Đặt vấn đề Đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) còn gọi là đậu nành là một cây trồng cạn ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Khó có thể có tìm thấy một cây trồng nào có tác dụng nhiều mặt như cây đậu tương. Đậu tương là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao được dùng làm thực phẩm cho người và thức ăn cho chăn nuôi, là mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng, đồng thời cũng là đối tượng cây trồng có khả năng cải tạo đất rất tốt Theo các phân tích sinh hoá trong hạt đậu tương thì hàm lượng prôtêin chiếm khoảng 36-40%, lipit chứa một tỷ lệ cao các axit béo chưa no (khoảng 60-70%) có hệ số đồng hóa cao, mùi vị thơm ngon tuỳ theo giống và điều kiện ngoại cảnh. Trong hạt đậu tương không chỉ có hàm lượng cao về prôtêin mà nó còn chứa đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là axit amin không thay thế như: Xystin, Lizin, Triptophan.
có vai trò quan trọng đối với cơ thể con người và gia súc. Ngoài ra trong hạt đậu tương còn chứa nhiều loại vitamin như: PP, A, C, E, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Gia Thiều, 1996)[13]. Trong thành phần của hạt đậu tương có chứa khoảng Protein (40%), lipid (12-25%), glucid (10-15%) Protein của đậu tương lại dễ tiêu hoá đối với cơ thể (Lê Song Dự, Ngô Đức Dương, 1998) [6]. Tiềm năng năng suất của cây trồng nói chung và đậu tương nói riêng do đặc tính di truyển xác định và để tận dụng tốt tiềm năng năng suất đòi hỏi phải có môi trường gieo trồng tốt.
Ngoài yếu tố phân bón thì mật độ trồng cũng có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển và năng suất đậu tương. Do Luan van 2 đó muốn đạt năng suất cao cần phải có mật độ quần thể thích hợp [4]. Khi gieo đậu tương ở mật độ cao, cây đậu tương thường tăng chiều cao cây, dễ bị đổ ngã và chín sớm hơn. Đây là nguyên nhân chính làm giảm năng suất hạt đậu tương [17].
Nếu trồng dày quá thì số cây trên đơn vị diện tích nhiều, diện tích dinh dưỡng cho mỗi cây hẹp, cây sẽ thiếu dinh dưỡng và ánh sáng nên cây ít phân cành, số hoa, số quả/cây ít, khối lượng 1000 hạt nhỏ; ngược lại nếu trồng thưa quá diện tích dinh dưỡng của cây rộng nên cây phân cành nhiều, số hoa, quả/cây nhiều, khối lượng 1000 hạt tăng nhưng mật độ thấp nên năng suất không cao, do năng suất cá thể cao nhưng năng suất quần thể thấp [22]. Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến khả năng sinh trưởng và năng suất giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu năm 2017 tại Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục đích của đề tài - Xác định được mật độ trồng thích hợp cho giống đậu tương ĐT51 trong điều kiện vụ Hè Thu có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao và ổn định tại Thái Nguyên.2 Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu năm 2017 tại Thái Nguyên. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu năm 2017 tại Thái Nguyên.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến mức độ biểu hiện sâu bệnh hại của giống đậu tương ĐT51 trong vụ x Hè Thu năm 2017 tại Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá kiến thức để áp dụng vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và tích luỹ kinh nghiệm trong sản xuất cho sinh viên. - Xác định có cơ sở khoa học về mật độ gieo trồng cho cây đậu tương ĐT51 tại Thái Nguyên.
Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh đậu tương nói chung và trên tỉnh Thái Nguyên nói riêng - Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần tăng năng suất và hiệu quả kinh tế cho người sản suất đậu tương. Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn đề tài 2. Cơ sở khoa học Trong sản suất nông nghiệp, ngoài việc sử dụng giống tốt chúng ta còn nhiều yếu tố tác động như mật độ, bón phân… xác định được mật độ thích hợp được xem như một trong những trợ thủ đắc lực nhất giúp con người tăng năng suất và sản lượng cây trồng.
Mật độ quy định giới hạn năng suất của cây trồng. Năng suất chỉ tương ứng với điều kiện kĩ thuật trong phạm vi. Khi năng suất đạt mức tối đa thì dù điều kiện ngoại cảnh cũng như kĩ thuật canh tác tốt hơn cũng khó có thể làm tăng năng suất. Bởi vậy, mật độ thích hợp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng.
Mỗi một mật độ khác nhau cho sinh trưởng phát triển của giống đậu tương khác nhau. Vì vậy gieo trồng với mật độ thích hợp là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu để tăng năng suất và chất lượng nông sản. Cơ sở thực tiễn Sản xuất ở đậu tương ở Thái Nguyên phát triển không mạnh do hiệu quả sản xuất chưa cao. Có nhiều nguyên nhân như năng suất thấp, giá bán không ổn định, sâu bệnh… Trong đó nguyên nhân chính là chưa có được kỹ thuật trồng và chăm sóc phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng.
Xuất phát từ thực tiễn đó cần phải khảo nghiệm các giống đậu tương để tìm ra mật độ thích hợp sao cho phù hợp với từng vùng nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân, cải thiện đời sống cộng đồng. Tình hình sản xuất đậu tương ở thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là một trong những cây trồng quan trọng có giá trị kinh tế cao trong hệ thống nông nghiệp và là nguyên liệu cho nhiều ngành công Luan van 5 nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó phải kể tới các nước sản xuất đậu tương hàng đầu thế giới như: Hoa Kỳ, Brazil, Agentina, Trung Quốc sản xuất chủ yếu để xuất khẩu cho thị trường thế giới là 3 nước đầu tiên còn Trung Quốc chủ yếu hướng tới thị trường nội địa.
Cây đậu tương có lịch sử lâu đời nhất của nhân loại nó được trồng cách đây khoảng 5000 năm và được thuần hóa từ rất sớm. Hiện nay có khoảng 78 quốc gia và vùng lãnh thổ trồng cây đậu tương cho thấy nó có khả năng thích nghi với những điều kiện khí hậu rộng. Châu Á là nới nguyên sản của cây đâu tương nhưng nó lại rất thích nghi và được trồng tập trung chủ yếu tại Châu Mỹ chiếm 70% trong khi đó tại nơi nguyên sản của nó thì chỉ có 24% tính theo diện tích trồng trọt. Từ Những thập kỷ 70 của thế kỷ XX thì cây đậu tương đã được chú trọng sản xuất sản lượng của đậu tương tăng gấp 2 lần các cây lấy dầu khác và trở thành cây trồng tiềm năng trong tương lai.
Qua bảng sau ta thấy sản lượng đậu tương tăng lên qua từng năm cụ thể: Bảng 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2006 95,31 23,289 221,96 2007 90,15 24,372 219,72 2008 96,45 23,977 231,26 2009 99,32 22,492 223,40 2010 102,61 25,849 265,25 2011 103,60 25,324 262,35 2012 104,99 23,033 241,84 2013 111,26 24,841 276,40 2014 117,63 26,044 306,37 2015 120,79 26,757 323,20 2016 121,53 27,556 334,89 (Nguồn: FAOSTAT, 2016) [19] Qua bảng 2.1 cho thấy: Về diện tích: Trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trên thế giới có xu hướng tăng lên, dao động từ 95,31 triệu ha đến 121,53 triệu ha. Luan van 6 Trong vòng 10 năm từ 2006 - 2016 diện tích trồng đậu tương tăng 26,22 triệu ha. Năm 2016 diện tích trồng đậu tương của thế giới là 121,53triệu ha, qua bảng số liệu cho thấy diện tích trồng đậu tương ngày càng tăng lên.
Về năng suất: Năng suất đậu tương trên thế giới những năm gần đây tương đối ổn định dao động từ 23,289 tạ/ha đến 27,556tạ/ha. Năm 2015 năng suất đậu tương đạt cao nhất là 27,757 tạ/ha và thấp nhất là năm 2009 đạt 22,492 tạ/ha. Về sản lượng: Sản lượng đậu tương trên thế giới trong những năm vừa qua có những biến động nhỏ. Nhìn chung từ năm 2006 tới năm 2016 sản lượng đậu tương trên thế giới tăng từ 221,96 triệu tấn đến 334,89 triệu tấn, tăng 112,93 so với năm 2006.
Sản lượng trồng đậu tương tăng nhanh như vậy nguyên nhân là do diện tích trồng đậu tương trong những năm gần đây cũng tăng lên và do người trồng đậu tương đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất. Năm 2016 sản lượng cao nhất đạt 334,89 triệu tấn và thấp nhất là năm 2007 sản lượng đạt 219,72 triệu tấn. Riêng năm 2011 và 2012 sản lượng đậu tương giảm mặc dù diện tích trồng đậu tương vẫn tăng là do thời tiết khí hậu không thuận lợi, thường xuyên xảy ra thiên tai hạn hán. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam Cây đậu tương đã có mặt ở Việt Nam rất sớm khoảng thế kỷ thứ 8.
Được trồng và phát triển đến nay nó đã chiếm một vị trí quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp, chỉ đứng sau lúa nước và ngô. Ngoài tác dụng làm thực phẩm, thức ăn gia súc, làm thuốc. đậu tương còn giúp cải tạo đất, nó thích hợp với nhiều loại đất kể cả đất cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng. Nhận thức được tầm quan trọng của cây đậu tương trong phát triển kinh tế Đảng và Nhà nước ta đã và đang chú trọng vào phát triển sản xuất cây đậu tương.
Sản xuất đậu tương trong nước nhằm 3 mục đích: - Giải quyết vấn đề prôtêin cho người và gia súc. Luan van 7 - Cải tạo đất. Theo số liệu thống kê của chính phủ, đậu tương được trồng ở 28 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam. Khoảng 65% đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không màu mỡ và 35% được trồng ở những vùng đất thấp ở khu vực đồng bằng sông Hồng.
Đậu tương được trồng ở nhiều địa phương trên cả nước vào những thời điểm khác nhau nên có cả vụ xuân, vụ hè và vụ đông.