Thái phương trinh khảo sát kiến thức thái độ và thực hành tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng hoặc điều trị covid 19 của người dân tại xã lăng thành huyện yên thành tỉnh nghệ an khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Luận văn tốt nghiệp y tế nghiên cứu Thái phương trinh khảo sát kiến thức thái độ và thực hành tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

72
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về kháng sinh và kháng kháng sinh

1.1.1. Kháng sinh

1.1.2. Kháng kháng sinh

1.1.3. Vai trò của kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

1.2. Tổng quan về tự dùng thuốc

1.2.1. Lợi ích và nguy cơ của tự dùng thuốc

1.2.2. Mô hình đánh giá hành vi tự dùng thuốc và các yếu tố liên quan

1.3. Thực trạng sử dụng và quản lý sử dụng kháng sinh trong bối cảnh COVID-19

1.3.1. Trên thế giới

1.3.2. Tại Việt Nam

1.4. Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19

1.4.1. Kiến thức của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19

1.4.2. Thái độ của người dân trong cộng đồng về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19

1.4.3. Thực hành của người dân trong cộng đồng về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19

1.4.4. Đánh giá mối liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh phòng hoặc điều trị COVID-19

1.4.5. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

1.4.6. Tính cấp thiết của đề tài

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Biến số nghiên cứu

2.2.3. Mẫu nghiên cứu

2.2.4. Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.3. Vấn đề đạo đức

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Kết quả nghiên cứu

3.1.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Thực hành tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

3.1.3. Kiến thức về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng và điều trị COVID-19

3.1.4. Thái độ về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

3.1.5. Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

3.1.5.1. Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19
3.1.5.2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19
3.1.5.3. Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

3.1.6. Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

4.2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về tự ý sử dụng kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Tóm tắt

I. Tổng quan về kháng sinh và kháng kháng sinh

Phần này cung cấp cái nhìn tổng quan về kháng sinhkháng kháng sinh, hai vấn đề trọng tâm trong nghiên cứu. Kháng sinh được định nghĩa là các chất có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn, được sử dụng rộng rãi trong y học. Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh dẫn đến kháng kháng sinh, một hiện tượng khi vi khuẩn phát triển khả năng chống lại tác dụng của thuốc. Kháng kháng sinh đang trở thành mối đe dọa lớn đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19.

1.1. Khái niệm và cơ chế tác dụng của kháng sinh

Kháng sinh là các chất tự nhiên, bán tổng hợp hoặc tổng hợp có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Cơ chế tác dụng của kháng sinh bao gồm ức chế sinh tổng hợp vách tế bào, gây rối loạn chức năng màng bào tương, ức chế sinh tổng hợp protein và acid nucleic. Việc sử dụng kháng sinh cần tuân thủ đúng liều lượng và thời gian điều trị để tránh tác dụng phụ và kháng kháng sinh.

1.2. Khái niệm và nguyên nhân của kháng kháng sinh

Kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn phát triển khả năng chống lại tác dụng của kháng sinh. Nguyên nhân chính bao gồm lạm dụng kháng sinh, tự ý dùng thuốc, chẩn đoán sai và sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi. Kháng kháng sinh dẫn đến tăng chi phí điều trị, kéo dài thời gian bệnh và tăng nguy cơ tử vong.

II. Vai trò của kháng sinh trong phòng và điều trị COVID 19

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, việc sử dụng kháng sinh được đặt ra nhiều câu hỏi. COVID-19 là bệnh do virus gây ra, nhưng các triệu chứng lâm sàng có thể tương tự viêm phổi do vi khuẩn. Do đó, kháng sinh chỉ được khuyến cáo sử dụng khi có bằng chứng nhiễm khuẩn kèm theo. Việc lạm dụng kháng sinh trong điều trị COVID-19 có thể làm gia tăng kháng kháng sinh, gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng.

2.1. Khuyến cáo sử dụng kháng sinh trong COVID 19

Các tổ chức y tế khuyến cáo chỉ sử dụng kháng sinh khi có bằng chứng nhiễm khuẩn kèm theo. Việc sử dụng kháng sinh không đúng chỉ định có thể dẫn đến kháng kháng sinh và tác dụng phụ không mong muốn. Các nghiên cứu cho thấy việc sử dụng kháng sinh như azithromycin không mang lại lợi ích rõ ràng trong điều trị COVID-19.

2.2. Thực trạng sử dụng kháng sinh trong COVID 19 tại Việt Nam

Tại Việt Nam, việc sử dụng kháng sinh trong điều trị COVID-19 còn nhiều bất cập. Người dân thường tự ý dùng kháng sinh mà không có chỉ định của bác sĩ, dẫn đến nguy cơ kháng kháng sinh cao. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng và đưa ra các khuyến nghị để cải thiện việc sử dụng kháng sinh hợp lý.

III. Khảo sát kiến thức thái độ và thực hành tự ý dùng kháng sinh

Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát kiến thức, thái độthực hành của người dân tại xã Lăng Thành, Yên Thành, Nghệ An về việc tự ý dùng kháng sinh trong phòng và điều trị COVID-19. Kết quả cho thấy nhiều người dân thiếu kiến thức về tác dụng và nguy cơ của kháng sinh, dẫn đến thực hành sử dụng thuốc không đúng cách.

3.1. Kiến thức của người dân về kháng sinh

Phần lớn người dân tại xã Lăng Thànhkiến thức hạn chế về kháng sinhkháng kháng sinh. Nhiều người không hiểu rõ về cơ chế tác dụng và tác dụng phụ của kháng sinh, dẫn đến việc tự ý sử dụng thuốc không đúng cách.

3.2. Thái độ và thực hành của người dân

Người dân có thái độ chủ quan trong việc sử dụng kháng sinh, thường tự mua thuốc mà không cần đơn của bác sĩ. Thực hành sử dụng kháng sinh không đúng cách làm tăng nguy cơ kháng kháng sinh và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

IV. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu này đã chỉ ra thực trạng đáng báo động về việc tự ý dùng kháng sinh trong phòng và điều trị COVID-19 tại xã Lăng Thành, Yên Thành, Nghệ An. Để cải thiện tình hình, cần nâng cao kiến thứcthái độ của người dân về kháng sinh, đồng thời tăng cường quản lý việc sử dụng thuốc tại cộng đồng.

4.1. Kiến nghị nâng cao kiến thức và thái độ

Cần tổ chức các chương trình giáo dục sức khỏe để nâng cao kiến thức của người dân về kháng sinhkháng kháng sinh. Đồng thời, cần thay đổi thái độ của người dân trong việc sử dụng thuốc, khuyến khích tuân thủ chỉ định của bác sĩ.

4.2. Kiến nghị quản lý sử dụng kháng sinh

Cần tăng cường quản lý việc bán và sử dụng kháng sinh tại cộng đồng, đặc biệt là trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Các cơ quan y tế cần giám sát chặt chẽ việc sử dụng kháng sinh để tránh lạm dụng và kháng kháng sinh.

12/02/2025
Thái phương trinh khảo sát kiến thức thái độ và thực hành tự ý sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng hoặc điều trị covid 19 của người dân tại xã lăng thành huyện yên thành tỉnh nghệ an khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về kháng sinh và kháng kháng sinh 1.1 Kháng sinh Khái niệm kháng sinh Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác. Ngày nay, kháng sinh được tạo ra không chỉ từ vi sinh vật mà còn được tạo ra từ quá trình bán tổng hợp hoặc tổng hợp hóa học. Do đó, trong y học hiện đại, kháng sinh được định nghĩa là tất cả các chất tự nhiên, bán tổng hợp hay tổng hợp, có tác dụng kháng khuẩn [4]. Cơ chế tác dụng của kháng sinh Sau khi vào tế bào, kháng sinh được đưa tới đích tác động – 4 thành phần cấu tạo cơ bản của tế bào và phát huy tác dụng: kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn, đặc biệt có hiệu quả ở các vi khuẩn đang sinh trưởng và phát triển mạnh (giai đoạn 2/ log phase – phát triển theo cấp số nhân), bằng cách: - Ức chế sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn.

- Gây rối loạn chức năng màng bào tương. - Ức chế sinh tổng hợp protein. - Ức chế sinh tổng hợp acid nucleic. [4] Độ dài đợt điều trị - Độ dài điều trị phụ thuộc vào tình trạng nhiễm khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn và sức đề kháng của người bệnh.

Các trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ và trung bình thường đạt kết quả sau 7 - 10 ngày nhưng những trường hợp nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn ở những tổ chức mà kháng sinh khó thâm nhập (màng tim, màng não, xương – khớp…), bệnh lao… thì đợt điều trị kéo dài hơn nhiều. Tuy nhiên, một số bệnh nhiễm khuẩn chỉ cần một đợt ngắn như nhiễm khuẩn tiết niệu – sinh dục chưa biến chứng (khoảng 3 ngày, thậm chí một liều duy nhất). - Sự xuất hiện nhiều kháng sinh có thời gian bán thải kéo dài đã cho phép giảm được đáng kể số lần dùng thuốc trong đợt điều trị, làm dễ dàng hơn cho việc tuân thủ điều trị của người bệnh; ví dụ: dùng azithromycin chỉ cần một đợt 3 – 5 ngày, thậm chí một liều duy nhất. - Không nên điều trị kéo dài để tránh kháng thuốc, tăng tỷ lệ xuất hiện tác dụng không mong muốn và tăng chi phí điều trị.

[4] Lưu ý tác dụng không mong muốn và độc tính khi sử dụng kháng sinh Tất cả các kháng sinh đều có thể gây ra tác dụng không mong muốn (ADR), do đó cần cân nhắc nguy cơ/ lợi ích trước khi quyết định kê đơn. Mặc dù đa số trường hợp 3 ADR sẽ tự khỏi khi ngừng thuốc nhưng nhiều trường hợp hậu quả rất trầm trọng, ví dụ khi gặp hội chứng Stevens – Johnson, Lyell… ADR nghiêm trọng có thể dẫn tới tử vong hay sốc phản vệ. Các loại phản ứng quá mẫn thường liên quan đến tiền sử dùng kháng sinh ở người bệnh, do đó phải khai thác tiền sử dị ứng, tiền sử dùng thuốc ở người bệnh trước khi kê đơn và phải luôn sẵn sàng các phương tiện chống sốc khi sử dụng kháng sinh [4].2 Kháng kháng sinh Khái niệm kháng kháng sinh Kháng kháng sinh là khả năng của vi sinh vật chống lại tác dụng của kháng sinh mà trước đó đã tiêu diệt được chúng, làm giảm hoặc mất hiệu quả của thuốc kháng sinh dùng để phòng hoặc điều trị nhiễm trùng do vi sinh vật này. Đa kháng thuốc là sự kháng thuốc của một vi sinh vật đối với nhiều loại kháng sinh [23].

Cơ chế kháng kháng sinh KKS là một hậu quả không thể tránh khỏi của việc sử dụng kháng sinh do chính các vi khuẩn chưa bị tiêu diệt đã biến đổi để trở nên đề kháng với kháng sinh theo một hoặc kết hợp các cơ chế sau: - Vi khuẩn sản xuất enzym làm phân huỷ hoặc biến đổi kháng sinh. - Thay đổi ở đích tác dụng làm cho kháng sinh không gắn được hoặc giảm ái lực với đích tác dụng. - Làm giảm tính thấm của kháng sinh vào vách hoặc màng của tế bào vi khuẩn. - Xuất hiện hoặc tăng cường hoạt động của hệ thống bơm tống thuốc đẩy kháng sinh ra khỏi tế bào.

- Thay thế hoàn toàn đích tác dụng hoặc thay đổi con đường trao đổi chất mà không bị ức chế bởi kháng sinh. Ngoài ra, vi khuẩn mang gen kháng một thuốc kháng sinh nhất định có thể dẫn tới kháng cả nhóm kháng sinh có cùng cấu trúc [68]. Ngoài đột biến theo các cách kể trên, vi khuẩn có thể nhận được gen kháng thuốc từ một vi khuẩn khác. Các gen đề kháng có thể nằm trên các thành phần di truyền của vi khuẩn, bao gồm: nhiễm sắc thể, plasmid và transposon và được lây lan giữa các vi khuẩn [4, 68].

Vì vậy, khi đã có sự xuất hiện của KKS, vi khuẩn kháng thuốc sẽ lây lan và rất khó để đẩy lùi hoặc làm chậm lại, do đó gây khó khăn trong việc điều trị [67]. Nguyên nhân của kháng kháng sinh - Tự dùng thuốc là lý do phổ biến nhất dẫn đến sự phát triển của mầm bệnh kháng thuốc kháng sinh ở người. Việc mua bán, sử dụng kháng sinh tràn lan và sự thiếu hiểu biết của người dân về quá trình sử dụng kháng sinh, tác dụng phụ của chúng, liều tối đa cho phép và các vấn đề liên quan là những lý do tiềm ẩn dẫn đến việc sử dụng thuốc không phù hợp, gia tăng tỉ lệ KKS. 4 - Chẩn đoán sai, lạm dụng và quá liều thuốc kháng sinh cũng có thể dẫn đến đến KKS, tăng tỷ lệ mắc bệnh và gây ra một số mối đe dọa sức khỏe khác như các vấn đề về da, dị ứng nghiêm trọng… [44] - Khó khăn trong phát triển kháng sinh mới: do so với các thuốc điều trị bệnh mãn tính, việc đầu tư vào việc nghiên cứu, phát triển và sản xuất kháng sinh được xem là đầu tư không khôn ngoan cho các tổ chức và công ty dược phẩm, sự ra đời các thuốc kháng sinh mới cần thiết để điều trị còn hạn chế [13, 30].

- Lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản: kháng sinh có thể được sử dụng cho các động vật bị bệnh nhưng việc sử dụng rộng rãi KS cho các động vật với quan niệm phòng bệnh và kích thích tăng trưởng đã làm vi khuẩn có cơ hội phát triển KKS mạnh mẽ. Một người tiếp xúc với gia súc hay ăn thức ăn nhiễm vi khuẩn kháng thuốc sẽ có nguy cơ cao nhiễm các vi khuẩn này [68]. Hậu quả của kháng kháng sinh KKS ảnh hưởng trực tiếp đến mọi cá nhân và gia đình, trở thành gánh nặng cho hệ thống y tế trên toàn thế giới vì điều trị các bệnh nhiễm khuẩn ngày càng khó khăn, đặc biệt nghiêm trọng đối với các nước có thu nhập thấp và trung bình khi nguồn lực còn hạn chế. KKS làm tăng gánh nặng bệnh tật, kéo dài thời gian điều trị, tăng nguy cơ các biến chứng và tăng cao tỉ lệ tử vong.

KKS đã làm việc chữa trị các nhiễm khuẩn trước đây đơn giản trở nên khó và tốn kém hơn, thậm chí trường hợp xấu nhất là không thể đưa ra được một phác đồ phù hợp. Việc phải thay đổi các phác đồ đầu tay đã đẩy bệnh nhân phải sử dụng các thuốc mới và đắt tiền hơn mà trong một số thuốc đó tiềm ẩn nguy cơ phản ứng có hại cao hơn [68]. Đã có nghiên cứu báo cáo rằng vi khuẩn gây viêm phổi gia tăng kháng thuốc đã cướp đi sinh mạng 1,8 triệu trẻ em mỗi năm [67]. Ước tính đến năm 2050, số ca tử vong do KKS có thể lên tới 10 triệu người/ năm, cao hơn nhiều so với ung thư và tai nạn giao thông [50].

Ngoài ra, KKS còn tạo ra gánh nặng trực tiếp lên kinh tế, như giảm thu nhập, giảm năng suất lao động và gia tăng các chi phí chẩn đoán, điều trị (tư vấn, xét nghiệm, vật tư, máy móc và thuốc) [67]. Trong đó, gánh nặng về chi phí điều trị do các bệnh nhiễm khuẩn gây ra là rất lớn do việc thay thế các kháng sinh cũ bằng các kháng sinh mới, đắt tiền. Ước tính ở Châu Âu, tỉ lệ tử vong do nhiễm vi khuẩn kháng thuốc lên tới trên 25 000 ca/ năm, thiệt hại kinh tế lên tới 1,5 tỉ euro/ năm [54]. Những hậu quả về sức khoẻ và kinh tế do kháng thuốc gây ra là rất lớn nhưng khó mà định lượng một cách chính xác bởi vẫn còn thiếu thông tin ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Thậm chí một số hậu quả về tinh thần, tâm lý cũng đáng kể những cũng không dễ dàng đo đếm được [67].3 Vai trò của kháng sinh trong phòng hoặc điều trị COVID-19 Đại dịch COVID-19 gây ra bởi vi rút SARS-CoV-2, do đó, theo khuyến cáo của các tổ chức y tế và kết quả của nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế giới và cả Việt Nam, không nên kê đơn kháng sinh cho tất cả các bệnh nhân mắc COVID-19 và chỉ xem xét điều trị bằng kháng sinh nếu nghi ngờ hoặc xác nhận đồng nhiễm vi khuẩn [2, 3, 6, 14, 26, 49, 65]. Tuy nhiên, thực tế chỉ ra rằng rất khó phân biệt giữa thâm nhiễm phổi hai bên do chẩn đoán duy nhất là viêm phổi do COVID-19 so với viêm phổi do vi khuẩn thứ phát [21, 35]. Vì vậy, một số khuyến nghị được đưa ra nhằm củng cố các nguyên tắc quản lý kháng sinh tốt như sau: (1) Thuốc kháng sinh nên được dành riêng cho những bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nặng nề [35]. Trong các nghiên cứu hồi cứu, kết quả cho thấy tỷ lệ đồng nhiễm vi khuẩn chung ở những bệnh nhân mắc COVID-19 thấp nhưng việc sử dụng kháng sinh lại cao [14].

Bốn nghiên cứu hồi cứu báo cáo không có lợi ích nào của việc điều trị bằng kháng sinh đối với tỷ lệ tử vong hoặc làm chậm nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện ở những bệnh nhân bị bệnh nặng và đặt ra câu hỏi về lợi ích của việc điều trị sớm tình trạng bội nhiễm vi khuẩn ở bệnh nhân COVID- 19 [20, 63, 71, 74]. Hầu hết các bài báo đều thiếu dữ liệu chi tiết về sử dụng kháng sinh. Nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này là rất quan trọng để xác định các chỉ định liên quan đến việc sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân mắc COVID- 19 [14, 17, 19]. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về hiệu quả của các loại kháng sinh khác nhau cũng được tiến hành.

Về azithromycin, đây là kháng sinh được thử nghiệm nhiều nhất và kết quả cũng rất mâu thuẫn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành tự ý dùng kháng sinh phòng, trị COVID-19 tại xã Lăng Thành, Yên Thành, Nghệ An là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá nhận thức và hành vi của người dân trong việc sử dụng kháng sinh không theo chỉ định trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Bài viết nêu bật những hiểu biết sai lệch, thái độ chủ quan và thực hành thiếu khoa học trong việc tự ý dùng kháng sinh, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng và giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhân viên y tế và người dân quan tâm đến sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Khảo sát tình hình sử dụng thuốc omeprazol trong điều trị bệnh loét dạ dày tá tràng cho bệnh nhân ngoại trú, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về việc sử dụng thuốc trong điều trị bệnh lý tiêu hóa. Đây là cơ hội để bạn hiểu sâu hơn về các vấn đề liên quan đến dược lý và thực hành y tế.