Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một thể của bệnh đái tháo đường, được xác định là tình trạng rối loạn chuyển hóa carbonhydrate thường gặp nhất trong thai kỳ và có xu hướng gia tăng nhanh chóng, đặc biệt tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Bệnh lý này ảnh hưởng tới khoảng 7% phụ nữ mang thai trên thế giới. Tình trạng tăng đường huyết thường khởi phát vào khoảng tuần thứ 24 đến 28 của thai kỳ và có thể trở về bình thường sau khi sinh. Tuy nhiên, nếu không được phát hiện sớm và can thiệp kịp thời, bệnh gây ra nhiều biến chứng sản khoa nghiêm trọng cho cả người mẹ lẫn thai nhi, bao gồm tiền sản giật, sẩy thai, thai lưu, ngạt chu sinh, sang chấn sản khoa do thai to và tăng nguy cơ phải can thiệp mổ lấy thai. Ngoài ra, phụ nữ từng mắc ĐTĐTK có nguy cơ tái phát từ 30% đến 50% trong lần mang thai tiếp theo và có khả năng tiến triển thành đái tháo đường typ 2 trong tương lai cao gấp nhiều lần so với người bình thường.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ ghi nhận tỷ lệ mắc ĐTĐTK dao động từ 3,6% đến 39,0% tùy theo vùng địa lý và tiêu chuẩn chẩn đoán áp dụng. Số liệu tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ thai phụ mắc bệnh tăng từ 2,1% năm 1997 lên 4% năm 2007, đạt 11% năm 2008 và tăng đến khoảng 20% vào năm 2017; tại Hà Nội tỷ lệ này được ghi nhận là 5,7% từ năm 2004. Khảo sát trên hệ thống các bệnh viện chuyên khoa sản toàn quốc cho thấy tỷ lệ phát hiện ĐTĐTK đã tăng mạnh từ 3% - 4% trong giai đoạn 2001 - 2004 lên 20% vào năm 2017. Tại địa bàn tỉnh Nam Định, nghiên cứu năm 2021 tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh cho thấy hiểu biết của thai phụ về các biện pháp phòng bệnh còn ở mức thấp, tỷ lệ thai phụ đạt yêu cầu kiến thức chung chỉ chiếm 43,3%. Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả Phạm Ngọc Diệp đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Điều dưỡng nhằm khảo sát nhận thức thực tế của thai phụ, cung cấp bằng chứng cho công tác chăm sóc và truyền thông giáo dục sức khỏe.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Đánh giá kiến thức về phòng bệnh đái tháo đường thai kỳ của phụ nữ mang thai tại khoa Khám bệnh của Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định năm 2023.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các sản phụ đến khám và điều trị tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định trong thời gian nghiên cứu. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm sản phụ đồng ý tham gia nghiên cứu, có khả năng nhận thức và giao tiếp bình thường để hoàn thành phiếu phỏng vấn. Tiêu chuẩn loại trừ gồm các trường hợp từ chối tham gia, không có khả năng tiếp nhận câu hỏi, hoặc đang ở trong tình trạng cấp cứu, sẩy thai.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định (địa chỉ: số 168 Trần Đăng Ninh, thành phố Nam Định).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 5/2023; giai đoạn thu thập số liệu thực địa diễn ra từ ngày 31/03/2023 đến ngày 13/04/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các định nghĩa chuẩn mực quốc tế và hướng dẫn chuyên môn trong nước:

  • Khái niệm bệnh học: Dẫn chiếu theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2013), phân loại tăng glucose huyết tương phát hiện lần đầu trong thai kỳ thành hai nhóm là đái tháo đường mang thai (diabetes in pregnancy/đái tháo đường rõ) và đái tháo đường thai kỳ (Gestational Diabetes Mellitus - GDM). Đồng thời, tác giả viện dẫn định nghĩa của Hội Nội tiết Mỹ (Endocrine Society), xác định ĐTĐTK là tình trạng tăng glucose huyết tương ở mức độ thấp hơn đái tháo đường thực sự nhưng làm gia tăng các kết cục sản khoa bất lợi cho mẹ và con.
  • Cơ chế sinh lý bệnh và yếu tố nguy cơ: Bệnh sinh gắn liền với hiệu ứng chống insulin do nhau thai sản xuất các hormone duy trì thai kỳ (estrogen, cortisol, human placental lactogen) từ tuần thứ 20 đến 24. Khi tuyến tụy không sản xuất đủ lượng insulin bù trừ, tình trạng rối loạn dung nạp đường huyết sẽ bộc lộ. Các yếu tố nguy cơ chính gồm: thừa cân, béo phì, tuổi mẹ trên 30, tiền sử gia đình có người mắc đái tháo đường, tiền sử sinh con to, thai lưu hoặc từng mắc ĐTĐTK ở lần mang thai trước.
  • Khung hướng dẫn y tế: Tác giả tham khảo tài liệu "Hướng dẫn quốc gia về Dự phòng và kiểm soát đái tháo đường thai kỳ" ban hành năm 2018 bởi Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em (Bộ Y tế), tiêu chuẩn chẩn đoán của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2021, 2022) và tiêu chí chẩn đoán của Hiệp hội quốc tế các nhóm nghiên cứu ĐTĐTK (IADPSG).
  • Khung lý thuyết nghiên cứu (Cây nghiên cứu - Sơ đồ 1.1): Khung phân tích liên kết đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng (tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú, số con) với hai nhóm biến số nhận thức: (1) Kiến thức chung về bệnh (khái niệm, yếu tố nguy cơ, hậu quả đối với mẹ và thai nhi, biện pháp phòng ngừa); (2) Kiến thức thực hành phòng bệnh (biện pháp cụ thể, thực phẩm phòng ngừa, lượng nước uống hàng ngày, cách chế biến món ăn cho người thừa cân, thời gian luyện tập thể dục).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive design).
  • Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện. Cỡ mẫu thu thập được gồm 160 sản phụ đến khám và điều trị tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định, đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lựa chọn trong khoảng thời gian khảo sát.
  • Công cụ và phương pháp thu thập dữ liệu: Sử dụng phiếu khảo sát thiết kế sẵn thông qua hình thức phỏng vấn trực tiếp. Bộ câu hỏi được kế thừa và phát triển từ công cụ nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tâm (2021) tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội và Lê Thị Thu Hằng (2021) tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Phú Thọ. Phiếu gồm 4 phần: Phần 1 (Thông tin chung, câu A1 - A7); Phần 2 (Kiến thức về bệnh ĐTĐTK, câu B1 - B5); Phần 3 (Mối liên quan ở phụ nữ mang thai về bệnh ĐTĐTK, câu C1 - C5); Phần 4 (Kiến thức về phòng bệnh ĐTĐTK, câu D1 - D5).
  • Thang đo và tiêu chuẩn đánh giá: Mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm; trả lời sai hoặc chọn phương án "không biết" tính 0 điểm. Thang điểm đánh giá phân loại thành hai mức: Kiến thức "Đạt" khi sản phụ trả lời đúng từ 50% số câu hỏi trở lên (tương đương 12 - 23 điểm); Kiến thức "Chưa đạt" khi trả lời đúng dưới 50% tổng số câu hỏi (< 12 điểm).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu sau khi thu thập được làm sạch, mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 16.0, tính toán các chỉ số thống kê mô tả bao gồm tần số (n) và tỷ lệ phần trăm (%).
  • Yêu cầu đạo đức nghiên cứu: Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng xét duyệt đề cương Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định thông qua và được sự chấp thuận của Ban Giám đốc Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định. Tất cả đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ mục đích, quyền lợi, hoàn toàn tự nguyện tham gia và ký tên vào bản đồng thuận; thông tin thu thập được cam kết bảo mật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này tập trung trình bày hệ thống hóa cơ sở lý thuyết bệnh học và tổng quan tình hình dịch tễ ĐTĐTK trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Định nghĩa, cơ chế sinh bệnh và yếu tố nguy cơ: Trình bày chi tiết cơ chế kháng insulin do hormone nhau thai tiết ra trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba; các biểu hiện lâm sàng như khát nhiều, tiểu nhiều, sụt cân, vết thương khó lành và viêm nhiễm âm đạo do nấm.
  • Hậu quả của ĐTĐTK: Tác giả phân tích cụ thể các biến chứng đối với mẹ (tỷ lệ sinh non ở nhóm ĐTĐTK là 26% so với 9,7% ở thai phụ bình thường; đa ối cao gấp 4 lần; 17% - 63% tiến triển thành đái tháo đường typ 2 sau 5 - 16 năm) và biến chứng đối với con (nguy cơ dị tật bẩm sinh từ 8% - 13%, hạ glucose máu sơ sinh chiếm 15% - 25%, tử vong chu sinh chiếm 20% - 30%, đa hồng cầu với hemoglobin > 20 g/dl, vàng da sơ sinh chiếm 25%, nguy cơ mắc đái tháo đường khi 19 - 27 tuổi tăng gấp 8 lần).
  • Biện pháp phòng bệnh: Nêu rõ các khuyến cáo can thiệp lối sống gồm giảm cân trước mang thai, xây dựng chế độ dinh dưỡng lành mạnh (chia 5 - 6 bữa/ngày gồm 3 bữa chính và 2 - 3 bữa phụ, hạn chế tinh bột và dầu mỡ, bổ sung chất xơ), chế độ tập luyện (đi bộ, bơi lội 20 - 30 phút/ngày), khám thai định kỳ (thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose tuần 24 - 28), kiểm soát lượng muối tiêu thụ dưới 5g/ngày và tránh các chất kích thích.
  • Cơ sở thực tiễn quốc tế và trong nước: Dẫn chứng dữ liệu từ nghiên cứu tại Hàn Quốc trên 417.139 phụ nữ (tỷ lệ mắc GDM 12,70%, BMI ≥ 30 kg/m² làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên 1,98 lần); nghiên cứu tại Nhật Bản chỉ ra ĐTĐTK chẩn đoán sớm làm tăng nguy cơ rối loạn tăng huyết áp thai kỳ (OR = 2,08); nghiên cứu tại Trung Quốc ghi nhận tỷ lệ lưu hành tại quận Thông Châu (Bắc Kinh) là 24,24%, tại Thanh Đảo là 21,8% và Lâm Nghi là 21,82% theo tiêu chí IADPSG. Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp các mốc tỷ lệ mắc tại TP. Hồ Chí Minh và nghiên cứu năm 2021 tại Bệnh viện Phụ sản Nam Định (điểm trung bình kiến thức đạt 7,43 ± 1,31, chỉ 38,3% thai phụ biết thời điểm làm xét nghiệm sàng lọc).

Chương 2: Liên hệ thực tiễn

Chương này mô tả bối cảnh địa bàn nghiên cứu, quy trình triển khai phương pháp và công bố số liệu thống kê thu thập từ 160 sản phụ:

  • Khái quát cơ sở nghiên cứu: Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định thành lập ngày 21/6/1980, khánh thành cơ sở 168 Trần Đăng Ninh ngày 8/3/1987. Hiện tại là bệnh viện chuyên khoa hạng II với quy mô 250 giường bệnh, 18 khoa phòng chức năng, đội ngũ gồm 195 cán bộ nhân viên và 33 nhân viên hợp đồng (05 Bác sĩ Chuyên khoa II, 12 Bác sĩ Chuyên khoa I, 04 Dược sĩ, 88 Nữ hộ sinh...).
  • Đặc điểm đối tượng nghiên cứu: Tỷ lệ nhóm tuổi 27 - 34 tuổi chiếm cao nhất với 49,9%, nhóm 22 - 26 tuổi chiếm 28,8%, nhóm ≥ 35 tuổi chiếm 18,1% và nhóm 18 - 21 tuổi chiếm 3,8%. Đa số sản phụ sống tại vùng nông thôn (71,9%), thành thị chiếm 28,1%. Sản phụ có từ 1 - 2 con chiếm 78,1%. Về nghề nghiệp, lao động tự do/nội trợ/kinh doanh chiếm 47,5%, công nhân chiếm 30,6%, viên chức chiếm 17,5% và nông dân chiếm 4,4%. Về trình độ học vấn, học vấn trung học phổ thông (THPT) chiếm 39,4%, trình độ trung cấp - đại học - sau đại học chiếm 37,5%, trung học cơ sở (THCS) chiếm 21,2% và tiểu học chiếm 1,9%. Cán bộ y tế là nguồn thông tin được sản phụ tin tưởng và mong muốn tiếp nhận nhiều nhất (79,4%).
  • Thực trạng kiến thức của sản phụ:
    • Về xét nghiệm và khái niệm: 69,4% biết đến xét nghiệm ĐTĐTK; 58,1% hiểu đúng khái niệm bản chất là đường máu tăng cao hơn bình thường (5,1 - 7,0 mmol/L), trong khi 17,5% cho là "đái ra đường" và 15,0% cho là "tăng cân béo phì".
    • Về yếu tố nguy cơ: Nhận định đúng về nguy cơ tăng huyết áp đạt 47,5%, tiền sử gia đình mắc bệnh đạt 45,0%, tiền sử bệnh mạch vành/đột quỵ đạt 41,2%, tiền sử sản khoa bất thường đạt 33,8%, trong khi yếu tố tuổi > 30 chỉ có 22,5% nhận biết đúng.
    • Về hậu quả: Hậu quả đối với mẹ được nhận biết nhiều nhất là tăng huyết áp (55,6%) và đái tháo đường mãn tính (55,6%). Hậu quả đối với con được nhận biết cao nhất là thai lưu/sẩy thai (51,2%) và đa ối (48,8%), tiếp theo là đẻ non (43,8%), thai to (38,1%) và suy dinh dưỡng thai (38,1%).
    • Về biện pháp phòng bệnh và dinh dưỡng: Khám sức khỏe định kỳ được 60,0% chọn đúng; kiểm soát tăng cân đạt 45,0%; hạn chế muối và chất kích thích đạt 49,4%. Về thực phẩm, 68,8% chọn rau xanh giàu chất xơ, 48,8% chọn ngũ cốc nguyên hạt; 67,5% biết cách chế biến thức ăn luộc/hấp cho người thừa cân; nhưng chỉ có 37,5% chọn đúng thời gian tập thể dục tối thiểu 30 phút mỗi ngày.
  • Phân loại kiến thức chung: Tỷ lệ sản phụ có kiến thức đạt chuẩn (≥ 50% điểm) chiếm 46,9%, tỷ lệ chưa đạt chiếm 53,1%.
  • Phân tích nguyên nhân: Xác định nguyên nhân thuận lợi từ tinh thần trách nhiệm của cán bộ y tế và sự hợp tác của người bệnh; nguyên nhân hạn chế bắt nguồn từ sự thiếu quan tâm của một bộ phận sản phụ, tiếp nhận thông tin chưa chọn lọc, nhân lực y tế còn mỏng và thiếu các buổi tư vấn truyền thông nhóm định kỳ quy mô lớn.

Chương 3: Bàn luận

Tác giả tiến hành so sánh đối chiếu các phát hiện nghiên cứu với các công trình khoa học đã công bố trước đây:

  • Đặc điểm nhân khẩu học: Độ tuổi 18 - 34 chiếm 82,5%, tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tâm năm 2021 (nhóm < 35 tuổi chiếm 71,8%). Tỷ lệ cư trú ở nông thôn cao (71,9%) phản ánh cơ cấu dân cư đến khám tại bệnh viện tỉnh, khác biệt so với nghiên cứu của Vương Thị Hồng (2021 - 2022) tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội với 78,6% sản phụ sống tại thành thị. Về học vấn, tỷ lệ có trình độ từ THPT trở lên đạt trên 76%, cao hơn nghiên cứu của Vũ Thị Thúy Mai năm 2019 (trình độ THCS chiếm đa số 51,8%).
  • Kiến thức về bệnh: Hiểu biết đúng về khái niệm bệnh đạt 58,1%, thấp hơn đáng kể so với mức 89,9% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tâm (2021). Nhận thức về các yếu tố nguy cơ của sản phụ còn hạn chế, kết quả này có sự tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tâm.
  • Kiến thức phòng bệnh: Tỷ lệ sản phụ nhận biết đúng thời điểm xét nghiệm sàng lọc tuần 24 - 28 đạt 60%, cao hơn con số 38,3% của nghiên cứu Trần Thị Việt Hà và cộng sự (2021). Kiến thức về chế biến luộc/hấp ở người thừa cân đạt 67,5%, tương đương nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tâm (66,7%). Nhận thức về lượng nước uống (46,9% chọn 2,5 - 3 lít/ngày) tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thùy năm 2021 (43,3%). Tuy nhiên, tỷ lệ biết mốc thời gian tập thể dục 30 phút/ngày chỉ đạt 37,5%, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Lê Thị Thu Hằng năm 2021 tại Phú Thọ (61,7%).
  • Tỷ lệ kiến thức chung: Mức kiến thức đạt 46,9% phản ánh sự tương đương với kết quả của Trần Thị Việt Hà (43,3% đạt) và Lê Thị Thu Hằng (42,0% đạt), khẳng định thực trạng chung là hơn một nửa số thai phụ vẫn chưa có đầy đủ kiến thức phòng ngừa ĐTĐTK.

Chương 5: Khuyến nghị và đề xuất giải pháp

(Khóa luận đánh số trực tiếp từ Chương 3 sang Chương 5 theo nguyên bản văn bản):

  • Đối với sản phụ: Cần chủ động học tập, tìm hiểu kiến thức về ĐTĐTK; nhận thức rõ tính chất nguy hiểm và các biến chứng của bệnh đối với bản thân và thai nhi; duy trì thái độ tích cực, chủ động lắng nghe và phối hợp chặt chẽ với nhân viên y tế trong quá trình khám thai.
  • Đối với nhân viên y tế: Chú trọng công tác tư vấn trực tiếp cho sản phụ về các mốc xét nghiệm sàng lọc, dấu hiệu cảnh báo bệnh và phương pháp phòng ngừa; điều dưỡng và nữ hộ sinh cần thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn, nâng cao kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe.
  • Đối với bệnh viện: Định kỳ tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo lại nhằm cập nhật các hướng dẫn mới về phòng chống ĐTĐTK cho đội ngũ y tế; duy trì các buổi tư vấn sức khỏe định kỳ hàng tuần cho sản phụ và người nhà; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác truyền thông giáo dục sức khỏe.

Chương 6: Kết luận

Chương kết luận tóm lược các kết quả định lượng cốt lõi của nghiên cứu:

  • Tỷ lệ kiến thức chung: Số thai phụ có kiến thức đạt chiếm 46,9%; số thai phụ có kiến thức chưa đạt chiếm 53,1%.
  • Nhận thức về xét nghiệm: 69,4% sản phụ lựa chọn đúng về việc cần thực hiện nghiệm pháp xét nghiệm ĐTĐTK.
  • Kiến thức bệnh học: 58,1% lựa chọn đúng định nghĩa ĐTĐTK là đường máu tăng cao hơn bình thường; 55,6% nhận biết đúng hậu quả gây tăng huyết áp và đái tháo đường mãn tính ở mẹ.
  • Kiến thức phòng bệnh: Tỷ lệ nhận biết biện pháp khám thai định kỳ đạt 60%, hạn chế muối và chất kích thích đạt 49,4%, rèn luyện thể dục đạt 45,6%, kiểm soát cân nặng đạt 45,0% và lựa chọn thực phẩm lành mạnh đạt 38,8%. Về dinh dưỡng, tỷ lệ chọn đúng rau xanh nhiều xơ đạt 68,8%, ngũ cốc nguyên hạt đạt 48,8%, thực phẩm ít béo/không đường đạt 41,2%; 46,9% chọn uống 2,5 - 3 lít nước/ngày và 67,5% chọn chế biến luộc hấp cho người thừa cân.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực chứng chi tiết về cơ cấu nhân khẩu học và mức độ hiểu biết của 160 sản phụ tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định năm 2023. Các bảng số liệu sau đây tổng hợp các phát hiện chính:

Bảng 1: Phân bố đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n = 160)

Chỉ số nhân khẩu học Phân nhóm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi 18 - 21 tuổi 6 3,8
22 - 26 tuổi 46 28,8
27 - 34 tuổi 79 49,9
≥ 35 tuổi 29 18,1
Nơi cư trú Nông thôn 115 71,9
Thành thị 45 28,1
Số con trong gia đình Chưa có con 6 3,8
1 con 58 36,2
2 con 67 41,9
> 2 con 29 18,1
Nghề nghiệp Tự do, nội trợ, kinh doanh 76 47,5
Công nhân 49 30,6
Cán bộ viên chức 28 17,5
Nông dân 7 4,4
Trình độ học vấn Trung học phổ thông 63 39,4
Trung cấp - Đại học - Sau ĐH 60 37,5
Trung học cơ sở 34 21,2
Tiểu học 3 1,9

Bảng 2: Thực trạng nhận thức của sản phụ về một số nội dung ĐTĐTK (n = 160)

Nội dung khảo sát Tỷ lệ trả lời đúng (%) Tỷ lệ trả lời sai/không biết (%)
Nhận biết biện pháp xét nghiệm ĐTĐTK 69,4 30,6
Định nghĩa đúng về bản chất ĐTĐTK 58,1 41,9
Nguy cơ do tăng huyết áp 47,5 52,5
Nguy cơ do tiền sử gia đình mắc ĐTĐ 45,0 55,0
Nguy cơ do tuổi mẹ > 30 tuổi 22,5 77,5
Hậu quả ĐTĐ mãn tính ở mẹ 55,6 44,4
Hậu quả sẩy thai, thai lưu ở con 51,2 48,8
Phòng ngừa bằng khám sức khỏe định kỳ 60,0 40,0
Phòng ngừa bằng hạn chế muối, chất kích thích 49,4 50,6
Phòng ngừa bằng kiểm soát cân nặng 45,0 55,0
Chọn thực phẩm rau xanh nhiều chất xơ 68,8 31,2
Chế biến luộc, hấp cho người thừa cân 67,5 32,5
Thời gian tập thể dục tối thiểu 30 phút/ngày 37,5 62,5

Bảng 3: So sánh tỷ lệ phân loại kiến thức chung với các nghiên cứu trước

Nghiên cứu công bố Địa bàn nghiên cứu Tỷ lệ kiến thức đạt (%) Tỷ lệ kiến thức chưa đạt (%)
Phạm Ngọc Diệp (2023) BV Phụ sản Nam Định 46,9 53,1
Trần Thị Việt Hà và cs (2021) BV Phụ sản Nam Định 43,3 56,7
Lê Thị Thu Hằng (2021) BV Sản Nhi Phú Thọ 42,0 58,0

Đóng góp của đề tài:

  • Về mặt lý luận: Củng cố cơ sở dữ liệu học thuật về nhận thức bệnh học của phụ nữ mang thai tại cơ sở y tế tuyến tỉnh, minh chứng sự tương đồng về tỷ lệ thiếu hụt kiến thức giữa các địa bàn nghiên cứu khác nhau.
  • Về mặt thực tiễn: Xác định chính xác các "khoảng trống" thông tin của thai phụ (như hiểu biết về mốc thời gian tập thể dục chỉ đạt 37,5%, yếu tố nguy cơ tuổi tác chỉ đạt 22,5%). Đồng thời, khẳng định nhân viên y tế là kênh thông tin có uy tín cao nhất (79,4%), tạo cơ sở trực tiếp để Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định điều chỉnh nội dung tư vấn tiền sản và tổ chức lại các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phương pháp chọn mẫu thuận tiện trong thời gian ngắn (từ 31/03/2023 đến 13/04/2023) tại một cơ sở y tế duy nhất (Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định) với quy mô 160 sản phụ, chưa mang tính đại diện ngẫu nhiên cho toàn bộ thai phụ trên địa bàn tỉnh.
  • Thiết kế nghiên cứu chỉ dừng lại ở mô tả cắt ngang và phân tích đơn biến tỷ lệ phần trăm trên phần mềm SPSS 16.0, chưa tiến hành các phân tích hồi quy đa biến nhằm kiểm soát yếu tố gây nhiễu và xác định mối liên quan nhân quả độc lập giữa đặc điểm nhân khẩu học với điểm số kiến thức.
  • Tác giả tự nhận định kinh nghiệm nghiên cứu thực tiễn và kiến thức chuyên môn của bản thân còn hạn chế, dẫn đến việc nghiên cứu chưa đi sâu khảo sát hành vi thực hành dinh dưỡng thực tế của thai phụ.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng quy mô mẫu và áp dụng phương pháp chọn mẫu xác suất (ngẫu nhiên phân tầng) tại nhiều cơ sở y tế tuyến huyện và trạm y tế xã trên địa bàn tỉnh.
  • Triển khai các nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe, đánh giá hiệu quả thay đổi kiến thức và hành vi trước - sau can thiệp của thai phụ.
  • Ứng dụng các mô hình thống kê phân tích mối tương quan giữa trình độ văn hóa, nghề nghiệp, nơi cư trú với kết quả kiểm soát đường huyết thực tế trong thai kỳ.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị ứng dụng cụ thể đối với các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên ngành Điều dưỡng, Hộ sinh và Y tế công cộng: Tài liệu cung cấp mẫu thiết kế phiếu khảo sát chi tiết (gồm 4 phần từ A1 đến D3) về kiến thức ĐTĐTK, quy trình mã hóa và tiêu chuẩn chấm điểm đạt/chưa đạt (ngưỡng 50%), rất hữu ích cho việc tham khảo xây dựng đề cương khóa luận tốt nghiệp.
  • Cán bộ điều dưỡng, nữ hộ sinh tại các bệnh viện chuyên khoa sản: Các số liệu thống kê tại Chương 2 chỉ ra những nội dung thai phụ có nhận thức sai lệch nhiều nhất (thời gian vận động, kiểm soát cân nặng, yếu tố nguy cơ tuổi tác), giúp nhân viên y tế định hướng nội dung trọng tâm khi thực hiện tư vấn trực tiếp tại bàn khám.
  • Ban lãnh đạo và phòng Kế hoạch tổng hợp/Điều dưỡng Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định: Báo cáo thực trạng là căn cứ thực tiễn để phê duyệt kế hoạch tổ chức các lớp tư vấn tiền sản định kỳ, biên soạn lại tờ rơi truyền thông và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục sức khỏe người bệnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ sản phụ có kiến thức đạt yêu cầu về phòng bệnh đái tháo đường thai kỳ trong nghiên cứu là bao nhiêu?

Theo kết quả khảo sát trên 160 sản phụ tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định, tỷ lệ sản phụ có kiến thức chung đạt yêu cầu (trả lời đúng từ 50% số câu hỏi trở lên, đạt từ 12 đến 23 điểm) là 46,9% (75 người). Tỷ lệ sản phụ có kiến thức chưa đạt (< 50% điểm, dưới 12 điểm) chiếm 53,1% (85 người).

2. Nguồn thông tin nào được các sản phụ tin tưởng và mong muốn nhận được tư vấn nhiều nhất?

Số liệu nghiên cứu chỉ ra rằng cán bộ nhân viên y tế là nguồn thông tin được sản phụ tin tưởng và mong muốn tiếp nhận nhất, chiếm tỷ lệ vượt trội là 79,4% (127 sản phụ). Tiếp theo là nguồn thông tin từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp (11,2%); thông tin đại chúng (6,9%); sách báo, tờ rơi chỉ chiếm 2,5%.

3. Hiểu biết của sản phụ về thời gian tập thể dục tối thiểu mỗi ngày để phòng bệnh đạt kết quả như thế nào?

Kiến thức đúng về việc thai phụ nên tập thể dục tối thiểu 30 phút mỗi ngày để phòng ĐTĐTK chỉ đạt tỷ lệ 37,5% (60 sản phụ). Đa số sản phụ lựa chọn sai mốc thời gian là 10 phút mỗi ngày (chiếm 53,8%, tương ứng 86 người); có 8,8% sản phụ (14 người) cho rằng việc tập thể dục là không cần thiết.

4. Nhận thức của thai phụ về các loại thực phẩm giúp phòng ngừa đái tháo đường thai kỳ tập trung vào nhóm nào?

Trong số các thực phẩm được khảo sát, nhóm thực phẩm rau xanh nhiều chất xơ được sản phụ nhận biết đúng nhiều nhất với tỷ lệ 68,8% (110 người); tiếp đến là các loại ngũ cốc nguyên hạt thay gạo trắng đạt 48,8% (78 người); nhóm thịt nạc, cá nạc, sữa, phô mai ít béo không đường đạt 41,2% (66 người). Vẫn còn 15% sản phụ hiểu sai khi lựa chọn nước ngọt, nước có gas là thực phẩm phòng bệnh.

5. Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức "Đạt" và "Chưa đạt" trong khóa luận được quy định cụ thể ra sao?

Tác giả quy định mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, câu trả lời sai hoặc chọn "không biết" tính 0 điểm. Dựa trên nghiên cứu của Lê Thị Thu Hằng (2021), mức độ phân loại được tính theo tỷ lệ: sản phụ trả lời đúng từ 50% trở lên (từ 12 đến 23 điểm) được xếp loại kiến thức "Đạt", sản phụ trả lời đúng dưới 50% (dưới 12 điểm) được xếp loại kiến thức "Chưa đạt".

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Ngọc Diệp đã phản ánh chân thực thực trạng nhận thức về bệnh và phòng bệnh đái tháo đường thai kỳ của 160 thai phụ đến khám tại Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định năm 2023. Kết quả cho thấy tỷ lệ thai phụ có kiến thức đạt yêu cầu còn ở mức thấp (46,9%), tồn tại nhiều lỗ hổng trong hiểu biết về chế độ luyện tập thể lực, kiểm soát cân nặng và nhận diện các yếu tố nguy cơ. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho chuyên ngành Điều dưỡng phụ sản, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với cơ sở y tế trong việc chuẩn hóa và đẩy mạnh các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe tiền sản.