Tổng quan nghiên cứu

Kháng kháng sinh đang là một trong những thách thức y tế toàn cầu nghiêm trọng nhất thế kỷ XXI, làm suy giảm hiệu quả điều trị và gia tăng gánh nặng kinh tế y tế. Tại Bệnh viện Xây dựng Việt Trì – cơ sở y tế đa khoa hạng II trực thuộc Bộ Xây dựng với quy mô 250 giường bệnh, các bệnh lý nhiễm khuẩn chiếm vị trí cao thứ 3 trong mô hình bệnh tật toàn viện, chỉ đứng sau bệnh tuần hoàn và nội tiết. Thực trạng này kéo theo nhu cầu sử dụng kháng sinh rất lớn ở cả khối điều trị nội trú lẫn phòng khám ngoại trú, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc kiểm soát tính hợp lý trong thực hành kê đơn.

Nhằm tăng cường hiệu quả quản lý dược và thực hiện các quy chuẩn quốc gia, nghiên cứu tập trung giải quyết ba mục tiêu cụ thể: Thứ nhất, khảo sát thực trạng tiêu thụ kháng sinh toàn viện giai đoạn 2019-2020 thông qua hệ thống đo lường chuẩn hóa của Tổ chức Y tế Thế giới; Thứ hai, phân tích thực trạng kê đơn kháng sinh điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh trong năm 2021; Thứ ba, đánh giá chi tiết tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh lý viêm phế quản cấp nội trú năm 2021.

Nghiên cứu được triển khai tại Bệnh viện Xây dựng Việt Trì với phạm vi thời gian thu thập dữ liệu kéo dài từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/09/2021. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp bức tranh dịch tễ sử dụng thuốc rõ nét, hỗ trợ xây dựng chính sách kháng sinh đồ tại chỗ và tối ưu hóa quy trình can thiệp của dược sĩ lâm sàng. Kết quả nghiên cứu là căn cứ thực chứng quan trọng để cải thiện chỉ số sử dụng thuốc, hướng đến mục tiêu giảm thiểu tỷ lệ kê đơn không phù hợp chỉ định từ mức 5,3% đến 10,5% và kiểm soát mức độ tiêu thụ kháng sinh nội trú vốn đã tăng vọt từ 12,7 lên 53,8 liều xác định hàng ngày trên 100 ngày nằm viện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Chương trình Quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện (Antimicrobial Stewardship Program - ASP) theo tinh thần chỉ đạo tại Quyết định số 772/QĐ-BYT năm 2016 và Quyết định số 5631/QĐ-BYT năm 2020 của Bộ Y tế. Khung lý thuyết này quy định 6 nhiệm vụ cốt lõi bao gồm: thiết lập ban quản lý chuyên trách, chuẩn hóa quy định kê đơn, giám sát tiêu thụ và đề kháng vi sinh, triển khai can thiệp dược lâm sàng, đào tạo liên tục và thiết lập hệ thống phản hồi thông tin nội bộ.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp mô hình Đánh giá sử dụng thuốc (Drug Utilization Review - DUR) và Đánh giá sự dụng thuốc định lượng (Drug Utilization Evaluation - DUE) theo chuẩn mực quốc tế. Các khái niệm và công cụ chuyên ngành chính được ứng dụng xuyên suốt gồm:

  1. Hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học và Liều xác định hàng ngày (ATC/DDD): Công cụ chuẩn hóa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) giúp quy đổi khối lượng dược chất thành số liều trung bình duy trì hàng ngày cho người lớn theo chỉ định chính.
  2. Chỉ số tiêu chuẩn hóa tiêu thụ: Đơn vị DDD/100 ngày nằm viện cho khối nội trú và DDD/1000 đơn kê cho khối ngoại trú, giúp triệt tiêu sai số do biến động giá thành và hàm lượng đóng gói.
  3. Nguyên lý Dược động học/Dược lực học (PK/PD): Cơ sở lý giải hoạt tính diệt khuẩn phụ thuộc thời gian của nhóm Beta-lactam và phụ thuộc nồng độ của nhóm Fluoroquinolon.
  4. Tiêu chuẩn đánh giá tính phù hợp: Đối chiếu chỉ định, liều dùng và đường dùng với Tờ thông tin sản phẩm của nhà sản xuất cùng Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh nhiễm trùng của Bộ Y tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu kết hợp định lượng và định tính trên 3 bộ dữ liệu độc lập:

  • Mục tiêu 1: Thu thập toàn bộ dữ liệu xuất nhập kháng sinh và số liệu ngày điều trị nội trú, lượt khám ngoại trú trên phần mềm quản lý bệnh viện trong 24 tháng (từ 01/01/2019 đến 31/12/2020). Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng để đảm bảo tính bao quát toàn diện về xu hướng tiêu thụ.
  • Mục tiêu 2: Khảo sát toàn bộ 499 đơn thuốc ngoại trú tại Khoa Khám bệnh từ ngày 01/06/2021 đến ngày 30/06/2021, sàng lọc được 150 đơn thuốc có kê chỉ định kháng sinh cho bệnh nhân người lớn từ 16 tuổi trở lên thông qua mẫu phiếu thu thập thiết kế sẵn.
  • Mục tiêu 3: Thu thập toàn bộ 397 hồ sơ bệnh án nội trú có mã chẩn đoán viêm phế quản cấp từ ngày 01/01/2021 đến ngày 30/09/2021. Sau khi áp dụng các tiêu chuẩn loại trừ nghiêm ngặt (thời gian nằm viện dưới 3 ngày, bệnh nhân tử vong, chuyển viện hoặc mắc từ 2 nhiễm khuẩn trở lên), mẫu nghiên cứu chính thức gồm 112 bệnh án hoàn chỉnh.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chỉ số DDD là nhằm đảm bảo khả năng so sánh khách quan với các cơ sở y tế khác trong nước và quốc tế. Toàn bộ dữ liệu được quản lý và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 với các thuật toán thống kê y học mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực tế tại Bệnh viện Xây dựng Việt Trì đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, mức độ tiêu thụ kháng sinh toàn viện có sự gia tăng đột biến giữa hai năm khảo sát. Mức tiêu thụ nội trú tăng gấp hơn 4,2 lần, từ 12,7 DDD/100 ngày nằm viện năm 2019 lên 53,8 DDD/100 ngày nằm viện năm 2020 (trung bình toàn giai đoạn đạt 22,8). Mức tiêu thụ ngoại trú cũng tăng từ 42,5 lên 69,0 DDD/1000 đơn kê (trung bình đạt 57,6, cao gấp 2,5 lần so với khối nội trú). Đáng chú ý, nhóm Penicilin nội trú tăng vọt từ 2,3 lên 42,3 DDD/100 ngày nằm viện, chủ yếu do mức tiêu thụ tăng cao của biệt dược Tenamox 500 chứa hoạt chất Amoxicilin (đạt 39,1 DDD/100 ngày nằm viện năm 2020).

Thứ hai, mô hình kê đơn ngoại trú tập trung chủ yếu vào các nhiễm khuẩn hô hấp và tiêu hóa. Trong 150 đơn thuốc có kháng sinh (chiếm tỷ lệ 30,1% trên tổng số 499 đơn khám), tỷ lệ có chẩn đoán nhiễm khuẩn xác định đạt 94,7% (142 đơn), tuy nhiên vẫn còn 5,3% đơn thuốc (8 đơn) không ghi nhận chẩn đoán nhiễm khuẩn. Viêm phế quản cấp là chẩn đoán chiếm tỷ lệ cao nhất với 31,0% (44 đơn), tiếp theo là viêm dạ dày tá tràng nhiễm khuẩn với 19,7% (28 đơn), viêm họng cấp chiếm 18,3% (26 đơn) và viêm kết mạc cấp chiếm 12,7% (18 đơn).

Thứ ba, cơ cấu sử dụng kháng sinh ngoại trú thể hiện sự ưu tiên rõ rệt cho đường uống toàn thân (chiếm 90,7%) với hai hoạt chất phổ biến nhất là Amoxicilin (38,0%) và Cefixim (33,3%). Về tính phù hợp chỉ định theo tờ thông tin sản phẩm, các thuốc Cefixim, Moxifloxacin, Ciprofloxacin và Metronidazol đạt tỷ lệ phù hợp 100%. Ngược lại, tỷ lệ kê đơn không phù hợp vẫn xuất hiện ở Amoxicilin với 5,3% và đặc biệt là Cephalexin lên tới 10,5%.

Thứ tư, khảo sát 112 bệnh nhân viêm phế quản cấp điều trị nội trú ghi nhận độ tuổi trung bình là 57,4 ± 17,6 tuổi (từ 16 đến 84 tuổi), nữ giới chiếm ưu thế với 56,3%. Tỷ lệ bệnh nhân có bệnh lý tim mạch mắc kèm rất cao, trong đó tăng huyết áp chiếm 40,2%. Đáng lưu ý, có tới 73,2% bệnh nhân (82 người) đã có tiền sử tự dùng hoặc điều trị kháng sinh trước khi nhập viện. Thời gian điều trị kháng sinh nội trú trung bình là 7,7 ± 2,3 ngày (từ 3 đến 15 ngày), tương đương tuyệt đối với thời gian nằm viện trung bình của người bệnh.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng mạnh mẽ của chỉ số tiêu thụ kháng sinh năm 2020 phản ánh những thay đổi trong danh mục thuốc trúng thầu và thói quen lựa chọn kháng sinh phổ rộng của thầy thuốc lâm sàng. Trong nhóm Cephalosporin, việc chuyển dịch cơ cấu từ Cephalosporin thế hệ 2 sang thế hệ 3 (đạt đỉnh 16,6 DDD/100 ngày nằm viện vào tháng 12/2020) thể hiện xu hướng đối phó với tình trạng vi khuẩn kháng thuốc gia tăng trong cộng đồng. Khoa Nội tổng hợp và Liên chuyên khoa là hai đơn vị có mức tiêu thụ nội trú cao nhất toàn viện (lần lượt là 8,7 và 8,2 DDD/100 ngày nằm viện giai đoạn 2019-2020), hoàn toàn tương thích với mô hình tiếp nhận điều trị các ca bệnh hô hấp và tai mũi họng phức tạp.

So với các báo cáo tại một số cơ sở y tế cùng hạng trên cả nước, tỷ lệ đơn kê ngoại trú có kháng sinh tại bệnh viện (30,1%) nằm trong ngưỡng kiểm soát tương đối tốt theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (khuyến cáo dưới 30%). Tuy nhiên, việc tồn tại 5,3% đơn thuốc thiếu chẩn đoán nhiễm khuẩn và 10,5% chỉ định Cephalexin chưa đúng khuyến cáo đặt ra yêu cầu phải tăng cường rà soát đơn thuốc. Dữ liệu này có thể được trình bày tối ưu thông qua biểu đồ đường biểu diễn xu hướng tiêu thụ hàng tháng giữa hai nhóm Penicilin và Cephalosporin, kết hợp bảng ma trận đối chiếu giữa mã bệnh chẩn đoán và hoạt chất chỉ định để nhận diện các điểm nóng kê đơn.

Đối với bệnh nhân viêm phế quản cấp nội trú, tỷ lệ 73,2% từng dùng kháng sinh trước nhập viện là nguyên nhân chính khiến bác sĩ điều trị buộc phải khởi đầu bằng các phác đồ phối hợp hoặc sử dụng kháng sinh phổ rộng có chất ức chế men Beta-lactamase. Việc thời gian dùng kháng sinh kéo dài 7,7 ngày ở bệnh nhân cao tuổi có bệnh nền tăng huyết áp là phù hợp với diễn tiến lâm sàng thực tế, nhưng cần được theo dõi chức năng thận định kỳ để tránh nguy cơ độc tính tích lũy.

Đề xuất và khuyến nghị

Từ các bằng chứng thực nghiệm thu được, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ:

  1. Kiện toàn Ban Quản lý sử dụng kháng sinh và ban hành hướng dẫn điều trị nội viện: Ban Giám đốc bệnh viện phối hợp Hội đồng Thuốc và Điều trị cập nhật phác đồ kháng sinh chuẩn cho các bệnh nhiễm khuẩn phổ biến (viêm phế quản cấp, viêm mũi họng, nhiễm khuẩn tiết niệu). Mục tiêu giảm tỷ lệ kê đơn không phù hợp chỉ định của Cephalexin từ 10,5% xuống dưới 2,0% trong vòng 6 tháng đầu năm 2022.
  2. Nâng cao năng lực giám sát và can thiệp của Dược lâm sàng: Khoa Dược phân công dược sĩ lâm sàng tham gia rà soát 100% đơn thuốc ngoại trú có chỉ định kháng sinh trước khi cấp phát thuốc; kiên quyết từ chối hoặc phản hồi ngay với bác sĩ đối với 5,3% các trường hợp kê đơn thiếu chẩn đoán xác định. Lộ trình thực hiện thường quy định kỳ hàng tuần từ Quý I/2022.
  3. Thiết lập hệ thống cảnh báo kê đơn tự động trên phần mềm quản lý bệnh viện: Phòng Công nghệ thông tin phối hợp Khoa Dược tích hợp các quy tắc kiểm tra tự động trên phần mềm kê đơn, bắt buộc nhập chẩn đoán nhiễm khuẩn khi chọn kháng sinh và hiển thị cảnh báo tương tác thuốc, liều dùng theo độ thanh thải creatinin. Mục tiêu duy trì mức tiêu thụ kháng sinh nội trú ổn định dưới 30,0 DDD/100 ngày nằm viện trong giai đoạn 2022-2023.
  4. Triển khai đào tạo liên tục và giám sát vi sinh định kỳ: Phòng Kế hoạch tổng hợp và Bộ phận Vi sinh tổ chức các lớp tập huấn về kháng sinh định kỳ 2 lần/năm cho toàn bộ bác sĩ lâm sàng, nhấn mạnh tiêu chuẩn phân biệt viêm phế quản do virus và vi khuẩn. Phấn đấu tối ưu hóa liệu trình kháng sinh nội trú về mức khuyến cáo từ 5 đến 7 ngày, giảm thiểu tỷ lệ sử dụng kháng sinh bao vây không cần thiết.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phương pháp luận của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Dược sĩ lâm sàng và Cán bộ quản trị Khoa Dược: Cung cấp quy trình chi tiết để tính toán, chuẩn hóa dữ liệu tiêu thụ thuốc theo phương pháp DDD của Tổ chức Y tế Thế giới. Cán bộ dược có thể áp dụng ngay bộ mẫu phiếu thu thập dữ liệu nội trú và ngoại trú để thiết lập báo cáo giám sát sử dụng thuốc định kỳ hàng quý tại đơn vị.
  2. Bác sĩ điều trị lâm sàng tại các khoa Khám bệnh, Nội khoa, Tai Mũi Họng: Giúp bác sĩ nhận diện rõ bức tranh dịch tễ kê đơn, đặc biệt là nguy cơ thất bại điều trị ở 73,2% bệnh nhân viêm phế quản có tiền sử dùng thuốc trước đó. Bác sĩ có thêm cơ sở khoa học để lựa chọn đúng kháng sinh ưu tiên và kháng sinh thay thế theo đúng phân tầng nguy cơ của người bệnh.
  3. Ban Lãnh đạo bệnh viện và Nhà quản lý y tế: Cung cấp khung đánh giá thực tiễn 6 nhiệm vụ cốt lõi theo Quyết định 5631/QĐ-BYT. Lãnh đạo cơ sở y tế có thể sử dụng các chỉ số DDD để hoạch định chiến lược mua sắm, dự trù cơ số thuốc đấu thầu hàng năm sát với nhu cầu điều trị thực tế của bệnh viện hạng II.
  4. Học viên sau đại học và Nghiên cứu sinh chuyên ngành Dược lý - Dược lâm sàng: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu, kỹ thuật xử lý dữ liệu dược dịch tễ học trên Microsoft Excel và phương pháp xây dựng tiêu chuẩn đánh giá đơn thuốc theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao mức tiêu thụ kháng sinh nội trú năm 2020 lại tăng gấp 4,2 lần so với năm 2019?

Mức tiêu thụ nội trú tăng mạnh từ 12,7 lên 53,8 DDD/100 ngày nằm viện chủ yếu do sự thay đổi danh mục thuốc trúng thầu và mức gia tăng đột biến của nhóm Penicilin (từ 2,3 lên 42,3 DDD/100 ngày nằm viện). Trong đó, biệt dược Tenamox 500 chứa hoạt chất Amoxicilin mới được đưa vào sử dụng đã đạt mức tiêu thụ lên tới 39,1 DDD/100 ngày nằm viện.

2. Ý nghĩa thực tiễn của hai chỉ số DDD/100 ngày nằm viện và DDD/1000 đơn kê ngoại trú là gì?

Đây là hai đơn vị đo lường chuẩn hóa của Tổ chức Y tế Thế giới giúp định lượng chính xác lượng kháng sinh tiêu thụ mà không bị sai lệch bởi giá thuốc hay hàm lượng biệt dược. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức tiêu thụ ngoại trú đạt 57,6 DDD/1000 đơn kê, cao gấp 2,5 lần nội trú (22,8 DDD/100 ngày nằm viện), phản ánh áp lực dùng thuốc rất lớn ở phòng khám ban đầu.

3. Tỷ lệ kê đơn kháng sinh chưa phù hợp tại Khoa Khám bệnh được thể hiện qua các chỉ số nào?

Nghiên cứu ghi nhận 5,3% đơn thuốc có kê kháng sinh nhưng không ghi chẩn đoán nhiễm khuẩn (8/150 đơn). Đồng thời, khi đối chiếu với tờ hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất, hoạt chất Cephalexin có tỷ lệ chỉ định không phù hợp lên tới 10,5% và Amoxicilin là 5,3%, trong khi Cefixim và Moxifloxacin đạt độ phù hợp 100%.

4. Bệnh nhân viêm phế quản cấp điều trị nội trú có những đặc điểm lâm sàng nào đáng chú ý?

Trong 112 bệnh án nội trú, bệnh nhân có độ tuổi trung bình 57,4 tuổi, 40,2% mắc kèm tăng huyết áp và đặc biệt 73,2% đã dùng kháng sinh trước khi nhập viện. Thời gian dùng kháng sinh trung bình là 7,7 ± 2,3 ngày, kéo dài tương đương với toàn bộ thời gian nằm viện của bệnh nhân.

5. Văn bản pháp lý nào định hướng cho việc triển khai nghiên cứu này tại bệnh viện?

Nghiên cứu được định hướng trực tiếp bởi Quyết định số 5631/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 của Bộ Y tế về Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện. Luận văn đã bám sát 6 nhiệm vụ cốt lõi của hướng dẫn này để xây dựng tiêu chí khảo sát và đề xuất giải pháp can thiệp dược lâm sàng tại cơ sở.

Kết luận

  • Tiêu thụ kháng sinh tại Bệnh viện Xây dựng Việt Trì giai đoạn 2019-2020 tăng mạnh, đạt mức trung bình 22,8 DDD/100 ngày nằm viện ở khối nội trú và 57,6 DDD/1000 đơn kê ở khối ngoại trú, với nhóm Penicilin chiếm tỷ trọng lớn nhất.
  • Khảo sát 150 đơn thuốc ngoại trú năm 2021 ghi nhận 94,7% có chẩn đoán nhiễm khuẩn xác định, trong đó viêm phế quản cấp (31,0%) và viêm dạ dày tá tràng (19,7%) là hai bệnh lý được chỉ định kháng sinh nhiều nhất.
  • Hoạt chất Amoxicilin (38,0%) và Cefixim (33,3%) chiếm ưu thế trong kê đơn ngoại trú; tính phù hợp chỉ định theo nhà sản xuất đạt 100% ở Cefixim nhưng vẫn còn 10,5% không phù hợp ở Cephalexin.
  • Khảo sát 112 bệnh nhân viêm phế quản nội trú cho thấy thời gian sử dụng kháng sinh trung bình là 7,7 ngày trên nhóm người bệnh có tỷ lệ tiền sử sử dụng thuốc trước nhập viện lên tới 73,2%.
  • Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu thực chứng toàn diện, khẳng định vai trò cấp thiết của việc chuẩn hóa phác đồ điều trị và đẩy mạnh hoạt động can thiệp của Dược lâm sàng theo Quyết định 5631/QĐ-BYT.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa thành công thực trạng sử dụng kháng sinh tại một bệnh viện đa khoa hạng II ngành Xây dựng bằng các chỉ số chuẩn hóa quốc tế. Để duy trì hiệu quả bền vững, bệnh viện cần triển khai lộ trình kiểm toán kê đơn định kỳ hàng quý trong giai đoạn 2022-2025 và hoàn thiện hệ thống cảnh báo dược trên phần mềm quản lý. Các cán bộ y tế, bác sĩ và dược sĩ lâm sàng hãy cùng chung tay đẩy mạnh chương trình quản lý kháng sinh nội viện, tối ưu hóa an toàn điều trị và ngăn chặn hiệu quả nguy cơ xuất hiện các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc trong tương lai.