đình chiếm 18,18% (10 hộ) và con cái chiếm 3,64% (2 hộ).
3. Phương thức xử lý rác thải sinh hoạt phổ biến nhất của các hộ dân xã Tả Phời là gì?
Phương thức phổ biến nhất là đào hố chôn lấp hoặc tự đốt rác tại vườn nhà, chiếm 41,67% (25/60 hộ); để rác vào thùng rác công cộng chiếm 25,00% (15/60 hộ); vứt rác ở khu vực gần nhà chiếm 18,33% (11/60 hộ); và để trước nhà chờ công nhân thu gom chiếm 15,00% (9/60 hộ).
4. Dịch vụ thu gom rác thải tập trung tại xã Tả Phời được hình thành và vận hành từ thời điểm nào?
Trước năm 2012, xã Tả Phời chưa có dịch vụ thu gom rác, người dân chủ yếu tự đào hố chôn 1x1m tại vườn. Từ năm 2013, xã bắt đầu có xe chuyển rác về bãi rác tập trung của tỉnh tại xã Cam Đường; đến đầu tháng 09/2014, các tổ thu gom rác dân lập tại các thôn mới chính thức đi vào hoạt động.
5. Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng người dân đổ rác không đúng nơi quy định?
Khảo sát 60 hộ dân ghi nhận 50,00% (30 hộ) cho rằng nguyên nhân chính là do thói quen; 16,67% (10 hộ) do tiện tay; 16,67% (10 hộ) do thiếu thùng rác; 8,33% (5 hộ) do làm theo người xung quanh; và 3,33% (2 hộ) do sợ tốn tiền đổ rác.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đỗ Khánh Linh đã phản ánh trung thực thực trạng quản lý và nhận thức của người dân về rác thải sinh hoạt tại xã vùng cao Tả Phời, thành phố Lào Cai năm 2015. Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý giữa tỷ lệ nhận thức về tầm quan trọng của việc phân loại rác rất cao (92,86%) nhưng hành động thực tế lại thấp (50% hộ không phân loại), chủ yếu do thói quen và hạ tầng thu gom chưa phủ kín. Các đề xuất về đẩy mạnh truyền thông trực quan, lồng ghép tiêu chí gia đình văn hóa và nhân rộng tổ thu gom dân lập mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý môi trường nông thôn miền núi.