mở đầu cho việc nghiên cứu hệ thực vật cụ thể, nghĩ là “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống, nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý”. Trên cơ sở này, Tolmachop đã đưa ra nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 – 2000 loài (Ngô Tiến Dũng, 2002). Ngày nay, vấn đề nghiên cứu và bảo tồn đa dạng thực vật nói riêng và đa dạng sinh học nói chung đã trở thành một chiến lược trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên toàn thế giới như Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP), Quỹ quốc tế và bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện tài nguyên di truyền quốc tế (IPGRI), Viện tài nguyên thế giới (Wri),… Từ đó, nhiều cuộc hội thảo, tập huấn được tổ chức và nhiều cuốn sách mang tính chỉ dẫn ra đời.
Năm 1990, WWF đã cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The importance ò biological diversity) hay IUCN, UNEP và WWF đã đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới (World conservation strategy). Năm 1991, Wri, WWF xuất bản cuốn “Bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới” (Conservation the World’ biological diversity), hay IUCN,UNEP, WWF xuất bản cuốn “Hãy quan tâm Trái Đất” (Caring for the earth). Ngoài ra có nhiều công trình khoa học, chương trình tổ chức khác ra đời nhằm thảo luận về các phương pháp nghiên cứu về đa dạng sinh học, đánh giá bảo tồn và pháp triển đa dạng sinh vật và thông báo kết quả đạt được ở khắp nơi trên thế giới. Nghiên cứu đa dạng hệ thực vật ở Việt Nam Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2006), việc nghiên cứu đa dạng hệ thực vật ở Việt Nam đã được tiến hành từ rất sớm bởi các nhà khoa học người Pháp.
Loureiro (1790) đã cho xuất bản tác phẩm “Thực vật ở Nam Bộ” mô tả gần 700 loài cây. Pierre (1879 – 1907) cũng cho ra đời tác phẩm “Thực vật rừng Nam Bộ” mô tả khoảng 800 loài cây gỗ. Đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ “Thực vật chí Đông Dương” (Flore générale de l’Indo – chine) do H. Lecomte chủ biên (1907 – 1952) gồm 7 tập chính sau lại bổ sung thêm bằng những tập phụ.
Trong đó đã phân loại, mô tả và thống kê các loài cây từ Dương xĩ tới thực vật Hột kín của toàn Đông Dương. Trong đó, hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ bao gồm ngành Hột kín (Angiospermae) có 3366 loài, Trần Quốc Hão (MSSV: B1309142) 3 Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành QLTN&MT 1727 chi và 239 họ; ngành Dương xỉ (Polypodiphyta) và họ hàng Dương xỉ có 599 loài, 205 chi và 42 họ và ngành Hột trần (Gymnospermae) có 39 loài, 18 chi và 8 họ (Thái Văn Trừng, 1978). Trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê được ở miền Bắc có 5190 loài và năm 1969 Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5609 loài, 1660 chi và 140 họ (xếp theo hệ thống Engler), trong đó có 5069 thực vật hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại. Tiếp theo là bộ Thực Vật chí Campuchia, Lào, Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 – 1997) cùng với nhiều tác giả khác nghiên cứu và hệ thống các loài thực vật trên phạm vi cả nước.
Đến nay đã công bố 29 tập nhỏ gồm 74 họ cây có mạch nghĩa là chưa đầy đủ 20% tổng số họ đã có (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008). Song song với công trình đó, ở miền Bắc từ 1969 – 1967, nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật đã cho xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên và ở miền Nam Phạm Hoàng Hộ (1970 – 1972) công bố hai tập “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” giới thiệu 5246 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài Rêu, còn lại 52646 loài thực vật có mạch. Để phục vụ công tác khác thác tài nguyên trước hết phải kể đến 6 tập “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (1962 – 1965 – 1969 – 1970) và đã được tái bản lần thứ 10, đã giới thiệu gần 1000 cây thuốc và vị thuốc Việt Nam; Viện Điều tra Quy Hoạch Rừng đã công bố 7 tập “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971 – 1988) giới thiệu khá chi tiết cùng với hình vẽ minh họa, đến năm 1996 công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên; Trần Đình Lý (1993) công bố 1990 cây có ích ở Việt Nam; Võ Văn Chi (1997) công bố từ điển cây thuốc Việt Nam, đã giới thiệu 3300 loài cây cỏ làm thuốc của Việt Nam (Nguyễn Nghĩa Thìn). Trong thập niên cuối cùng của thế kỉ 20 đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hệ thực vật, đáng chú ý nhất phải kể đến là bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam trong hai năm (1999 – 2000).
Đây là bộ danh sách đầy đủ nhất và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam. Các nhà thực vật Nga và Việt cũng đã có một số kết quả đăng trong hai tập “Vascular Plants Synopsis of Vietnamese Flora” (tập 1 – 2) (1996) và Tạp chí Sinh học số 4 và 5 (chuyên đề) (1994) và (1995). Đặc biệt đáng chú ý là bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2001, 2003, 2005) do tập thể các nhà Thực vật Việt Nam tập hợp với trên 20.000 loài bao gồm Tảo, Nấm và Thực vật bậc cao trên phạm vi toàn quốc. Đây là tài liệu tổng hợp đã được cập nhật đầy đủ nhất, đáng tin cậy nhất từ trước tới nay, là cơ sở để tra cứu và chỉnh lý tên gọi (Ngô Tiến Dũng, 2002).
Bên cạnh đó, một số họ riêng biệt trên phạm vi toàn quốc đã được công bố như Orchidaceae Đông Dương của Seidenfaden (1992), Orchidaceae Việt Nam của Leonid V. Đây là những tài liệu quan trọng nhất làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam (Nguyễn Tiến Dũng, 2002). Bên cạnh những công trình mang tính chất chung cho cả nước hay ít ra một nữa đất nước, có nhiều bài báo và nhiều cuốn sách phục vụ cho công tác bảo tồn thực vật Trần Quốc Hão (MSSV: B1309142) 4 Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành QLTN&MT từng vùng cũng đã được công bố chính thức như hệ thực vật Tây Nguyên do Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc chủ biên (1984); Thực vật ở đảo Phú Quốc của Phạm Hoàng Hộ (1985); Nguyễn Nghĩa Thìn (1992 – 1994) về đa dạng thực vật Cúc Phương; Phan Kế Lộc (1992) về cấu trúc hệ thực vật Cúc Phương; Lê Trần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1994) về đa dạng thực vật Lâm Sơn (Hòa Bình); Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) về đa dạng thực vật vùng núi Sa Pa – Phan Si Pan; Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô (2003) về đa dạng sinh học: hệ Nấm và Thực vật ở Vườn Quốc Gia (VQG) Bạch Mã; Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn (2004) về đa dạng thực vật ở VQG Pù Mát – Nghệ An; Nguyễn Nghĩa Thìn, Đăng Quyết Chiến (2006) về đa dạng thực vật ở khu bảo tồn Na Hang tỉnh Tuyên Quang; Nguyễn Nghĩa Thìn chủ biên (2008) về đa dạng sinh học VQG Hoàng Liên,… (Nguyễn Tiến Dũng, 2002). Trên cơ sở các bộ thực vật chí đã công bố, các danh mục thực vật của từng vùng, để cung cấp dữ liệu cho việc giảng dạy và đánh giá tính đa dạng sinh học trên phạm vi cả nước, một số tác giả đã tổng hợp theo những hệ thống khác nhau với phạm vi khác nhau như sau: - Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2006) lược trích từ Nguyễn Tiến Bân (1990), đã thống kê theo hệ thống Takhtajan và đi đến kết luận thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam hiện biết 8.050 chi trong đó Hai lá mầm 1.590 chi và trên 6300 loài và lớp Một lá mầm là 460 chi với 2.
- Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2006) lược trích từ Phan Kế Lộc, (1996) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 10.256 chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và 57% tổng số các loài, chi và họ của thế giới.628 loài, 2010 chi và 291 họ cây hoang dại có mạch và 733 loài, 246 chi và 14 họ cây trồng. Ngành Hạt kín chiếm 92,47% tổng số loài, 92,48% tổng số chi và 85,57 tổng số họ. Ngành Dương xỉ kém đa dạng hơn theo tỷ lệ 6,45%, 6,27%, 9,97% về loài. Ngành Thông đất đứng thứ 3 (0,58%) tiếp đến là ngành Hạt trần (0,47%), hai ngành còn lại không đáng kể về họ, chi, loài.
- Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý các tên theo hệ thống Brummitt (1992) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.582 chi, 395 họ thực vật bật cao và 30 họ có trên 100 loài với tổng số 5.732 loài chiếm 51,3% tổng số loài của hệ thực vật. Qua quá trình nghiên cứu, Nguyễn Nghĩa Thìn đã công bố cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” (1997) nhằm hướng dẫn cách đánh giá tính đa dạng thực vật của vùng nghiên cứu cho các Vườn Quốc Gia và Khu bảo tồn trong cả nước; Phạm Bình Quyền và Nguyễn Nghĩa Thìn công bố cuốn “Đa dạng sinh học bảo tồn” (1990); Nguyễn Nghĩa Thìn và Lê Vũ Khôi công bố cuốn “Địa Lý sinh vật” (2000); Nguyễn Nghĩa Thìn đã cho ra cuốn “Đa dạng sinh học và tài nguyên di truyền thực vật” (2005) và Hệ sinh thái rừng nhiệt đới (2003) nhằm cung cấp những cơ sở cho công tác nghiên cứu đa dạng sinh học nói chung và đa dạng về thực vật ở Việt Nam nói riêng.2 THỰC VẬT BẬC CAO Giới thiệu về thực vật bậc cao Thực vật bậc cao với các mô phức tạp hơn và có sự chuyển hóa tế bào cao hơn ở thực vật bậc thấp, chủ yếu sống trên môi trường đất liền. Chúng có những đặc điểm giúp chúng có thể sống khỏi môi trường nước. Một trong những đặc điểm đó là sự duy trì thế Trần Quốc Hão (MSSV: B1309142) 5 Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành QLTN&MT hệ con cái ở dạng phôi một thời gian trong cơ thể mẹ.
Vì đặc điểm này nên những thực vật bậc cao còn có tên là thực vật có phôi (embryoptes).