Chương 1 tập trung làm rõ khái niệm văn hóa, văn hóa doanh nghiệp và hướng tiếp cận nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp, khái niệm phim truyền hình và hướng tiếp cận nghiên cứu phim truyền hình. Sau đó, chúng tôi khái quát tọa độ văn hóa Hàn Quốc và những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp Hàn Quốc. Ngoài ra, ở chương này cũng trình bày tóm tắt quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp Hàn Quốc. Chúng tôi cũng giới thiệu tổng quan về phim truyền hình Hàn Quốc và các bộ phim thuộc đối tượng khảo sát.
Chương 2: Các thành tố văn hóa doanh nghiệp Hàn Quốc qua sự thể hiện của phim truyền hình Chương 2 tập trung phân tích từng chi tiết như lời thoại, tình huống, biểu tượng, nhân vật trong các bộ phim truyền hình thuộc đối tượng khảo sát để làm rõ ba thành tố văn hóa doanh nghiệp Hàn Quốc được thể hiện qua phim truyền hình bao gồm văn hóa nhận thức của doanh nghiệp, văn hóa tổ chức của doanh nghiệp và văn hóa ứng xử của doanh nghiệp. Chương 3: Các chiều kích giá trị văn hóa doanh nghiệp Hàn Quốc qua sự thể hiện của phim truyền hình Trên cơ sở các thành tố văn hóa doanh nghiệp đã được phân tích ở chương trước, tại Chương 3 chúng tôi sẽ tiến hành phân tích, tìm ra hệ thống các giá trị ẩn sâu của 14 văn hóa doanh nghiệp Hàn Quốc được thể hiện qua các bộ phim truyền hình thuộc đối tượng khảo sát bao gồm: chủ nghĩa cộng đồng; khoảng cách quyền lực lớn; nữ tính; tính chặt chẽ, chính thống; tính định hướng dài hạn; tính khắc kỷ. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Văn hóa doanh nghiệp và hướng tiếp cận 1.1 Khái niệm “văn hóa doanh nghiệp” Để dễ dàng tiếp cận khái niệm “Văn hóa doanh nghiệp”, trước hết cần tìm hiểu khái niệm “Văn hóa” và khái niệm “Doanh nghiệp”. Thứ nhất, về khái niệm “Văn hóa”, đây là một khái niệm phức tạp được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm.
Văn hóa được định nghĩa lần đầu tiên năm 1871 trong công trình Văn hóa nguyên thủy của E. Tylor: “Văn hóa hay văn minh là một chỉnh thể phức hợp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” (Tylor, 2001, tr. Định nghĩa này đã cho thấy văn hóa dường như bao trùm lên mọi mặt của cuộc sống, và chủ thể sáng tạo ra nó phải là con người. Tuy nhiên trong định nghĩa này ông đã đồng nhất hai khái niệm văn hóa và văn minh.
Tylor, hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa ra đời bởi các nhà nghiên cứu ở các góc độ, hướng tiếp cận khác nhau. Trong số các nhà nghiên cứu về văn hóa của Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm (2013) định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (tr. Định nghĩa này cung cấp những đặc trưng của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh. Ngoài ra, định nghĩa còn cung cấp hệ tọa độ ba chiều mà trong đó văn hóa tồn tại: “con người” là chủ thể văn hóa, “môi trường tự nhiên và xã hội” là không gian văn hóa, “quá trình hoạt động” là thời gian văn hóa (Trần Ngọc Thêm, 2013).
Văn hóa doanh nghiệp thuộc văn hóa tổ chức, ở đây chính là tổ chức doanh nghiệp, cũng có hệ tọa độ riêng của nó. 16 Thứ hai, về khái niệm “Doanh nghiệp”, Luật Doanh nghiệp (2020) định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (tr. Theo Luật Doanh nghiệp (2020), các loại hình doanh nghiệp bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân. Về khái niệm “Văn hóa doanh nghiệp” (Corporate culture), đây là thuật ngữ được các nhà xã hội học, các nhà quản lý, các doanh nhân quan tâm sử dụng từ những năm 1980.
Các khái niệm “Văn hóa doanh nghiệp” (Corporate culture) và “Văn hóa tổ chức” (Organizational Culture) thường được các nhà nghiên cứu xem như đồng nghĩa với nhau khi sử dụng cho bối cảnh công ty (Phan Thị Thu Hiền (chủ biên), 2019). Schein (2016) định nghĩa văn hóa doanh nghiệp: “Văn hóa của một tổ chức có thể được định nghĩa là sự học hỏi được chia sẻ và tích lũy của tổ chức đó khi giải quyết các vấn đề thích ứng bên ngoài và hội nhập bên trong, sự học hỏi đã vận hành đủ hiệu quả để được xem là có giá trị và do đó được dạy cho các thành viên mới như một cách đúng đắn để nhận thức, suy nghĩ, cảm nhận và hành xử liên quan đến những vấn đề đó. Ông cho rằng sự học hỏi được tích lũy này là một khuôn mẫu hoặc một hệ thống các niềm tin, giá trị và chuẩn mực hành vi. Chúng được xem là các giả định cơ bản (basic assumptions) chi phối, ảnh hưởng đến hành vi và suy nghĩ của các thành viên trong tổ chức.
Geert Hofstede (2010) định nghĩa văn hóa doanh nghiệp “là sự lập trình tâm thức có tính tập thể phân biệt những thành viên của nhóm người này/ loại người này với nhóm người khác/ loại người khác”5 (tr. Nhà nghiên cứu người Hàn Quốc Lee Hak-jong (2008) – một trong các nhà nghiên cứu tiêu biểu ở quốc gia này về văn hóa doanh nghiệp nói chung và văn hóa 5 Phan Thị Thu Hiền dịch 17 doanh nghiệp Hàn Quốc nói riêng cho rằng: “Văn hóa doanh nghiệp là một tổng thể vĩ mô của các giá trị, niềm tin, chuẩn mực, phong tục tập quán và các khuôn mẫu hành vi được chia sẻ bởi các thành viên trong công ty, tác động đến hành vi của các thành viên và hành vi toàn thể doanh nghiệp”6 (tr. Giống như các học giả phương Tây, các tác giả Hàn Quốc như Park Hong-yun (2015) và Kim Seong-jun (2019) cũng đều đồng nghĩa hai khái niệm “văn hóa tổ chức” (조직문화/ jojikmunhwa) và “văn hóa doanh nghiệp” (기업문화/ gieopmunhwa). Trong số các nhà nghiên cứu của Việt Nam, Dương Thị Liễu (2008) nhận định: “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ những nhân tố văn hóa được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó” (tr.
Trần Ngọc Thêm (2013) định nghĩa:“Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các giá trị của doanh nghiệp, được sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh trong mối quan hệ với môi trường xã hội và tự nhiên nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp thông qua việc đem lại lợi ích cho xã hội” (tr. Như vậy, từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các giá trị của doanh nghiệp được hình thành qua quá trình hoạt động của doanh nghiệp, được tích lũy và chia sẻ bởi các thành viên trong doanh nghiệp, chi phối đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của tất cả thành viên trong doanh nghiệp.2 Một số hướng tiếp cận nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp Chúng tôi nhận thấy có khá nhiều học giả nghiên cứu về cấu trúc, các loại hình văn hóa doanh nghiệp, nhưng trong giới hạn của luận văn chúng tôi sẽ khái quát một số quan điểm của các nhà nghiên cứu mà chúng tôi được tìm hiểu kĩ, và cũng là hướng tiếp cận được nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tiếp thu sử dụng. 6 Vũ Thị Ngọc Quỳnh dịch 18 Đầu tiên là hướng tiếp cận nghiên cứu cấu trúc các thành tố văn hóa doanh nghiệp có Edgar H. Schein với mô hình ba cấp độ văn hóa - mô hình được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam tiếp thu học hỏi.
Schein (2016), văn hóa doanh nghiệp bao gồm ba cấp độ: 1) Các tạo tác văn hóa (Artifacts): là những thứ có thể nhìn thấy và cảm nhận được như: kiến trúc, ngôn ngữ, công nghệ, sản phẩm, các thần thoại, câu chuyện về tổ chức, các nghi thức và nghi lễ của tổ chức,v. Những điều này đều rất dễ quan sát nhưng lại rất khó giải mã. 2) Những niềm tin và giá trị được tán thành (Espoused Beliefs and Values): thường được thể hiện trong các hệ tư tượng, các chiến lược, triết lý của doanh nghiệp. 3) Những giả định cơ bản làm nền tảng (Underlying Basic Assumptions): gồm những niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và cảm giác diễn ra trong vô thức, được cho là hiển nhiên.
Tiêu biểu trong các học giả Việt Nam, Trần Ngọc Thêm (2013) cũng đưa ra cấu trúc của văn hóa doanh nghiệp dựa trên 2 góc độ: góc độ động thái và góc độ tĩnh trạng. Từ góc độ động thái, văn hóa doanh nghiệp bao gồm ba thành tố: 1) Văn hóa chủ thể: tổ chức, truyền thống, triết lý của doanh nghiệp, v.v 2) Văn hóa hoạt động: đầu tư, sản xuất, Marketing, tư vấn, lưu thông, phân phối, bảo hành (xét theo công đoạn); sản xuất, thương mại và dịch vụ (xét theo nhóm loại); 3) Văn hóa sản phẩm: các giá trị liên quan đến sản phẩm của doanh nghiệp. Từ góc độ tĩnh trạng, văn hóa doanh nghiệp cũng có ba thành tố: 1) Văn hóa nhận thức của doanh nghiệp: bao gồm nhận thức khái quát (triết lý kinh doanh, đạo đức doanh nghiệp,v.) và nhận thức cảm tính (những quan niệm mang tính tín ngưỡng như huyền thoại, giai thoại, v.) 19 2) Văn hóa tổ chức của doanh nghiệp: bao gồm văn hóa tổ chức đời sống tập thể và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân. 3) Văn hóa ứng xử của doanh nghiệp: bao gồm văn hóa ứng xử với môi trường xã hội và văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên.
Bên cạnh đó là Geert Hofstede (2010) với hướng tiếp cận tìm hiểu các chiều kích văn hóa thể hiện các giá trị được nhấn mạnh, qua đó xác định loại hình văn hóa doanh nghiệp. Thông qua việc khảo sát hơn 160.000 nhân viên IBM tại hơn 50 quốc gia, Hofstede đã nhận diện được bốn chiều kích văn hóa (năm 1984) của quốc gia cũng như tổ chức. Sau đó ông đã bổ sung thêm hai chiều kích văn hóa (năm 2010). Đến nay, mô hình sáu chiều kích văn hóa của Geert Hofstede (2010) được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng và đánh giá cao.
Sáu chiều kích văn hóa của Hofstede gồm: 1) Khoảng cách quyền lực (Power Distance): chỉ mức độ mà các thành viên ít quyền lực của doanh nghiệp chấp nhận sự bất bình đẳng trong phân chia quyền lực.