Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về cây thuốc Trên thế giới, từ thời xa xưa con người đã biết khai thác và sử dụng cây thuốc nam để chữa bệnh. Người đã tìm tìm thấy những tài liệu liên quan tới thực vật ở Ai Cập khoảng những năm 3000 - 5000 TCN.
Thời kì này y học Ai Cập đã biết nhận diện các loại cây chữa bệnh và loài có hại cho sức khỏe từ đó hình thành những kinh nghiệm đầu tiên về sử dụng thực vật chữa bệnh. Trong y học Ayurveda (y học cổ truyền Ấn Độ) thống kê có khoảng 2.000 loài cây cỏ có công dụng làm thuốc. Y học Trung Quốc cũng hình thành và phát triển rất sớm với thuyết âm dương ngũ hành. Nhiều tác phẩm nổi tiếng như Thần nông bản thảo, Hoàng đế nội kinh.
Năm 1977 trong cuốn “Từ điển bách khoa về các phương thuốc cổ truyền Trung Quốc” thống kê 5.757 mục từ, đa số là thảo mộc. Cuốn sách "Cây thuốc Trung Quốc" xuất bản năm 1985 đã liệt kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc từ trước tới nay. Y học cổ Hy Lạp có Hyppocrate (460- 370 TCN) được xem là ông tổ của ngành y phương tây hiện nay. Biểu tượng con rắn quấn quanh thân gậy phép của Esculape thời Hy lạp cổ đã trở thành biểu tượng y học của rất nhiều tổ chức trên thế giới hiện nay như Tổ chức Y tế thế giới, Hội y học Hoàng gia, Hội y học Hoa kì… Thầy thuốc người Hy Lạp Pedanius Dioscoride một bác sĩ, nhà dược học, nhà thực vật học.
Ông là tác giả của bách khoa toàn thư về y học thảo dược và các chất có liên quan đã thống kê có 600 loài thảo mộc. Nicholas Culpeper xuất bản cuốn dược thảo “The English Physitian” (1652) và Complete Herbal (1653) trong đó chứa đựng những kiến thức về thảo dược và dược phẩm. 4 Một số tác phẩm nghiên cứu thực vật nổi tiếng trên thế giới như: Thực vật chí Honking (1981), Thực vật trí Australia, Thực vật chí Tây Bắc và trung tâm Ấn Độ, Thực vật chí Malaysia. Trong thời gian gần đây, thực vật là đối tượng đặc biệt được nhiều nhà khoa học quan tâm và cố gắng đánh giá đúng vị trí, vai trò chức năng sử dụng của nó trong nhiều lĩnh vực như thức ăn, thuốc chữa bệnh, trang phục, dụng cụ, các nghi lễ tôn giáo, môi trường…ở từng vùng địa phương khác trên thế giới.
Trong đó, cây thuốc được các nhà khoa học nghiên cứu nhiều nhất. Nhìn chung xã hội phát triển nên kéo theo nhu cầu của con người ngày càng cao. Các giá trị thực tiễn của thực vật được các nhà khoa học quan tâm và đánh giá đúng về các sản phẩm vừa chữa trị tận gốc các căn bệnh mà không để lại tác dụng phụ. Các sản phẩm thảo dược, thực phẩm chức năng ra đời đáp ứng được vừa có thể chữa bệnh nhưng lại đảm bảo không gây hại cho cơ thể khi sử dụng lâu dài nên do đó cây dược liệu ngày càng được khai thác mạnh.
Đặc biệt khi những cây dược liệu quý mang lại lợi nhuận kinh tế cao lại càng bị khai thác quá mức, đe dọa sinh tồn một số loài. Bảo tồn đa dạng sinh học ĐDSH trên phạm vi toàn thế giới đã và đang suy giảm một cách nhanh chóng. Trước tình hình đó thế giới có nhiều nỗ lực nhằm hạn chế sự suy giảm đó, cụ thể là có nhiều công ước liên quan đến bảo vệ ĐDSH đã ra đời như Công ước RAMSAR, Iran (1971), Công ước CITES (1972), Công ước Paris (1972), Công ước bảo vệ các loài ĐVHD di cư, Born (1979). Song song với việc xây dựng các công ước bảo vệ ĐDSH, các công trình nghiên cứu khoa học về ĐDSH cũng được công bố.
Trong rừng mưa thường xanh nhiệt đới số loài cao hơn nhiều (118-136 loài).Số loài 5 bình quân trong rừng ôn đới khoảng 21- 48 loài. Sự đa dạng về loài của rừng mưa nhiệt đới được diễn đạt bằng công thức Shannon-Weaver (1971) như là một thông số so sánh mật độ tham gia của mỗi loài với H = 6,0 (cực đại có thể 6,2 = 97%) lớn gấp 10 lần so với rừng lá rộng ôn đới (0,6). Thông số này giảm dần từ vùng nhiệt đới đến hai cực và phụ thuộc vào các lục địa khác nhau. Theo lý thuyết ốc đảo của Mac Arthur-Wilson (1971) thì số lượng loài tương tự bằng căn bậc bốn của diện tích ốc đảo (Công thức tính nhanh: diện tích tăng lên 10 lần có nghĩa là số loài tăng lên gấp đôi).
Ngược lại, diện tích bị thu hẹp lại có nghĩa là một số loài tương ứng sẽ bị tiêu diệt hoặc phải đấu tranh để tồn tại (Wilson, 1992). Danh sách các loài sinh vật có tên trong sách đỏ ngày càng tăng lên, có nghĩa là các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng ngày càng nhiều mà nguyên nhân không có gì khác hơn là các hoạt động sống của con người. Khi so sánh các dạng sử dụng đất khác nhau (chẳng hạn nông nghiệp, du lịch, giao thông, v.) thì lâm nghiệp đứng hàng thứ 2 sau nông nghiệp như là nguyên nhân của việc suy giảm, trong khi cách đây một phần tư thế kỷ (1981) còn xếp ở vị trí thứ 6 (sau nông nghiệp, du lịch, khai thác vật liệu, đô thị hoá và thuỷ lợi). Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH.Một số phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các dòng di truyền hay các sinh cảnh.Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách bền vững các sản phâm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật.Có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau: - Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation) - Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation) - Phục hồi (Rehabilitation) 1.
Nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam là quốc gia được đánh giá cao về sự phong phú, ý nghĩa thực tiễn của nguồn tài nguyên cây thuốc. Nên việc sử dụng thực vật làm dược liệu 6 rất sớm được đúc kết kinh nghiệm và lưu truyền trong cộng đồng các dân tộc. Từ thời xa xưa dân tộc ta đã gây dựng được một nền y học cổ truyền để phòng và chữa một số loại bệnh như uống nước vối để giúp tiêu hóa tốt, phòng bệnh, nhai trầu để bảo về răng… Trong thời kỳ độc lập (937-1399), vào thời nhà Lý, ở xã Đại Yên (Hà Nội), đời nhà Trần, Thái Y Viện đã tổ chức đi sưu tầm thuốc ở núi Yên Tử (Đông Triều - Quảng Ninh), Phạm Ngũ Lão xây dựng vườn thuốc Vạn Yên và gây rừng thuốc dược sản ở Phả Lại (huyện Chí Linh) để phục vụ quân đội đánh giặc ngoại xâm. Từ thế kỉ XIV- XVIII xuất hiện những danh y như Tuệ Tĩnh với “Hồng nghĩa giác tư y thư” những phương thuốc trong và ngoài nước.
Thời Lý Thái Tổ (1429), Phan Phù Tiên xuất bản cuốn “Bản thảo thực vật toàn yếu”; thế kỷ XVI, Lê Quý Đôn trong bộ “Vân đài loại ngữ” (1417) đã sơ bộ phân loại thực vật thành nhiều loại: cây cho hoa, cho quả, cây ngũ cốc, cây rau, cây mộc, cây thảo, cây mọc theo các mùa khác nhau. Sau Lê Quý Đôn, Nguyễn Trữ đã đi sâu hơn, mô tả rất kĩ cây thuốc trong cuốn “Việt Nam thực vật học”. Lê Hữu Trác tức Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791) ông đã viết cuốn “Y tông tâm tĩnh” nói về đạo đức y học, vệ sinh phòng bệnh, về chẩn đoán và dược học. Sự phong phú và đa dạng về tài nguyên thực vật của nước ta đã hấp dẫn rất nhiều nhà nghiên cứu phương Tây, đặc biệt là các nhà khoa học người Pháp trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược.
Họ đã để lại một số công trình nghiên cứu lớn như: “Thực vật Nam bộ” (1790) của Loureiro, mô tả gần 700 loài cây, “Thực vật rừng Nam bộ” (1879) của Pierre, mô tả gần 800 loài cây gỗ, hay bộ “Thực vật chí của Lào, Campuchia và Việt Nam” của các tác giả A. Công trình lớn nhất là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H. Lecomte và một số nhà thực vật học người Pháp biên soạn (từ 1907 đến 1943) gồm 7 tập chính và sau đó lại bổ sung thêm 7 bằng những tập phụ, trong đó đã phân loại, thống kê, mô tả các loài cây từ Dương xỉ đến thực vật Hạt kín của toàn Đông Dương. Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình khác như: “Danh mục các sản phẩm của Đông Dương” của Crévost, Lemaríe và Pételot.
“Các cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” của Pételot, “Các cây thuốc của miền Bắc Việt Nam” của Foucaud…Và trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê được miền Bắc có 5. Từ những truyền thống tốt đẹp của cha ông, sau cách mạng tháng 8 năm 1945 nhiều nghiên cứu cây thuốc, nhiều tài liệu viết về cây thuốc được các nhà khoa học viết và công bố như: Dược điển Việt Nam tập 2 (1983) của Nxb Y học do nhiều thành viên và các cơ quan tham gia xây dựng, đã mô tả và nêu công dụng của hơn 430 loài cây thuốc. Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) Cây cỏ Việt Nam xuất bản ở Canada, sau đó được nhà xuất bản Trẻ chỉnh lý, bổ sung và tái bản phát hành ở Việt Nam năm 2000, đây là bộ sách được đánh giá là đầy đủ nhất, dễ sử dụng nhất và góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thực vật ở Việt Nam. Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam.
Trần Đình Lý và tập thể (1993) 1900 loài cây có ích ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. Giới thiệu khoảng 1900 loài cây có ích ở Việt Nam thuộc gần 1.000 chi, 230 loài họ. Khái quát về nguồn tài nguyên thực vật ở Việt Nam một cách hệ thống và có dẫn liệu về tên khoa học và các tài liệu công bố gần 1.000 chi được trình bày một cách đầy đủ về tài liệu và loài type là chưa hề có ở Việt Nam. Võ Văn Chi và Trần Hợp (1996), với bộ sách "Cây cỏ có ích ở Việt Nam" gồm 4 tập đã giới thiệu 600 loài cây mọc hoang và trồng ở Việt Nam.
8 Võ Văn Chi (1997), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội. Tổng kết được sấp sỉ 2750 cây thuốc có mặt trên đất nước Việt Nam. Đỗ Tất Lợi (1999) Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Đây là công trình nghiên cứu trong hơn 20 năm của ông, được xuất bản lần đầu vào năm 1962, tập hợp giới thiệu hơn 750 vị thuốc Việt Nam.