Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây đậu đen (Vigna cylindrica L.) là loại cây họ Đậu (Fabaceae) có tính đa dụng cao, mang lại giá trị kinh tế và dinh dưỡng lớn. Hạt đậu đen cung cấp nguồn ngũ cốc giàu đạm và vi chất dinh dưỡng, được ứng dụng trong y học cổ truyền và hỗ trợ phòng ngừa một số bệnh lý tim mạch, tiểu đường. Bên cạnh việc làm thực phẩm, thân lá và phụ phẩm của đậu đen còn được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi gia súc và nguyên liệu công nghiệp. Về mặt nông học, nhờ khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium, cây đậu đen có khả năng cố định đạm sinh học, góp phần cải tạo độ phì nhiêu cho đất canh tác.

Tuy nhiên, trong thực tiễn sản xuất tại Việt Nam, phần lớn các giống đậu đen địa phương sau nhiều năm canh tác liên tục đã bộc lộ hiện tượng thoái hóa giống, dẫn đến suy giảm năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thường xuyên tiến hành khảo nghiệm, đánh giá và tuyển chọn các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt và thích nghi với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đặc thù của từng vùng sinh thái, đặc biệt là trên các chân đất nghèo dinh dưỡng như đất xám bạc màu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Nông học của tác giả Lê Nguyễn Anh Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 11/2023), đã thực hiện đề tài: "Khảo nghiệm chín giống đậu đen (Vigna cylindrica L.) vụ Hè Thu 2023 trên đất xám bạc màu Thành phố Hồ Chí Minh".

Mục tiêu, yêu cầu và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản như sau:

  1. Mục tiêu đề tài:
    • Xác định được giống đậu đen có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt và năng suất hạt cao hơn hoặc bằng giống đối chứng địa phương, phù hợp với điều kiện canh tác vụ Hè Thu trên đất xám bạc màu tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Yêu cầu đề tài:
    • Bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của chín giống đậu đen theo quy phạm khảo nghiệm hiện hành.
    • Xử lý, phân tích thống kê số liệu thu thập được để chọn lọc ra giống đậu đen triển vọng nhất đáp ứng mục tiêu đề ra.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: 09 giống đậu đen, bao gồm 08 mẫu giống do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ cung cấp (Bình Định, Nghệ An, L2G6, Lạng Sơn, L4G4, L1G1, Huế, VN89) và 01 giống đối chứng phổ biến tại địa phương là Đậu đen xanh lòng PN-03 (Công ty Cổ phần Giống cây trồng Phú Nông).
    • Phạm vi không gian: Khu thí nghiệm trên nền đất xám bạc màu tại thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Phạm vi thời gian: Vụ Hè Thu năm 2023 (từ tháng 6/2023 đến tháng 9/2023).
    • Giới hạn đề tài: Khóa luận tập trung nghiên cứu, đánh giá các chỉ tiêu nông học, sinh trưởng, sâu bệnh và năng suất hạt; chưa thực hiện phân tích thành phần hàm lượng dinh dưỡng hóa sinh trong hạt đậu đen.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng dựa trên cơ sở phân loại thực vật học (Regnum: Plantae, Ordo: Fabales, Familia: Fabaceae, Genus: Vigna, Species: Vigna cylindrica L.) và các nghiên cứu nông học về cây đậu đen trên thế giới và tại Việt Nam. Phương pháp khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng được áp dụng theo tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT về quy phạm khảo nghiệm VCU đối với giống cây họ Đậu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành.

Đặc điểm điều kiện tự nhiên tại khu vực thí nghiệm

  • Thời tiết khí hậu (tháng 6 – 9/2023): Nhiệt độ không khí trung bình dao động từ 28,2°C đến 29,5°C (cao nhất 36,5°C vào tháng 6, thấp nhất 23,0°C vào tháng 7); tổng lượng mưa từ 252,8 mm đến 400,5 mm; độ ẩm không khí trung bình ở mức cao (79 – 83%); tổng số giờ nắng đạt từ 143,1 đến 215,2 giờ/tháng.
  • Đặc tính lý hóa đất xám bạc màu: Phân tích từ Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường (Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM) cho thấy đất có thành phần cơ giới cát pha thịt (cát 82,00%, thịt 10,00%, sét 8,00%); độ chua cao với $pH_{KCl} = 3,9$ và $pH_{H_2O} = 5,7$; hàm lượng chất hữu cơ nghèo (1,21%); đạm tổng số thấp (0,05%); lân dễ tiêu ($P_2O_5$) đạt 18,2 mg/100g; kẽm ($Zn$) đạt 14,9 mg/kg; lưu huỳnh ($S$) đạt 0,031%.

Phương pháp bố trí và kỹ thuật canh tác

  • Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đơn yếu tố được thiết kế theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design – RCBD) gồm 09 nghiệm thức (tương ứng 09 giống), lặp lại 3 lần (3 khối: LLL1, LLL2, LLL3), tổng cộng 27 ô thí nghiệm.
  • Quy mô: Diện tích mỗi ô là $4\text{ m} \times 2\text{ m} = 8\text{ m}^2$; khoảng cách giữa các ô là 0,5 m; khoảng cách giữa các lần lặp lại là 1,0 m; tổng diện tích khu thí nghiệm là $390\text{ m}^2$ (bao gồm dải hàng bảo vệ).
  • Mật độ gieo trồng: Khoảng cách hàng cách hàng 40 cm, hốc cách hốc 20 cm ($40\text{ cm} \times 20\text{ cm}$), gieo 2 hạt/hốc, sau đó tỉa định cây để lại 1 cây khỏe/hốc.
  • Liều lượng phân bón (tính cho 1 ha): 5 tấn phân bò ủ hoai + 500 kg vôi nông nghiệp + 40 kg N + 60 kg $P_2O_5$ + 60 kg $K_2O$ (quy đổi tương đương: 87 kg phân Urê 46% N; 375 kg phân Super lân 16% $P_2O_5$; 100 kg Kali clorua 60% $K_2O$).
    • Bón lót: Toàn bộ phân bò hoai mục, vôi và Super lân, lấp đất mỏng trước khi tra hạt.
    • Bón thúc đợt 1 (15 ngày sau gieo - NSG): $1/2$ lượng đạm Urê + $1/2$ lượng Kali clorua.
    • Bón thúc đợt 2 (25 NSG): $1/2$ lượng đạm Urê + $1/2$ lượng Kali clorua còn lại.

Phương pháp điều tra, theo dõi chỉ tiêu và xử lý số liệu

  • Chỉ tiêu thời gian sinh trưởng: Tỷ lệ nảy mầm (7 NSG), ngày mọc mầm (>50% số cây xòe 2 lá mầm), ngày phân cành, ngày ra hoa (>50% số cây nở hoa đầu tiên) và thời gian sinh trưởng (từ gieo đến thu hoạch dứt điểm).
  • Chỉ tiêu sinh trưởng và hình thái: Chọn 5 điểm theo đường chéo góc trên mỗi ô (mỗi điểm 2 cây, tổng 10 cây mẫu). Đo chiều cao cây (định kỳ 10 ngày/lần từ 15 đến 55 NSG); đếm số lá trên thân chính; đếm tổng số cành và số cành hữu hiệu mang quả; đếm tổng số nốt sần và nốt sần hữu hiệu (thời điểm 50 NSG); đo đường kính gốc thân (trước thu hoạch); cân sinh khối tươi (50 NSG).
  • Chỉ tiêu tính chống chịu:
    • Đánh giá đỗ ngã: Quan sát toàn bộ ô trước thu hoạch theo thang 5 cấp (Cấp 1: không đổ; Cấp 5: >75% số cây đổ).
    • Sâu đục quả (Maruca testulalis): Điều tra tỷ lệ quả bị hại trên 10 cây mẫu theo 4 cấp hại.
    • Bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia solanacearum Smith): Điều tra tỷ lệ cây bị bệnh từ gieo đến thu hoạch theo 5 cấp hại.
  • Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: Số quả/cây, khối lượng 100 quả, số hạt/quả, khối lượng 100 hạt, tỷ lệ hạt/quả, tỷ lệ hạt chắc. Năng suất thực thu ($P_{12%}$) được phơi khô và quy đổi về độ ẩm chuẩn 12% theo công thức: $$P_{12%} = \frac{100 - H_0}{100 - 12} \times P_0$$ (Trong đó: $H_0$ là độ ẩm ban đầu đo bằng máy đo độ ẩm; $P_0$ là khối lượng hạt thực tế ở độ ẩm $H_0$).
  • Xử lý số liệu thống kê: Tính toán giá trị trung bình bằng Microsoft Excel; phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định sự khác biệt giữa các nghiệm thức bằng trắc nghiệm LSD ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ trên phần mềm chuyên dụng RStudio.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa các tư liệu nghiên cứu liên quan đến nguồn gốc, phân loại thực vật và đặc tính sinh học của cây đậu đen (Vigna cylindrica). Cây có rễ cọc với hệ thống nốt sần cộng sinh phân bố tập trung ở vùng cổ rễ (10 – 40 nốt sần/cây, kích thước khoảng 1 mm, xuất hiện từ khi cây đạt 2 – 3 lá thật). Thân thảo phân đốt, lá chét hình trứng không lông tơ, hoa mọc thành chùm, quả giáp dài 8 – 10 cm chứa từ 8 – 15 hạt.

Tác giả tổng thuật các công trình nghiên cứu nổi bật:

  • Nghiên cứu quốc tế: Hoạt động thu thập, bảo tồn nguồn gen đậu ăn hạt tại Viện Cây trồng Nhiệt đới quốc tế IITA Nigeria (15.000 mẫu), Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ USDA (8.000 mẫu); chọn tạo giống chịu hạn tại châu Mỹ Latin; các nghiên cứu mật độ và giống tại Sudan (Ahmed M. El Naim et al., 2011), Ghana (Addo-Quaye et al., 2011), Ấn Độ (Sridhar et al., 2020; Damoar et al., 2020; Arpita Pandey et al., 2022) và Ethiopia (Sisay Legese et al., 2021).
  • Nghiên cứu trong nước: Các nghiên cứu cải tiến cơ cấu giống họ Đậu của Trần Đình Long (1997); tuyển chọn giống đậu đen chịu hạn tại Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ (2014 – 2017); nghiên cứu tuyển chọn dòng/giống tại Hà Nội (Trần Thị Tường, 2017), Gia Lai (Vũ Thị Anh Thư, 2019; Phạm Thị Hường, 2020), Ninh Thuận (Trần Thị Mỹ Hân, 2020) và nghiên cứu sơ bộ trên đất xám bạc màu TP.HCM của Phạm Thị Diễm Hương (2021).

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày toàn bộ hệ thống vật liệu, nguồn gốc bộ giống, quy trình kỹ thuật canh tác, bố trí sơ đồ thí nghiệm RCBD 3 lần lặp lại trên diện tích $390\text{ m}^2$, các bước theo dõi 18 chỉ tiêu nông học theo tiêu chuẩn QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT, phương pháp thu hoạch 3 đợt và thuật toán xử lý phương sai ANOVA trên RStudio.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được từ 09 giống đậu đen khảo sát trong vụ Hè Thu 2023:

1. Thời gian sinh trưởng và phát triển

Tỷ lệ mọc mầm của cả 9 giống đều đạt mức cao (95,8% – 98,7%). Thời gian mọc mầm (2,3 – 3,0 NSG), phân cành (20,0 – 21,3 NSG) và ra hoa (37,7 – 40,7 NSG) giữa các giống có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$). Tổng thời gian sinh trưởng (TGST) dao động từ 95 đến 103 ngày; trong đó giống Bình Định có TGST ngắn nhất (95 ngày), hai giống Lạng Sơn và L1G1 có TGST dài nhất (103 ngày), các giống còn lại kết thúc thu hoạch từ 98 – 101 NSG.

2. Động thái tăng trưởng chiều cao thân và số lá

  • Chiều cao cây: Tại thời điểm 55 NSG, chiều cao cây dao động từ 122,3 cm đến 141,5 cm. Giống L2G6 đạt chiều cao lớn nhất (141,5 cm), tương đương với Nghệ An (138,7 cm) và VN89 (138,5 cm); giống Lạng Sơn có chiều cao thấp nhất (122,3 cm). Giai đoạn 25 – 45 NSG ghi nhận tốc độ vươn cao mạnh nhất, tương ứng với hai thời điểm bón thúc phân.
  • Số lá trên thân chính: Tăng dần qua các giai đoạn và đạt từ 10,9 đến 11,8 lá/thân chính ở 55 NSG (giống Huế nhiều lá nhất với 11,8 lá, Nghệ An thấp nhất với 10,9 lá; khác biệt không có ý nghĩa thống kê).

3. Khả năng phân cành, hình thành nốt sần và sinh khối

  • Giống Bình Định có tổng số cành nhiều nhất (9,9 cành/cây), tuy nhiên tỷ lệ cành hữu hiệu thấp nhất (55,2%). Ngược lại, giống L1G1 có tổng số cành trung bình (4,5 cành/cây) nhưng đạt tỷ lệ cành hữu hiệu cao nhất (85,2%), kế đến là giống Nghệ An (84,4%).
  • Khả năng nốt sần hóa: Giống VN89 vượt trội nhất về tổng số nốt sần (49,1 nốt sần/cây) và số nốt sần hữu hiệu (29,0 nốt sần/cây). Về tỷ lệ nốt sần hữu hiệu, giống Nghệ An đạt cao nhất (64,1%), L4G4 đạt 62,5%, VN89 đạt 59,0%, trong khi giống L1G1 đạt thấp nhất (39,1%).
  • Đường kính gốc thân dao động từ 1,1 cm (L1G1) đến 1,4 cm (L2G6, Lạng Sơn). Sinh khối tươi ở 50 NSG biến động từ 327,2 g/cây (đối chứng PN-03) đến 542,3 g/cây (L2G6).

4. Mức độ chống chịu đỗ ngã và sâu bệnh hại

  • Đỗ ngã: Tỷ lệ đỗ ngã ở 9 giống đều ở cấp độ nhẹ (2,2% – 9,5%), thấp nhất là PN-03 (2,2%) và cao nhất là giống Nghệ An (9,5%).
  • Sâu đục quả (Maruca testulalis): Tỷ lệ hại dao động từ 3,8% đến 10,5%. Giống L1G1 có tỷ lệ quả bị hại thấp nhất (3,8% – mức hại nhẹ), trong khi giống đối chứng PN-03 bị hại nặng nhất (10,5% – mức hại trung bình).
  • Bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia solanacearum): Có 4 giống thuộc nhóm không nhiễm bệnh (<5% cây có triệu chứng), bao gồm: L1G1 (1,4%), Lạng Sơn (2,0%), L4G4 (3,1%) và Nghệ An (3,9%). Nhóm bị nhiễm nhẹ (6 – 25%) gồm: Bình Định (6,0%), L2G6 (7,0%), Huế (8,0%), đối chứng PN-03 (8,8%) và cao nhất là VN89 (14,4%).

5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất hạt

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất hạt của 09 giống đậu đen khảo sát:

Giống đậu đen Số quả/cây (quả) Khối lượng 100 quả (g) Số hạt/quả (hạt) Khối lượng 100 hạt (g) Tỷ lệ hạt chắc (%) Năng suất lý thuyết (tấn/ha) Năng suất thực thu (tấn/ha)
Xanh lòng PN-03 (ĐC) 14,9 163,5 11,0 10,9 66,8 1,47 1,06
Bình Định 15,0 180,3 12,2 10,9 81,8 2,03 1,39
Nghệ An 14,1 167,8 11,8 11,2 76,8 1,78 1,30
L2G6 15,2 179,8 13,2 11,1 71,4 2,00 1,45
Lạng Sơn 14,6 137,8 11,7 9,7 66,3 1,37 1,03
L4G4 16,4 135,4 10,1 9,4 89,2 1,73 1,28
L1G1 20,7 124,4 11,4 9,2 78,0 2,07 1,55
Huế 16,3 134,1 11,9 8,2 72,8 1,44 1,01
VN89 15,1 169,1 13,3 11,0 80,0 2,22 1,50
Hệ số biến thiên CV (%) 7,8 7,9 7,3 4,8 4,9 10,35 9,22
Mức ý nghĩa thống kê ** ** * ** ** ** **

Ghi chú: *: Khác biệt có ý nghĩa thống kê ($\alpha = 0,05$); **: Khác biệt rất có ý nghĩa thống kê ($\alpha = 0,05$).


Kết quả và đóng góp

1. Các kết quả chính kèm dữ liệu thực nghiệm

  • Đánh giá toàn diện 09 giống đậu đen sinh trưởng trong vụ Hè Thu 2023 trên đất xám bạc màu, xác định biên độ thời gian sinh trưởng từ 95 đến 103 ngày, chiều cao cây 122,3 – 141,5 cm, số cành 4,2 – 9,9 cành/cây.
  • Tuyển chọn được giống L1G1 là giống ưu tú và có tiềm năng phát triển cao nhất trong bộ giống khảo nghiệm:
    • Năng suất thực thu hạt cao nhất, đạt 1,55 tấn/ha (vượt trội so với giống đối chứng PN-03 đạt 1,06 tấn/ha và giống thấp nhất là Huế đạt 1,01 tấn/ha).
    • Tỷ lệ cành hữu hiệu cao nhất (85,2%) và số lượng quả/cây lớn nhất (20,7 quả/cây).
    • Khả năng chống chịu vượt trội: Tỷ lệ hại do sâu đục quả thấp nhất toàn bộ thí nghiệm (3,8%) và thuộc nhóm không nhiễm bệnh héo xanh vi khuẩn (tỷ lệ bệnh chỉ 1,4%).
  • Xác định giống VN89 là giống có tiềm năng năng suất lý thuyết cao nhất (2,22 tấn/ha) và năng suất thực thu đứng thứ hai (1,50 tấn/ha), có số hạt/quả cao nhất (13,3 hạt/quả) cùng số lượng nốt sần cố định đạm nhiều nhất (49,1 nốt sần/cây).
  • Xác định giống L4G4 có tỷ lệ hạt chắc/quả cao nhất đạt 89,2% và tỷ lệ hạt/quả khô đạt 72,0%.

2. Đề xuất và kiến nghị của tác giả

  • Tác giả đề nghị mở rộng quy mô tiến hành khảo nghiệm giống đậu đen L1G1 trên nhiều vùng sinh thái và các vụ canh tác khác nhau nhằm đánh giá khách quan hơn về tính ổn định năng suất và khả năng thích nghi trước khi đưa vào sản xuất đại trà tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đối với canh tác trên đất xám bạc màu, đề xuất người sản xuất cần tăng cường bón vôi và bổ sung phân hữu cơ hoai mục nhằm cải thiện độ chua ($pH_{KCl} = 3,9$) và nâng cao hoạt động của hệ vi sinh vật đất.

3. Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

  • Khóa luận cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về các chỉ tiêu nông sinh học, khả năng nốt sần hóa và năng suất của 08 dòng/giống đậu đen mới từ Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ khi canh tác trong điều kiện đất xám bạc màu Nam Bộ.
  • Bổ sung dẫn liệu khoa học phục vụ công tác tuyển chọn giống cây họ Đậu ngắn ngày cho cơ cấu cây trồng vụ Hè Thu tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Thí nghiệm mới được tiến hành trong phạm vi 01 vụ Hè Thu năm 2023 tại một địa điểm duy nhất (thành phố Thủ Đức, TP.HCM). Khóa luận mới dừng lại ở việc đánh giá các chỉ tiêu hình thái, sâu bệnh và năng suất hạt, chưa phân tích các chỉ tiêu hóa sinh về chất lượng hạt (như hàm lượng protein, lipid, chất xơ và các nguyên tố khoáng vi lượng $Fe, Zn$).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Khảo nghiệm đa điểm qua nhiều mùa vụ (vụ Đông Xuân, Xuân Hè) trên các loại đất khác nhau; phân tích phẩm chất dinh dưỡng hạt của giống L1G1 và VN89 để hoàn thiện hồ sơ công nhận giống.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng và Bảo vệ Thực vật: Tham khảo cấu trúc bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo phương pháp khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), quy trình theo dõi các chỉ tiêu nông học cây họ Đậu theo quy phạm VCU (QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT), phương pháp xử lý số liệu bằng phân tích phương sai ANOVA và trắc nghiệm LSD trên phần mềm RStudio.
  • Cán bộ khuyến nông và người sản xuất nông nghiệp tại TP.HCM và vùng phụ cận: Nắm bắt được đặc tính sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh và năng suất thực tế của các giống đậu đen (đặc biệt là hai giống L1G1 và VN89) trên chân đất xám bạc màu để định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống đậu đen nào đạt năng suất thực thu cao nhất trong thí nghiệm và vượt đối chứng bao nhiêu?

Giống L1G1 đạt năng suất thực thu hạt cao nhất với 1,55 tấn/ha, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với giống đối chứng Đậu đen xanh lòng PN-03 (đạt 1,06 tấn/ha), tức vượt đối chứng 0,49 tấn/ha (tương đương tăng 46,2%).

2. Đặc tính lý hóa của đất xám bạc màu tại khu thí nghiệm có những hạn chế gì đối với cây trồng?

Kết quả phân tích mẫu đất cho thấy đất có thành phần cơ giới cát pha thịt (cát chiếm 82%), đất rất chua với $pH_{KCl} = 3,9$ ($pH_{H_2O} = 5,7$), hàm lượng chất hữu cơ nghèo (1,21%) và đạm tổng số rất thấp (0,05%).

3. Những giống đậu đen nào trong thí nghiệm thuộc nhóm không nhiễm bệnh héo xanh vi khuẩn?

Có 4 giống có tỷ lệ nhiễm bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia solanacearum) dưới 5% được xếp vào nhóm không nhiễm, bao gồm: giống L1G1 (1,4%), Lạng Sơn (2,0%), L4G4 (3,1%) và Nghệ An (3,9%).

4. Công thức tính năng suất thực thu quy về độ ẩm chuẩn 12% được áp dụng như thế nào?

Tác giả sử dụng công thức: $$P_{12%} = \frac{100 - H_0}{100 - 12} \times P_0$$ Trong đó: $P_{12%}$ là năng suất hạt ở độ ẩm chuẩn 12%; $H_0$ là độ ẩm ban đầu của hạt sau khi phơi; $P_0$ là khối lượng hạt ghi nhận thực tế ở độ ẩm $H_0$.

5. Giống đậu đen nào có khả năng hình thành nốt sần tốt nhất trong điều kiện thí nghiệm?

Giống VN89 có khả năng hình thành nốt sần tốt nhất với tổng số nốt sần đạt 49,1 nốt sần/cây và tổng số nốt sần hữu hiệu đạt 29,0 nốt sần/cây tại thời điểm 50 ngày sau gieo (cao nhất và khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với các giống còn lại).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Nguyễn Anh Tuấn đã thực hiện thành công việc khảo nghiệm, so sánh 09 giống đậu đen vụ Hè Thu 2023 trên đất xám bạc màu tại Thành phố Hồ Chí Minh theo đúng quy phạm khảo nghiệm VCU. Kết quả thực nghiệm đã khẳng định giống L1G1 là giống triển vọng nhất với năng suất thực thu cao nhất (1,55 tấn/ha), tỷ lệ cành hữu hiệu cao (85,2%), số quả/cây vượt trội (20,7 quả) và khả năng kháng sâu đục quả cùng bệnh héo xanh vi khuẩn tốt nhất. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, đóng góp thiết thực cho công tác tuyển chọn giống cây họ Đậu phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng nghèo dinh dưỡng tại địa phương.