Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài gà so ngực vàng arborophila chloropus bằng phương pháp âm sinh học tại vườn quốc gia cát tiên

Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể gà so ngực vàng Arborophila chloropus tại vườn quốc gia Cát Tiên bằng phương pháp âm sinh học.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

73
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu quần thể Gà so ngực vàng tại Vườn quốc gia Cát Tiên

Nghiên cứu về quần thể loài Gà so ngực vàng (Arborophila chloropus) tại Vườn quốc gia Cát Tiên là một phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Vườn quốc gia Cát Tiên được biết đến với hệ sinh thái phong phú, là nơi sinh sống của nhiều loài động vật quý hiếm. Việc nghiên cứu phân bố và tình trạng của loài Gà so ngực vàng không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sinh thái của chúng mà còn góp phần vào các chiến lược bảo tồn hiệu quả.

1.1. Đặc điểm sinh học của loài Gà so ngực vàng

Gà so ngực vàng là loài chim có chiều dài khoảng 30 cm, với màu sắc đặc trưng giúp chúng hòa mình vào môi trường sống. Loài này thường sống trong các khu rừng nhiệt đới, nơi có độ ẩm cao và đa dạng thực vật.

1.2. Vai trò của Gà so ngực vàng trong hệ sinh thái

Gà so ngực vàng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Chúng giúp kiểm soát số lượng côn trùng và là nguồn thức ăn cho các loài động vật ăn thịt khác.

II. Thách thức trong bảo tồn quần thể Gà so ngực vàng tại Cát Tiên

Mặc dù Vườn quốc gia Cát Tiên là nơi lý tưởng cho sự phát triển của loài Gà so ngực vàng, nhưng quần thể của chúng đang đối mặt với nhiều thách thức. Các hoạt động khai thác rừng, săn bắt trái phép và biến đổi khí hậu đang đe dọa đến sự tồn tại của loài này.

2.1. Tác động của con người đến môi trường sống của Gà so

Các hoạt động như khai thác gỗ và săn bắt đã làm suy giảm diện tích sinh cảnh của Gà so ngực vàng, dẫn đến sự giảm sút quần thể.

2.2. Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến quần thể

Biến đổi khí hậu gây ra sự thay đổi trong điều kiện sống, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và phát triển của loài Gà so ngực vàng.

III. Phương pháp nghiên cứu phân bố Gà so ngực vàng tại Vườn quốc gia Cát Tiên

Để nghiên cứu phân bố của loài Gà so ngực vàng, phương pháp âm sinh học đã được áp dụng. Phương pháp này cho phép thu thập dữ liệu âm thanh từ môi trường tự nhiên, giúp xác định vị trí và hoạt động của loài.

3.1. Sử dụng máy ghi âm đa phổ SM3

Máy ghi âm SM3 được sử dụng để thu thập âm thanh trong môi trường sống của Gà so ngực vàng. Thiết bị này có khả năng hoạt động trong nhiều điều kiện thời tiết khác nhau.

3.2. Phân tích dữ liệu âm thanh bằng phần mềm Raven

Phần mềm Raven giúp phân tích và xử lý dữ liệu âm thanh, từ đó xác định được tần số và đặc điểm tiếng kêu của Gà so ngực vàng.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn tại Cát Tiên

Kết quả nghiên cứu cho thấy quần thể Gà so ngực vàng tại Vườn quốc gia Cát Tiên đang có dấu hiệu suy giảm. Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ âm sinh học đã mở ra hướng đi mới trong việc giám sát và bảo tồn loài này.

4.1. Đánh giá mật độ quần thể Gà so ngực vàng

Kết quả cho thấy mật độ quần thể Gà so ngực vàng tại một số khu vực trong Vườn quốc gia Cát Tiên đang giảm sút, cần có biện pháp bảo tồn kịp thời.

4.2. Đề xuất giải pháp bảo tồn hiệu quả

Cần xây dựng các chương trình giám sát và bảo tồn, kết hợp với việc nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của Gà so ngực vàng trong hệ sinh thái.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho Gà so ngực vàng

Nghiên cứu về quần thể Gà so ngực vàng tại Vườn quốc gia Cát Tiên đã chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc bảo tồn loài. Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong nghiên cứu sẽ giúp nâng cao hiệu quả bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học.

5.1. Tương lai của Gà so ngực vàng tại Cát Tiên

Nếu các biện pháp bảo tồn được thực hiện hiệu quả, quần thể Gà so ngực vàng có thể phục hồi và phát triển bền vững trong tương lai.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn

Cộng đồng địa phương cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động bảo tồn, từ đó tạo ra sự đồng thuận và hỗ trợ cho các chương trình bảo tồn.

30/06/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài gà so ngực vàng arborophila chloropus bằng phương pháp âm sinh học tại vườn quốc gia cát tiên

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đƣợc quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô… tạo nên môi trƣờng sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới [3]. Tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH) là yếu tố tích tích cực góp phần cải thiện môi trƣờng sống của con ngƣời ngày càng văn minh, hiện đại, tốt đẹp hơn. Các vùng có tính ĐDSH cao chủ yếu tập chung ở các Vƣờn Quốc gia (VQG) và các Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) [4], trong đó có VQG Cát Tiên. Bên cạnh những hoạt động nỗ lực nhằm bảo vệ tính ĐDSH, con ngƣời cũng đang khai thác quá mức hoặc làm biến đổi tài nguyên ĐDSH, làm cho các giá trị ĐDSH đang dần bị suy thoái, xuống cấp [3].

Hiện nay bảo tồn ĐDSH là một trong những vấn đề ƣu tiên của Chính phủ Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới. Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (1995) dành ƣu tiên cho giải pháp bảo tồn in-situ và chú trọng vào các hệ sinh thái nổi bật nhất ở các địa phƣơng với 3 mục tiêu lớn đƣợc đặt ra: 1) Bảo vệ các hệ sinh thái tiêu biểu hoặc các hệ sinh thái bị đe dọa bởi các sức ép của con ngƣời; 2) Bảo vệ các thành phần ĐDSH đang bị đe dọa; 3) Xác định và quảng bá các công cụ, phƣơng pháp sử dụng và phát huy các giá trị ĐDSH [2],[3]. Mỗi hệ sinh thái đều đƣợc đặc trƣng bởi nhiều quần xã sinh vật [3],[9]. Các quần xã sinh vật đƣợc đặc trƣng bởi các quần thể của mỗi loài [3],[9].

Mặt khác, các loài sinh sống trong các sinh cảnh phù hợp có khả năng sinh trƣởng và phát triển tốt và ngƣợc lại. Do vậy, khi nghiên cứu một loài ở bất cứ một địa điểm nào, điều quan trọng cần thiết là phải nghiên cứu phân bố của nó [6]. Âm sinh học là một liên ngành khoa học kết hợp sinh học và âm thanh, thông thƣờng đề cập đến việc tiếp nhận âm thanh ở động vật (kể cả con ngƣời), từ đó có thể xác định đƣợc vị trí, các hoạt động sinh thái của đối 2 tƣợng điều tra. Trong giới hạn của đề tài, phƣơng pháp âm sinh học đƣợc sử dụng để xác định phân bố và tình trạng của loài.

VQG Cát Tiên đƣợc thành lập vào tháng 2 năm 1988 với diện tích đƣợc nâng lên 73. VQG Cát Tiên bao gồm các hệ sinh thái rừng nhiệt đới với giá trị ĐDSH cao, là sinh cảnh phù hợp cho việc bảo tồn và phát triển quần thể Gà so ngực vàng, trong khi đó, một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm số lƣợng cá thể Gà so ngực vàng ở Việt Nam là do tác động của con ngƣời đang làm mất, chia cắt và làm suy thoái sinh cảnh của chúng. Do vậy để bảo tồn Gà so ngực vàng, bên cạnh việc ngăn chặn các hiện tƣợng săn, bắt, bẫy trái phép và các hoạt động phi pháp khác cũng cần nghiên cứu xây dựng các giải pháp bảo tồn các sinh cảnh của loài. Hiện nay, chƣa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về việc ứng dụng công nghệ và các thiết bị tự động vào nghiên cứu phân bố của loài Gà so ngực vàng ở VQG Cát Tiên.

Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài Gà so ngực vàng (Arborophila chloropus) bằng phương pháp âm sinh học tại Vườn quốc gia Cát Tiên”. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm thông tin về đặc điểm phân bố của loài Gà so ngực vàng, là cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn ĐDSH hiệu quả tại VQG Cát Tiên. Đồng thời đề tài cũng mở ra một hƣớng đi mới trong nghiên cứu các loài động vật hoang dã tại Việt Nam. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn trƣớc năm 1975 Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là công trình nghiên cứu về chim do các nhà khoa học nƣớc ngoài thực hiện. Loài Gà rừng (Gallus gallus) là loài chim đầu tiên đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu bản mẫu thu đƣợc ở Côn Đảo và đƣợc nhà sinh vật học Line mô tả giữa thế kỷ XVIII. Cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học nƣớc ngoài có mặt ở Việt Nam đã bắt đầu các cuộc nghiên cứu chim trên phạm vi rộng với quy mô lớn. Năm 1872, danh sách chim Việt Nam gồm 192 loài đƣợc xuất bản lần đầu tiên với các lô mẫu vật do Pierier, giám đốc sở thú Sài Gòn thời bấy giờ sƣu tầm và công bố (H.

Năm 1931, Delacour và Jabuille đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp về chim Đông Dƣơng gồm 4 tập với 954 loài và phân loài (Delacour T.Et và Jabuille, 1931. Lesoiseaux de I’Indochine francaise, I-IV.Paris), trong đó có các loài chim của Việt Nam. Năm 1951, Danh lục chim Đông Dƣơng đƣợc Delacoure bổ sung và hoàn thành, xuất bản gồm 1085 loài và phân loài (J. Năm 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đây là mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu lịch sử nghiên cứu chim của Việt Nam, thời kỳ với các cuộc điều tra, khảo sát của các nhà nghiên cứu chim Việt Nam.

Các công trình nghiên cứu đáng chú ý của các tác giả nhƣ Võ Quý (1962, 1966), Trần Gia Huấn (1960,1961), Đỗ Ngọc Quang (1965), Võ Quý và Anoro N. Các công trình nghiên cứu đều đi sâu nghiên cứu về mặt khu hệ và phân loại mà ít chú ý đến đặc điểm sinh học và đặc điểm sinh thái của chúng. Năm 1971, với sự tổng hợp các công trình nghiên cứu về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, Võ Quý đã cho ra công trình số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn “Sinh học của những loài chim thƣờng gặp ở miền Bắc Vệt Nam”. Trong sách tác giả có dẫn 4 chứng đầy đủ về đặc điểm nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc mà đa số là các loài có ý nghĩa về mặt kinh tế.

Đây là công trình nghiên cứu về chim đầy đủ, có hệ thống và sát thực nhất giai đoạn này. Nhƣng do đối tƣợng nghiên cứu rộng nên tác giả không thể nghiên cứu về nơi ở của chúng, đối với mỗi loài tác giả mới chỉ ra loại sinh cảnh, đai cao chúng sống mà chƣa chỉ ra đặc điểm của sinh cảnh sống của chim nhƣ tổ thành thực vật, vị trí tầng tán yêu thích. Nghiên cứu về chim rừng Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 Sau chiến tranh giải phóng thống nhất đất nƣớc, công trình “Chim Việt Nam hình thái và phân loại (tập 1, 2)” của Võ Quý (1975, 1981) là công trình đầu tiên nghiên cứu về chim trên lãnh thổ Việt Nam về mặt sinh thái, phân loại và phân bố tự nhiên của các loài chim. Cũng trong giai đoạn này cuốn sách “Danh mục chim Việt Nam” của Võ Quý, Nguyễn Cử năm 1995 ra đời, bản danh mục gồm 19 bộ, 81 họ và 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1995, với mỗi loài tác giả đã dẫn ra các đặc điểm về hiện trạng và vùng phân bố.

Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 2007, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã xuất bản ấn phẩm “Động vật chí” trong tập 18 đã thống kê cả nƣớc có khoảng 164 loài chim nƣớc và di cƣ thuộc 68 họ, 5 bộ. Trong đó tác giả đã mô tả đặc điểm nhận biết, đặc điểm sinh học, sinh thái học, vùng phân bố của các loài. Ngoài ra trong sách còn có các hình vẽ mầu các loài chim nƣớc giúp độc giả dễ dàng nhận biết. Cho đến những năm gần đây nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học của các nƣớc nhƣ: Hà Lan, Đức, Anh, Úc, Mỹ.

đã tài trợ vào Việt Nam. Các tổ chức phi chính phủ nhƣ: Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế (FFI), Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), Ngân hàng thế giới (WB) đã đầu tƣ vào Việt Nam và sau đó một loạt công trình số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn nghiên cứu về động, thực vật hoang đã đã đƣợc 5 xuất bản. Công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về chim trong giai đoạn “Danh lục chim Việt Nam” do Nguyễn Lân Hùng Sơn, Nguyễn Thanh Vân (xuất bản năm 2011). Trong sách tác giả đã giới thiệu 887 loài chim, 88 họ và 20 bộ hiện có ở Việt Nam, mỗi loài trình bày các mục mô tả, phân bố, tình trạng, nơi ở và có hình vẽ mầu kèm theo.

Nói chung cuốn sách đƣợc biên soạn với mục đích chủ yếu giúp ngƣời đọc nhận dạng các loài chim ngoài thực địa. Loài Gà so ngực vàng Gà so ngực vàng hay còn gọi là Gà so ngực vảy (Arborophila chloropus), một loài chim định cƣ thuộc họ Trĩ, Bộ gà là loài đƣợc xếp trong Danh lục đỏ thế giới ở mức ít quan tâm (LC). Gà so ngực vàng có chiều dài trung bình 30 cm (từ mút mỏ đến cuối đuôi theo đƣờng thẳng) nặng từ 250g - 300g. Chim trƣởng thành ở phần trên cơ thể, sƣờn và hai bên có nhiều vảy màu đen nhỏ; cánh không có điểm đen; lông bao tai có màu nâu ôliu đến nâu hạt dẻ.

Chân có màu từ vàng đến xanh. Hiện nay, quần thể của loài đang bị suy giảm ngoài tự nhiên do mất sinh cảnh và săn bắt (IUCN, 2017). Gà so ngực vàng 1. Nghiên cứu liên quan đến chim tại Vƣờn quốc gia Cát Tiên 6 VQG Cát Tiên có hệ động vật đa dạng và phong phú về thành phần loài, các loài quý hiếm có ý nghĩa bảo tồn nguồn gen trên toàn thế giới.

Khu hệ động vật của VQG Cát Tiên có những nét đặc trƣng của khu hệ động vật vùng bình nguyên Đông Trƣờng Sơn, có quan hệ chặt chẽ với Tây Nguyên. Thống kê hệ động vật VQG Cát Tiên.1: thống kê hệ động vật tại VQG Cát Tiên Nhóm Số Bộ Số Họ Số Loài Thú 12 38 113 Chim 18 64 351 Bò sát 4 17 109 Lƣỡng cƣ 2 6 41 Côn trùng 10 68 756 Cá 9 29 159 Tổng số 55 222 1.529 (Nguồn: http://namcattien.vn) Nhóm chim gồm 351 loài thuộc 64 họ của 18 bộ. Trong đó có 17 loài quý hiếm đã đƣợc phát hiện và có tên trong sách đỏ Việt Nam. Nếu so sánh với cấu trúc thành phần loài của khu hệ chim Việt Nam, thì có thể nói Cát Tiên là một “đất nƣớc thu nhỏ” của các loài chim rừng Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu phân bố và tình trạng quần thể loài Gà so ngực vàng tại Vườn quốc gia Cát Tiên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phân bố và tình trạng bảo tồn của loài Gà so ngực vàng, một loài chim quý hiếm tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về sự đa dạng sinh học mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sống tự nhiên của chúng. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các biện pháp bảo tồn và quản lý quần thể loài này, từ đó có thể áp dụng vào các hoạt động bảo tồn khác.

Để mở rộng kiến thức về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng trồng keo và bạch đàn trên địa bàn huyện Ba Vì và huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về hiệu quả của các loại rừng trồng.

Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên các dạng lập địa chính vùng cát ven biển các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các kỹ thuật trồng rừng và bảo vệ môi trường ven biển.

Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam sẽ cung cấp thêm thông tin về quản lý tài nguyên rừng, một vấn đề quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các giải pháp thực tiễn cho việc bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên.