ĐẶT VẤN ĐỀ Sự phát minh ra kháng sinh là một trong những thành tựu quan trọng nhất của y học thế kỷ XX, đem lại nhiều lợi ích to lớn cho xã hội. Tuy nhiên, nhiều thầy thuốc sử dụng kháng sinh trong các trường hợp không cần thiết làm tăng tỷ lệ kháng thuốc, dẫn đến các nhiễm trùng nặng do vi khuẩn kháng thuốc rất khó điều trị. Sự lạm dụng kháng sinh, sử dụng kháng sinh không hợp lý gây ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe và kinh tế của người bệnh. Với mục đích tăng cường sử dụng kháng sinh hợp lý; giảm hậu quả không mong muốn khi dùng kháng sinh; nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh; ngăn ngừa vi khuẩn đề kháng kháng sinh và giảm chi phí y tế, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 772/QĐ-BYT ngày 04 tháng 3 năm 2016 [7].
Để bổ sung thêm các quy định, quy chế và hoàn thiện hướng dẫn về công tác quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả điều trị bệnh nhiễm trùng; đảm bảo an toàn, giảm thiểu các biến cố bất lợi cho người bệnh; giảm khả năng xuất hiện đề kháng của vi sinh vật gây bệnh; giảm chi phí nhưng không ảnh hưởng tới chất lượng điều trị và thúc đẩy chính sách sử dụng kháng sinh hợp lý, an toàn, năm 2020 Bộ Y tế lại tiếp tục ban hành Quyết định số 5631/QĐ-BYT ngày 31 tháng 12 năm 2020 về việc “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện”[8]. Chương trình quản lý kháng sinh đã được các bệnh viện triển khai, tuy nhiên chưa có sự đồng bộ giữa các bệnh viện trên cả nước. Bệnh viện xây dựng Việt Trì là bệnh viện đa khoa hạng II, được thành lập theo quyết định số 901/ QĐ-BXD ngày 29 tháng 9 năm 1998 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, hoạt động với quy mô 250 giường bệnh. Trong những năm gần đây, số lượng bệnh nhân nhập viện do nhiễm khuẩn tăng cao và tỉ lệ kháng kháng sinh ngày càng có xu hướng gia tăng đang là mối lo ngại hàng đầu của bệnh viện.
Bên cạnh đó, trong công tác khám chữa bệnh và điều trị ngoại trú cũng cho thấy tình trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị các bệnh nhiễm trùng khá cao. Mô hình bệnh nhiễm trùng trong điều trị ngoại trú của bệnh viện tương đối đa dạng với nhiều nhóm bệnh nhiễm trùng khác nhau: nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng da, niêm mạc, nhiễm khuẩn mắt,. Đối với điều trị nội trú, các nhóm bệnh nhiễm trùng cũng tương đối đa dạng, trong đó tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp trong những năm trở lại đây chiếm tỷ lệ khá cao. Đặc 1 biệt bệnh viêm phế quản là một trong những nhiễm trùng đường hô hấp thường gặp nhất tại bệnh viện Xây dựng Việt Trì.
Hiện nay, tình trạng lạm dụng kháng sinh xảy ra đối với nhiều loại bệnh, trên nhiều đối tượng bệnh nhân gây ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, mất an toàn cho người bệnh và gây lãng phí cho xã hội. Để góp phần nâng cao công tác sử dụng kháng sinh tại bệnh viện trong hoạt động khám chữa bệnh nội trú và ngoại trú được an toàn, hiệu quả và hợp lý chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Xây dựng Việt Trì năm 2021” với ba mục tiêu: 1. Khảo sát thực trạng tiêu thụ kháng sinh tại bệnh viện Xây dựng Việt Trì giai đoạn 2019-2020. Phân tích thực trạng kê đơn kháng sinh điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh – bệnh viện Xây dựng Việt Trì năm 2021.
Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phế quản trên bệnh nhân nội trú tại bệnh viện Xây dựng Việt Trì năm 2021. Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu phản ánh thực trạng tiêu thụ kháng sinh và phân tích được chất lượng kê đơn kháng sinh trên bệnh nhân nội trú và ngoại trú. Từ đó nâng cao hiệu quả chương trình quản lý sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Xây dựng Việt Trì nói riêng và các hệ thống khám chữa bệnh trên cả nước nói chung. CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ KHÁNG SINH TẠI BỆNH VIỆN 1.
Giới thiệu chương trình quản lý và sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Quản lý sử dụng kháng sinh là yếu tố quan trọng để phòng ngừa sự đề kháng kháng sinh. Chương trình quản lý sử dụng kháng sinh (Antibiotic Stewardship Program) thường được đề cập đến trong những năm gần đây áp dụng tại các bệnh 23 viện, bao gồm cả các cơ sở điều trị dài ngày. Những chương trình quản lý sử dụng kháng sinh cho thấy giảm sử dụng kháng sinh bất hợp lý tăng tỉ lệ khỏi bệnh, giảm thất bại trong điều trị, giảm chi phí điều trị và giảm đề kháng kháng sinh [24]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, việc quản lý sử dụng kháng sinh cho hợp lý sẽ cải thiện hiệu quả lâm sàng, giảm độc tính thuốc và giảm phát triển kháng thuốc [26].
Chương trình quản lý sử dụng kháng sinh thường bao gồm những hoạt động đa chức năng như thành lập đội ngũ quản lý đa ngành, giám sát, phản hồi việc kê đơn thuốc. Cải thiện việc kê đơn thuốc bao gồm huấn luyện về việc kê đơn: chọn loại kháng sinh phù hợp, chọn liều dùng và thời gian dùng kháng sinh tối ưu để điều trị nhiễm trùng, tổ chức hỏi ý kiến chuyên khoa trước khi kê đơn, cải tiến việc kê đơn, quay vòng kháng sinh và sử dụng chương trình giám sát qua phần mềm [23]. Có nhiều phương pháp để thực hiện chương trình quản lý sử dụng kháng sinh. Hiệp hội Bệnh nhiễm trùng và Hội Dịch tễ học Hoa Kỳ đã đưa ra hướng dẫn về tăng cường quản lý sử dụng kháng sinh [21] bao gồm: - Tổ chức nhóm quản lý kháng sinh đa chuyên ngành gồm các chuyên gia truyền nhiễm, vi sinh, dược lâm sàng, kiểm soát nhiễm khuẩn.
- Giám sát chủ động, phản hồi trực tiếp với từng bác sĩ trong từng trường hợp sử dụng kháng sinh không hợp lý. - Huấn luyện kết hợp với can thiệp chủ động. - Cập nhật hướng dẫn sử dụng kháng sinh dựa vào kháng sinh đồ tại chỗ, chú ý liều dùng đúng theo đặc tính bệnh, vị trí nhiễm trùng, bệnh nguyên, khuyến khích chuyển từ đường tĩnh mạch sang đường uống. - Hạn chế sử dụng và yêu cầu hội chẩn xin ý kiến lãnh đạo đối với một số 3 kháng sinh quan trọng.
- Tăng cường hệ thống thông tin hỗ trợ chỉ định kháng sinh và giám sát sử dụng. - Cung cấp dữ liệu vi sinh kịp thời. - Xây dựng sẵn bảng kháng sinh khuyến cáo cho từng trường hợp. Việc đánh giá hiệu quả chương trình có thể dựa vào đo lường quá trình: thay đổi về cách sử dụng kháng sinh hoặc đo lường kết quả, ví dụ: giảm đề kháng kháng sinh hoặc giảm tác dụng phụ do dùng kháng sinh.
Nội dung của chương trình quản lý sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Ngày 31/12/2020, Bộ trưởng Bộ Y tế đã chính thức ban hành tài liệu “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện” với mục đích: Nâng cao hiệu quả điều trị bệnh nhiễm trùng, Đảm bảo an toàn, giảm thiểu các biến cố bất lợi cho người bệnh, Giảm khả năng xuất hiện đề kháng của vi sinh vật gây bệnh, Giảm chi phí nhưng không ảnh hưởng tới chất lượng điều trị, Thúc đẩy chính sách sử dụng kháng sinh hợp lý, an toàn. Nội dung chính của hướng dẫn như sau: (1) Thành lập Ban quản lý sử dụng kháng sinh và xác định được vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi thành viên trong Ban; (2) Xây dựng kế hoạch hoạt động định kỳ hoặc đột xuất và triển khai thực hiện các hoạt động quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện theo kế hoạch đã xây dựng; (3) Kiểm tra, giám sát và tiến hành các can thiệp; (4) Đánh giá, tổng kết và báo cáo kết quả sử dụng kháng sinh và mức độ đề kháng của vi sinh vật gây bệnh tại đơn vị. 06 nhiệm vụ cốt lõi của chương trình quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện, bao gồm: (1) Thành lập Ban quản lý sử dụng kháng sinh của bệnh viện; (2) Xây dựng các quy định về sử dụng kháng sinh tại bệnh viện; (3) Giám sát sử dụng kháng sinh và giám sát đề kháng kháng sinh tại bệnh viện; 4 (4) Triển khai các can thiệp nâng cao chất lượng sử dụng kháng sinh trong bệnh viện; (5) Đào tạo, tập huấn cho nhân viên y tế trong bệnh viện; (6) Đánh giá thực hiện, báo cáo và phản hồi thông tin. Bộ Y tế lưu ý các bệnh viện một số nội dung cần chú ý khi xây dựng Hướng dẫn lựa chọn kháng sinh bao gồm: (1) Theo vị trí nhiễm khuẩn, mức độ nặng của bệnh nhiễm trùng; (2) Đặc điểm vi sinh vật gây bệnh và mức độ đề kháng; (3) Phân tầng người bệnh liên quan đến nguy cơ nhiễm vi sinh vật kháng thuốc; (4) Đặc tính dược động học và dược lực học của kháng sinh; (5) Đặc điểm người bệnh (bệnh nhi, người bệnh cao tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, người bệnh có suy giảm chức năng gan, thận, người bệnh có tiền sử dị ứng kháng sinh); (6) Tính sẵn có của thuốc tại bệnh viện và khả năng thay thế trong điều kiện không sẵn có thuốc; (7) Nếu có bằng chứng rõ ràng về vi sinh vật và kết quả vi sinh phù hợp với tình trạng lâm sàng và đáp ứng với phác đồ kháng sinh của người bệnh, cần cân nhắc lựa chọn kháng sinh có hiệu quả cao nhất với độc tính thấp nhất và có phổ tác dụng hẹp nhất trên các tác nhân gây bệnh được phát hiện; (8) Xuống thang kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ sau khi cân nhắc diễn biến lâm sàng; (9) Cân nhắc phối hợp kháng sinh nhằm mục đích mở rộng phổ tác dụng trên vi sinh vật gây bệnh, hiệp đồng tăng cường tác dụng diệt khuẩn, giảm thiểu và ngăn ngừa phát sinh đột biến kháng thuốc trong quá trình điều trị.
Đánh giá tiêu thụ kháng sinh trong bệnh viện Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá việc tiêu thụ kháng sinh nhưng nhìn chung có thể phân làm hai nhóm phương pháp đánh giá định tính và định lượng. Đánh giá định tính Nghiên cứu định tính nhằm đánh giá tính phù hợp của việc dùng thuốc trên 5 phương diện chất lượng và tính cần thiết của sử dụng thuốc so với các tiêu chuẩn được xây dựng trước đó. Các tiêu chuẩn này bao gồm chỉ định, liều dùng, độ dài đợt điều trị và các thông tin khác.