Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm cơ bản về COVID-19. COVID-19 là tên gọi chính thức của bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona, COVID-19 là gọi tắt của coronavirus disease 2019, theo các từ khóa “corona”, “virus”, “disease” [2]. Virus Sars-CoV-2 là một chủng virus Corona mới chưa được xác định trước đây ở người, là tác nhân gây ra bệnh viêm đường hô hấp cấp, con người chưa có miễn dịch kể cả miễn dịch chéo trước đó [24].
Họ virus Corona phổ biến ở nhiều loài động vật, bao gồm gia súc, mèo, dơi.và hiếm khi virus Corona ở động vật có thể lây nhiễm cho người, cũng như lây lan giữa người sang người [12]. Nguyên nhân và nguồn gốc lây truyền. Virus Sars-CoV-2 là nguyên nhân gây ra bệnh viêm đường hô hấp cấp khiến hàng triệu người trên thế giới tử vong. COVID-19 được phát hiện lần đầu tiên tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc vào tháng 12 năm 2019.
Tổ chức Y tế thế giới và các chuyên gia trên toàn cầu đang nỗ lực để xác định nguồn gốc của virus Sars-CoV-2. Nhiều ý kiến cho rằng virus có nguồn gốc từ dơi do phân tích của họ chỉ ra rằng 96% bộ gen đồng nhất với coronavirus dơi nhận dạng năm 2013 [11]. Các tác giả cho rằng virus Sars-CoV-2 được truyền từ dơi sang một loài động vật bí ẩn sau đó truyền sang người. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu và phân lập Sars-CoV-2 có trình tự gen giống với Sars-CoV trước đây, với mức tương đồng lên tới 79,6% [24].
Cách thức lây nhiễm [23]. Phương thức lây truyền chính là lây truyền từ người sang người qua các giọt dịch cơ thể khi mà người bệnh hắt hơi, ho hoặc thở ra có chứa các virus. Lây nhiễm trực tiếp khi tiếp xúc với người bệnh như bắt tay, ôm, hôn,. 4 Truyền khí dung là phương thức lây nhiễm khi hít phải không khí bị nhiễm các giọt chứa virus từ người nhiễm bệnh ho, hắt hơi, nói hoặc hát qua dịch tiết từ miệng và mũi như nước bọt.
Tiếp xúc gần (trong vòng khoảng cách 1 mét) với người đã nhiễm bệnh có thể mắc bệnh COVID-19 khi các giọt bắn nhiễm bệnh này thâm nhập vào miệng, mũi hoặc mắt của người tiếp xúc. Lây truyền gián tiếp khi tiếp xúc với các vật dụng hoặc bề mặt có chứa virus (như tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, khi người nhiễm bệnh ho khạc, hắt hơi,…) vào sau đó đưa lên mắt, mũi, miệng. Lây nhiễm qua đường phân: Trường hợp này hiếm khi xảy ra. Thường những người chăm sóc bệnh nhân có tỷ lệ bị phơi nhiễm virus khi xử lý các chất thải của người bệnh nhiễm virus [11].1: Cách thức lây lan của virus qua đường hô hấp 1.
Triệu chứng và dấu hiệu nhận biết [11] 1. Phân loại các triệu chứng của COVID-19. Các triệu chứng nghiêm Các triệu chứng phổ biến Các triệu chứng ít gặp trọng Sốt (83-99%) Đau đầu (13,6%) Khó thở (31-40%) Ho (59-82%) Đau và nhức cơ (11-35%) Tức ngực Mệt mỏi (44-70%) Bệnh tiêu chảy Ho ra máu Mất vị giác (40-84%) Buồn nôn/nôn hoặc khứu giác (15-30%) 5 Tuy nhiên, một số trường hợp bị nhiễm bệnh hoàn toàn không có triệu chứng, có tới 40 đến 45% số những người bị nhiễm bệnh không có triệu chứng, nhưng vẫn có khả năng truyền virrus cho người khác [10]. Phân biệt COVID-19.
COVID-19 dễ lây lan hơn bệnh cúm và gây ra tình trạng nghiêm trọng hơn ở một số người. Bởi vì cúm và COVID-19 có một số các triệu chứng tương tự nhau nên khó để phân biệt hai loại bệnh này chỉ dựa trên triệu chứng, do đó cần thực hiện xét nghiệm để giúp xác nhận chẩn đoán bệnh. COVID-19 và cúm đều là các bệnh hô hấp truyền nhiễm, đều có thể lây lan từ người sang người khi tiếp xúc gần, chủ yếu qua các giọt bắn chứa virus khi người nhiễm bệnh hắt hơi, ho, nói chuyện. Phân biệt COVID-19 với bệnh cúm thông thường.
COVID-19 Cúm Khác Nguyên Do virus Sars-CoV-2 gây ra. Mức độ lây Dễ lây lan hơn. Mức độ lây lan thấp hơn nhiễm. Thời gian ủ Thời ủ bệnh lâu hơn cúm, triệu chứngTriệu chứng xuất hiện bệnh.
xuất hiện sau 2-14 ngày, thông thườngtrong vòng 1- 4 ngày sau khoảng 5 ngày. khi nhiễm virus. Thời gian Có thể lây lan ít nhất 1-10 ngày Có thể lây lan ít nhất 1 lây lan virus. hoặc sớm hơn trước khi có triệu ngày trước khi có triệu chứng.
Nếu không có triệu chứng chứng. vẫn có thể lây nhiễm 1. Các yếu tố nguy cơ [13] 1. Tuổi tác • Người từ 65 tuổi trở lên - Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), 8 trong số 10 trường hợp tử vong ở Hoa Kỳ do COVID-19 là ở người lớn từ 65 tuổi trở lên.
Nguy cơ tử vong tăng theo tuổi tác. - CDC ước tính 10% - 27% người từ 85 tuổi trở lên có nguy cơ tử vong nếu họ bị nhiễm COVID -19, trong đó 70% phải nhập viện và 27% cần được chăm sóc đặc biệt. Khoảng 31% - 59% số người từ 65 - 84 tuổi sẽ phải nhập viện nếu mắc COVID- 19 và 4% - 11% sẽ cần được chăm sóc đặc biệt. 6 - Ở người cao tuổi suy giảm chức năng miễn dịch, nên khả năng chống lại các bệnh nhiễm trùng thông thường kém đi.
- Dễ biến chứng: Người lớn tuổi thường có tình trạng đa bệnh lý có sẵn, nhiễm trùng đường hô hấp nghiêm trọng có thể gây biến chứng bệnh tim, thận hoặc gan có sẵn trước đó. - Chức năng phổi giảm: Phổi mất phần lớn tính đàn hồi theo tuổi tác, vì vậy khả năng duy trì nhịp thở và thông khí kém hiệu quả. Nếu kèm viêm phổi tiến triển dễ dẫn đến tình trạng suy hô hấp. Các bệnh nền • Người bệnh phổi mạn tính COVID-19 là một loại virus đường hô hấp gắn vào các tế bào thông qua các protein được gọi là thụ thể ACE2.
Các thụ thể ACE2 tồn tại với mật độ cao ở mũi, khí quản và đường hô hấp, nơi virus có thể xâm nhập gây bệnh. Nhưng ở một số người, virus có thể di chuyển sâu hơn vào phổi đến phế nang nơi các thụ thể ACE2 cũng có mật độ lớn, gây ra hội chứng suy hô hấp cấp tính nghiêm trọng (ARDS) và có khả năng đe dọa tính mạng. Do đó, người mắc bệnh phổi mạn tính được coi là có nguy cơ cao mắc COVID- 19. Bao gồm các tình trạng bệnh lý hô hấp sẵn có như: Hen suyễn, giãn phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), viêm phế quản mãn tính và khí phế thũng, xơ phổi và các bệnh phổi kẽ khác.
Nếu viêm phổi phát triển do COVID-19, sự tắc nghẽn đường thở có thể gây nguy hiểm tính mạng. • Người suy giảm miễn dịch Những người bị suy giảm miễn dịch là những người có hệ thống miễn dịch yếu, khiến họ không có khả năng chống lại nhiễm trùng. Việc mất khả năng miễn dịch không chỉ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng mà còn làm tăng khả năng mắc bệnh nặng. Suy giảm miễn dịch ảnh hưởng đặc trưng ở những nhóm người sau: Người nhiễm HIV, người trải qua hóa trị và xạ trị ung thư, người nhận ghép tạng, những người cần dùng thuốc ức chế miễn dịch lâu dài để ngăn ngừa thải ghép tạng, người bị suy giảm miễn dịch nguyên phát, thường liên quan đến khiếm khuyết di truyền.
7 • Người bệnh tim mạch Các hệ thống hô hấp và tim mạch được liên kết chặt chẽ với nhau. Oxy được nhận từ phổi đều được tim và hệ thống tuần hoàn phân tán khắp cơ thể. Khi nhiễm trùng đường hô hấp làm hạn chế lượng không khí đi vào phổi, tim phải làm việc nhiều hơn để đảm bảo nguồn cung cấp oxy cho các cơ quan quan trọng của cơ thể. Ở những người đã mắc bệnh tim mạch từ trước, tăng gánh cho tim không chỉ làm tăng mức độ nghiêm trọng của huyết áp cao mà còn có khả năng làm bộc phát cơn đau tim hoặc đột quỵ.
Theo một nghiên cứu vào tháng 03 năm 2020 đăng tải trên JAMA Cardiology với 187 người nhập viện vì COVID-19, gần 28% đã trải qua một biến cố mạch vành. Những người có biến cố tim có nguy cơ tử vong cao gấp đôi so với những người không có biến cố tim (13,3% so với 7,6%). Hơn nữa, những người mắc bệnh tim từ trước có nguy cơ tử vong do COVID-19 cao gấp ba lần so với những người không có bệnh tim từ trước (37,5% so với 7,6%). • Người bệnh đái tháo đường Bệnh đái tháo đường type 1 và 2 đều gây ra sự gia tăng bất thường lượng đường trong máu, mất khả năng kiểm soát lượng đường trong máu là lý do chính người mắc bệnh đái tháo đường có nhiều khả năng mắc COVID-19 và gặp phải tình trạng bệnh nặng hơn.
Tăng đường huyết mạn tính có thể dẫn đến một tình trạng gọi là nhiễm toan và kết quả làm tăng khả năng bị nhiễm trùng. Theo một nghiên cứu tháng 03/2020 được công bố trên JAMA với 72.314 người mắc COVID-19 tại Vũ Hán, Trung Quốc, người mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ tử vong tăng gấp 3 lần so với người không mắc bệnh. • Người bệnh gan COVID-19 có thể làm phức tạp bệnh gan có sẵn từ trước, bằng chứng là có tăng men gan, đặc biệt là aminotransferase - một dấu hiệu của viêm gan và làm xấu đi bệnh gan, bao gồm các bệnh gan do virus. Một số chuyên gia cho rằng nhiều loại thuốc được sử dụng để điều trị nhiễm trùng đường hô hấp nghiêm trọng, bao gồm kháng sinh, thuốc chống virus và steroid dùng trong điều trị COVID-19 gây hại cho tế bào gan.
8 • Người bệnh thận mãn tính Bệnh thận mãn tính (CKD) có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vong ở những người mắc COVID-19. Nguy cơ tăng lên cùng với mức độ nghiêm trọng của bệnh, những người chạy thận có nguy cơ cao nhất. Bởi vì chức năng của phổi, tim và thận có liên quan đến nhau, bất kỳ sự suy yếu nào của một cơ quan này sẽ luôn tác động đến những cơ quan khác. Theo nghiên cứu tháng 03/2020 tại Kidney International, nguy cơ tử vong do COVID-19 tăng gấp đôi ở những người có bệnh thận từ trước.
Hầu hết các trường hợp tử vong xảy ra khi nhiễm trùng hệ thống gây suy thận cấp tính, đặc biệt những bệnh nhân có bệnh thận mạn tính. • Người béo phì Béo phì có liên quan đến nhiều rối loạn sức khỏe, làm tăng nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của COVID-19, bao gồm: Tăng huyết áp, bệnh tim, bệnh đái tháo đường type 2, bệnh gan nhiễm mỡ, bệnh thận.