Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phản ứng có hại của thuốc (ADR) là một trong những nguyên nhân hàng đầu làm tăng tỷ lệ nhập viện, kéo dài thời gian điều trị, gia tăng gánh nặng chi phí y tế và đe dọa trực tiếp đến tính mạng người bệnh. Các y văn quốc tế ghi nhận ADR gây ra khoảng 7.000 ca tử vong mỗi năm tại Hoa Kỳ và chiếm từ 10% đến 20% các ca nhập viện điều trị nội trú. Đáng chú ý, có tới 70% phản ứng có hại của thuốc có thể phòng tránh được nếu hệ thống giám sát và quản lý nguy cơ được vận hành hiệu quả.

Tại Việt Nam, hoạt động Cảnh giác Dược đã được khởi động từ năm 1994 và dần hoàn thiện qua các chủ trương, văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định số 68/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định số 131/2020/NĐ-CP về hoạt động dược lâm sàng, cùng Hướng dẫn Quốc gia về Cảnh giác Dược ban hành kèm theo Quyết định số 122/QĐ-BYT năm 2021. Sau gần một thập kỷ triển khai văn bản hướng dẫn đầu tiên về giám sát ADR trong bệnh viện (Quyết định số 1088/QĐ-BYT năm 2013, nay được thay thế bởi Quyết định số 29/QĐ-BYT năm 2022), việc đánh giá toàn diện bức tranh thực tế về hoạt động này là yêu cầu cấp thiết nhằm phát hiện rào cản và hoạch định can thiệp phù hợp.

Đề tài đặt ra hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng triển khai hoạt động giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại các cơ sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam năm 2021.
  2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại các cơ sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam năm 2021.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các cơ sở khám, chữa bệnh trên phạm vi toàn quốc tham gia khảo sát.
  • Phạm vi không gian: 58 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát được thu thập từ tháng 9/2021 đến tháng 11/2021 (phản ánh thực trạng hoạt động và số liệu báo cáo năm 2020 - 2021).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên các định nghĩa chuẩn hóa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 1972) và Luật Dược năm 2016 về phản ứng có hại của thuốc, sai sót liên quan đến thuốc (theo Hội đồng Điều phối Quốc gia Hoa Kỳ về Báo cáo và Phòng tránh sai sót thuốc - NCCMERP) và thuốc kém chất lượng/thuốc giả.

Hệ thống chỉ số và quy trình chuyên môn được đối chiếu theo:

  • Bộ công cụ đánh giá Cảnh giác Dược dựa trên chỉ số IPAT (Indicator-based Pharmacovigilance Assessment Tool).
  • Chu trình giám sát ADR trong bệnh viện theo khuyến cáo của Hội Dược sĩ Bệnh viện Hoa Kỳ (ASHP) và Hướng dẫn Quốc gia về Cảnh giác Dược của Bộ Y tế Việt Nam.
  • Các quy định tại Thông tư 22/2011/TT-BYT, Thông tư 23/2011/TT-BYT, Thông tư 21/2013/TT-BYT, Nghị định 131/2020/NĐ-CP và Quyết định 122/QĐ-BYT, Quyết định 29/QĐ-BYT.
  • Thang phân loại mức độ nặng CTCAE (Common Terminology Criteria for Adverse Events) của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ, thuật toán đánh giá mối quan hệ nhân quả Naranjo/WHO, cùng các phương pháp đánh giá khả năng phòng tránh được (WHO P-method, mạng lưới Cảnh giác Dược Pháp).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang không can thiệp, sử dụng bộ câu hỏi định lượng chuẩn hóa gồm các câu hỏi nhiều lựa chọn, câu hỏi đóng và câu hỏi thăm dò.
  • Quy trình thu thập dữ liệu: Bộ câu hỏi được Cục Quản lý Khám, chữa bệnh gửi qua hệ thống quản lý văn bản điều hành V-Office tới các bệnh viện trên toàn quốc. Phản hồi được thu nhận qua 3 kênh: nền tảng trực tuyến KoboToolbox, thư điện tử (email) và đường bưu điện.
  • Quy mô mẫu: Tổng số 685 phiếu phản hồi gửi về từ 58 tỉnh/thành phố (640 phiếu trực tuyến, 31 phiếu qua email, 14 phiếu qua bưu điện). Sau khi loại trừ 6 phiếu thiếu thông tin tối thiểu và 30 phiếu trùng lặp, bộ dữ liệu chính thức đưa vào phân tích bao gồm 649 cơ sở khám, chữa bệnh hợp lệ.

Xử lý số liệu

Dữ liệu được làm sạch, mã hóa trên Microsoft Excel 2016 và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0.

  • Thống kê mô tả: Tần số và tỷ lệ phần trăm đối với biến định tính (kiểm định Chi-square hoặc Fisher's exact test); trung vị và khoảng tứ phân vị (IQR) đối với biến định lượng không tuân theo phân phối chuẩn (kiểm định Kruskal-Wallis).
  • Thống kê suy luận: Mô hình hồi quy logistic đơn biến nhằm sàng lọc các biến độc lập tiềm năng, tiếp nối bằng mô hình hồi quy đa biến Binary Logistic (phương pháp loại trừ từng bước Backward Conditional). Hiện tượng đa cộng tuyến được kiểm soát nghiêm ngặt với hệ số phóng đại phương sai $VIF < 10$ và độ chấp nhận $Tolerance > 0,1$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về an toàn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế, phân định rõ giữa biến cố bất lợi của thuốc (ADE), sai sót điều trị (ME) và phản ứng có hại của thuốc (ADR). Tác giả tổng kết hệ thống văn bản pháp quy điều chỉnh công tác Cảnh giác Dược tại Việt Nam và trên thế giới; làm rõ trách nhiệm đa ngành giữa Hội đồng Thuốc và Điều trị, Khoa Dược, Dược sĩ lâm sàng và Nhân viên y tế (NVYT).

Phần tổng quan phân tích các nghiên cứu trong nước và quốc tế về rào cản báo cáo ADR tự nguyện. Dữ liệu y văn chỉ ra rằng tỷ lệ báo cáo thiếu (under-reporting) trên thế giới dao động rất lớn (từ 28,4% đến 96%), trong khi tại Việt Nam năm 2021 mới đạt 117 báo cáo/1 triệu dân (thấp hơn ngưỡng khuyến cáo 200 báo cáo/1 triệu dân của WHO). Các nghiên cứu đơn lẻ trước đây tại Bệnh viện Nhi Trung ương hoặc các bệnh viện đa khoa tỉnh cũng cho thấy tỷ lệ báo cáo thiếu lên tới trên 90% và chất lượng thông tin còn nhiều khiếm khuyết.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết về thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ mẫu khảo sát. Khung chỉ tiêu nghiên cứu được xây dựng bám sát 2 mục tiêu:

  1. Đánh giá cấu trúc hệ thống giám sát ADR (đơn vị phụ trách, nhân sự chuyên trách, quy trình văn bản); thực trạng 4 trụ cột chuyên môn (phát hiện, báo cáo, đánh giá, dự phòng); nguồn tài liệu tra cứu và rào cản thực tế.
  2. Xây dựng 5 mô hình hồi quy logistic đa biến để xác định các yếu tố dự báo khả năng triển khai: (1) Báo cáo tự nguyện; (2) Giám sát tích cực; (3) Đánh giá mức độ nghiêm trọng; (4) Đánh giá mối liên quan nhân quả; (5) Dự phòng quản lý thuốc có nguy cơ cao.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng cốt lõi từ 649 cơ sở khám, chữa bệnh:

  • Đặc điểm mẫu: Tuyến tỉnh (Hạng II) chiếm 36,8%, tuyến huyện (Hạng III) chiếm 45,3%, Hạng I và đặc biệt chiếm 16,2% (105 cơ sở); bệnh viện đa khoa chiếm 71,0%.
  • Thực trạng báo cáo tự nguyện: 90,0% (584/649) cơ sở đã gửi báo cáo ADR về Trung tâm DI & ADR Quốc gia trong năm 2020. Tỷ lệ này cao nhất ở Hạng I/Đặc biệt (99,0%), giảm xuống 94,1% ở Hạng II và 83,6% ở Hạng III & IV ($p < 0,001$). Số lượng báo cáo có trung vị là 4 báo cáo/năm (biến thiên từ 0 đến 498); riêng Hạng I/Đặc biệt đạt trung vị 34 báo cáo. Dược sĩ là lực lượng tham gia gửi báo cáo tại 96,5% cơ sở; bác sĩ tham gia nhiều nhất ở Hạng I/Đặc biệt (99,0%).
  • Hoạt động đánh giá và dự phòng: Đánh giá mức độ nghiêm trọng đạt 66,7%, trong khi đánh giá khả năng phòng tránh được chỉ đạt 8,9%. Hoạt động dự phòng chủ yếu là tập huấn NVYT (68,6%), trong khi việc xây dựng hướng dẫn sử dụng cho từng thuốc nguy cơ cao chỉ chiếm 12,2%.
  • Khó khăn và nguyên nhân: 75,7% cơ sở thiếu nhân lực chuyên trách; 74,3% NVYT không báo cáo do nhận định "phản ứng nhẹ không đáng để báo cáo".
  • Phân tích đa biến: Xác lập vai trò mang tính quyết định của việc thành lập đơn vị phụ trách chuyên trách, chuẩn hóa quy trình, tập huấn định kỳ và trang bị tài liệu tra cứu ngoại văn.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả đi sâu thảo luận về sự phân bố của mẫu khảo sát (khu vực miền Bắc chiếm ưu thế hơn do giai đoạn khảo sát trùng đợt bùng phát dịch Covid-19 tại các tỉnh phía Nam). Bàn luận chỉ ra sự chênh lệch sâu sắc về năng lực chuyên môn giữa bệnh viện tuyến trên và tuyến dưới; nhấn mạnh tính cấp bách của việc ứng dụng công nghệ thông tin/bệnh án điện tử để giảm tải thao tác thủ công, khắc phục rào cản quá tải thời gian của NVYT. Đồng thời, chương này chỉ ra các điểm nghẽn trong hoạt động quản lý nguy cơ và đề xuất giải pháp đồng bộ.


Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng nổi bật

Nội dung hoạt động giám sát ADR Hạng I & Đặc biệt (%) $(N=105)$ Hạng II (%) $(N=239)$ Hạng III & IV (%) $(N=305)$ Tổng chung (%) $(N=649)$ Giá trị $p$
Thực hành gửi báo cáo ADR về Trung tâm DI&ADR 99,0 94,1 83,6 90,0 $< 0,001$
Đánh giá mức độ nghiêm trọng của ADR 84,8 70,7 57,4 66,7 $< 0,001$
Đánh giá mối liên quan nhân quả (thuốc - ADR) 69,5 56,1 43,3 52,2 $< 0,001$
Đánh giá mức độ nặng của ADR 67,6 55,6 43,3 51,8 $< 0,001$
Tổng kết dữ liệu báo cáo ADR định kỳ 86,7 68,2 49,2 62,2 $< 0,001$
Đánh giá khả năng phòng tránh được 15,2 7,5 7,9 8,9 $0,047$
Xây dựng danh mục thuốc có nguy cơ cao 64,8 48,5 34,8 44,7 $< 0,001$
Xây dựng HDSD cho từng thuốc nguy cơ cao 23,8 10,5 9,5 12,2 $< 0,001$
Tập huấn cho NVYT về ADR 85,7 70,3 61,3 68,6 $< 0,001$
Khó khăn và rào cản ghi nhận Tỷ lệ chung (%) Nguyên nhân NVYT không báo cáo Tỷ lệ chung (%)
Thiếu nhân lực chuyên trách 75,7 Phản ứng nhẹ không đáng để báo cáo 74,3
NVYT không tự nguyện báo cáo 49,2 Phản ứng đã được biết quá rõ với thuốc 34,4
Thiếu tài liệu tra cứu/CSVC Dược lâm sàng 44,2 Báo cáo không ảnh hưởng công tác điều trị 34,2
Dữ liệu bệnh án chưa được tin học hóa 39,6 Sợ bị quy kết trách nhiệm 31,1
Chưa biết cách triển khai các hoạt động 29,2 Không có đủ thời gian để báo cáo 24,3

Kết quả phân tích hồi quy đa biến

  • Hoạt động báo cáo tự nguyện: Khả năng gửi báo cáo tăng thêm 5% khi bổ sung 1 dược sĩ tại cơ sở; cơ sở có bộ phận phụ trách chuyên trách có xác suất gửi báo cáo gấp 2,37 lần ($OR = 2,37$; $95%CI: 1,09 - 5,13$); cơ sở có tổ chức tập huấn cho NVYT có xác suất gấp 2,24 lần ($OR = 2,24$; $95%CI: 1,22 - 4,13$).
  • Phương pháp giám sát tích cực: Triển khai ở Hạng II và Hạng III/IV chỉ đạt tương đương 24% và 35% so với Hạng I/Đặc biệt. Cơ sở có cán bộ chuyên trách ($OR = 1,71$), có quy trình giám sát ($OR = 1,65$) và có đào tạo tập huấn ($OR = 1,54$) đạt tỷ lệ triển khai cao hơn có ý nghĩa.
  • Đánh giá mức độ nghiêm trọng và mối liên quan: Đơn vị có bộ phận chuyên trách giúp tăng khả năng đánh giá nghiêm trọng lên 3,65 lần ($OR = 3,65$) và đánh giá nhân quả lên 3,11 lần ($OR = 3,11$). Sử dụng tài liệu tra cứu tiếng Anh làm tăng xác suất đánh giá nhân quả lên 2,16 lần ($OR = 2,16$; $95%CI: 1,39 - 3,38$).
  • Quản lý thuốc nguy cơ cao: Bệnh viện có quy trình giám sát văn bản hóa có khả năng triển khai quản lý thuốc nguy cơ cao gấp 4,28 lần ($OR = 4,28$; $95%CI: 2,54 - 7,20$).

Giải pháp và kiến nghị

  1. Đối với cơ quan quản lý (Bộ Y tế, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh): Tăng cường hướng dẫn kỹ thuật chi tiết; đẩy mạnh triển khai cổng báo cáo điện tử trực tuyến; tích hợp chỉ số an toàn thuốc vào bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện.
  2. Đối với cơ sở khám, chữa bệnh: Thành lập tổ chức/bộ phận chuyên trách về Cảnh giác Dược thuộc Khoa Dược hoặc Hội đồng Thuốc và Điều trị; chuẩn hóa và ban hành các quy trình thao tác chuẩn (SOP); đẩy mạnh ứng dụng bệnh án điện tử tích hợp công cụ cảnh báo tín hiệu tự động; định kỳ tổ chức tập huấn kỹ năng phát hiện, điền mẫu báo cáo và phân tích ca cho bác sĩ, dược sĩ và điều dưỡng.

Đóng góp học thuật và thực tiễn

Đây là nghiên cứu quy mô toàn quốc đầu tiên sau giai đoạn ban hành Hướng dẫn Quốc gia về Cảnh giác Dược năm 2021, thu thập được bộ dữ liệu đại diện từ 649 cơ sở khám chữa bệnh thuộc 58 tỉnh thành. Khóa luận cung cấp bằng chứng định lượng chính xác về mối quan hệ giữa nguồn lực (nhân lực, quy trình, tài liệu, đào tạo) với hiệu quả vận hành chu trình giám sát ADR trong bệnh viện.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Thời điểm khảo sát trùng với giai đoạn cao điểm phòng chống dịch Covid-19, dẫn đến tỷ lệ phản hồi từ các cơ sở y tế khu vực phía Nam thấp hơn so với thực tế và thấp hơn khu vực phía Bắc.
    • Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát cắt ngang qua bảng kiểm tự báo cáo từ đại diện cơ sở y tế, chưa thể kiểm tra thực chứng hồ sơ bệnh án tại từng đơn vị để đối chiếu chất lượng lâm sàng của từng ca báo cáo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng đánh giá sâu về chất lượng nội dung và tính hoàn thiện của các báo cáo ADR theo thang điểm chuyên biệt (như vigiGrade).
    • Nghiên cứu thử nghiệm can thiệp áp dụng bộ công cụ phát hiện tín hiệu (trigger tools) và bệnh án điện tử tại các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo chuyên môn giá trị đối với:

  • Sinh viên và học viên Dược học, Y khoa: Nắm bắt phương pháp luận nghiên cứu Dược xã hội học, Dược kinh tế - Quản lý Dược và kỹ thuật phân tích hồi quy logistic đa biến trên SPSS ứng dụng trong nghiên cứu hệ thống y tế.
  • Dược sĩ lâm sàng và Lãnh đạo Khoa Dược bệnh viện: Sử dụng các số liệu và mô hình trong khóa luận làm cơ sở xây dựng quy trình giám sát ADR nội viện, lập danh mục thuốc có nguy cơ cao và thiết kế chương trình truyền thông nguy cơ an toàn thuốc.
  • Các nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Cung cấp dữ kiện thực chứng để rà soát, đánh giá mức độ bao phủ của các văn bản quy phạm pháp luật, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo và phân bổ nguồn lực Cảnh giác Dược quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ cơ sở khám, chữa bệnh tại Việt Nam tham gia gửi báo cáo ADR năm 2020 đạt mức bao nhiêu?

Theo kết quả khảo sát trên 649 cơ sở KCB, có 584 đơn vị (đạt tỷ lệ 90,0%) đã thực hiện gửi báo cáo ADR về Trung tâm DI & ADR Quốc gia trong năm 2020. Tỷ lệ này phân hóa theo tuyến: Hạng I & Đặc biệt đạt 99,0%, Hạng II đạt 94,1%, trong khi Hạng III & IV đạt 83,6%.

2. Lực lượng nhân viên y tế nào đóng vai trò nòng cốt trong việc thực hiện báo cáo ADR tại bệnh viện?

Dược sĩ là đối tượng tham gia báo cáo chính ở 96,5% tổng số cơ sở khảo sát (không có sự khác biệt giữa các hạng bệnh viện). Trong khi đó, tỷ lệ cơ sở có bác sĩ tham gia gửi báo cáo giảm dần theo tuyến: đạt 99,0% ở bệnh viện Hạng I & Đặc biệt, 87,4% ở Hạng II và 83,0% ở Hạng III & IV ($p < 0,001$).

3. Rào cản lớn nhất khiến các cơ sở khám, chữa bệnh gặp khó khăn khi triển khai giám sát ADR là gì?

Khó khăn lớn nhất được 75,7% cơ sở ghi nhận là tình trạng thiếu nhân lực chuyên trách công tác Cảnh giác Dược (trong đó bệnh viện Hạng II chiếm 80,3% và Hạng III & IV chiếm 78,7%). Rào cản tiếp theo là nhân viên y tế không tự nguyện báo cáo (49,2%) và thiếu tài liệu tra cứu, cơ sở vật chất cho Dược lâm sàng (44,2%).

4. Lý do chủ yếu nào khiến nhân viên y tế không tự nguyện báo cáo phản ứng có hại của thuốc?

Lý do phổ biến nhất là quan niệm cho rằng "phản ứng nhẹ không đáng để báo cáo", chiếm tới 74,3% phản hồi của các đơn vị. Các nguyên nhân kế tiếp gồm: phản ứng đã được biết quá rõ trong y văn (34,4%), việc báo cáo không làm thay đổi phác đồ điều trị (34,2%), tâm lý sợ bị quy kết trách nhiệm cá nhân (31,1%) và không đủ thời gian làm báo cáo (24,3%).

5. Yếu tố nào làm tăng khả năng triển khai hoạt động quản lý thuốc có nguy cơ cao tại bệnh viện?

Phân tích hồi quy logistic đa biến chứng minh việc cơ sở y tế xây dựng và ban hành quy trình giám sát ADR bằng văn bản giúp tăng khả năng triển khai quản lý thuốc có nguy cơ cao lên gấp 4,28 lần ($OR = 4,28$; $95%CI: 2,54 - 7,20$). Ngoài ra, việc bố trí nhân sự chuyên trách ($OR = 1,82$) và tổ chức tập huấn thường xuyên cho nhân viên y tế ($OR = 1,96$) cũng là các yếu tố thúc đẩy có ý nghĩa thống kê.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Tô Thị Lan Anh đã phác họa bức tranh toàn cảnh về hoạt động giám sát ADR tại 649 cơ sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam năm 2021 với tỷ lệ tham gia báo cáo đạt 90,0%. Nghiên cứu chỉ ra những nút thắt lớn về nhân lực chuyên trách, hoạt động đánh giá chuyên sâu và tâm lý e ngại của nhân viên y tế đối với các biến cố nhẹ. Kết quả phân tích đa biến cung cấp cơ sở khoa học xác đáng khẳng định việc hoàn thiện thể chế nội viện, chuẩn hóa quy trình và tăng cường tập huấn chuyên môn là giải pháp then chốt nhằm nâng cao chất lượng Cảnh giác Dược và an toàn sử dụng thuốc tại Việt Nam.