Tổng quan nghiên cứu

Thành phố cảng Hải Phòng nằm ở vị trí trung tâm vùng Duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, sở hữu tổng diện tích tự nhiên 152.318,49 ha chiếm khoảng 0,45% diện tích cả nước cùng đường bờ biển trải dài trên 125 km. Nơi đây giữ vị thế cửa ngõ giao thương quốc tế huyết mạch và là không gian hội tụ của hơn 80 vạn cư dân sinh sống tại các vùng nông thôn, ven biển và hải đảo. Mặc dù sở hữu bề dày lịch sử hàng nghìn năm với nhiều di chỉ khảo cổ học nổi tiếng, việc nghiên cứu các giá trị văn học dân gian trong mối quan hệ hữu cơ với văn hóa biển tại Hải Phòng trước đây phần lớn chỉ dừng lại ở các công trình địa chí mang tính khái lược hoặc các bài viết sưu tầm, bảo tồn đơn lẻ.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống nhằm giải mã diện mạo văn học dân gian dưới góc nhìn văn hóa học và môi trường sinh thái biển. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học dân gian thực hiện năm 2010 đã giải quyết trực tiếp khoảng trống học thuật này. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là khảo sát, miêu tả và phân tích các hiện tượng văn hóa - văn học dân gian tiêu biểu bao gồm Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn, Lễ hội đền Nghè, nghệ thuật Hát Đúm Thủy Nguyên và Ca trù Đông Môn. Phạm vi nghiên cứu trải rộng từ thời kỳ tiền - sơ sử qua các thời đại phong kiến đến giai đoạn hiện đại trên toàn bộ không gian duyên hải Hải Phòng. Luận văn đóng góp hệ thống tư liệu khoa học vững chắc, cung cấp luận cứ bảo tồn văn hóa phi vật thể và mở ra định hướng ứng dụng thực tiễn cho ngành văn hóa du lịch địa phương, phục vụ cộng đồng hơn 1,8 triệu người dân đất Cảng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết folklore nguyên hợp do các nhà nghiên cứu dân gian học hàng đầu như Giáo sư Đinh Gia Khánh, Giáo sư Chu Xuân Diên và Giáo sư Hoàng Tiến Tựu phát triển, bắt nguồn từ thuật ngữ khoa học do nhà nghiên cứu W. Thoms đề xuất năm 1846. Tính nguyên hợp của văn hóa dân gian được xác định qua ba bình diện thẩm mỹ cấu thành: nghệ thuật ngữ văn dân gian (ngôn từ), nghệ thuật biểu diễn dân gian và nghệ thuật tạo hình dân gian. Trong đó, nghệ thuật ngôn từ vừa đóng vai trò thành tố thẩm mỹ trung tâm trong cấu trúc lễ hội, vừa sở hữu tính độc lập tương đối qua các thể loại truyền thuyết, ca dao và văn tế.

Bên cạnh đó, tác giả áp dụng lý thuyết loại hình học văn hóa sinh thái biển của Giáo sư Ngô Đức Thịnh để phân định không gian văn hóa biển Việt Nam thành hai vùng đặc trưng: vùng duyên hải từ Móng Cái đến Nghệ Tĩnh (văn hóa hỗn dung nông - ngư nghiệp gắn với biển nông vịnh Bắc Bộ) và vùng duyên hải từ Nghệ Tĩnh trở vào Nam (văn hóa thuần ngư nghiệp biển sâu). Hệ thống khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt gồm: văn hóa dân gian, tính nguyên hợp, sắc diện văn hóa biển và tín ngưỡng vạn chài.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình được tổng hợp từ hai kênh tư liệu chính thống: hệ thống văn bản cổ sử (Đại Việt sử ký toàn thư, Đồng Khánh địa dư chí lược, Đại Nam nhất thống chí, thần tích đền Nghè) và nguồn tư liệu điền dã thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát 4 không gian văn hóa trọng điểm đại diện cho toàn bộ địa bàn thành phố: Đồ Sơn, Thủy Nguyên, Cát Hải và Vĩnh Bảo. Tác giả đã khảo sát hơn 50 văn bản truyền thuyết, bài ca dao, bài vè đi biển cùng hệ thống văn tế cổ, đồng thời tiến hành phỏng vấn sâu hơn 30 nghệ nhân dân gian và các bậc cao niên tại 8 vạn chài truyền thống ở Đồ Sơn.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm lựa chọn những hiện tượng văn hóa tiêu biểu nhất mang đậm dấu ấn biển khơi. Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu liên ngành (kết hợp văn học dân gian, văn hóa học, dân tộc học và lịch sử) là bởi các hiện tượng folklore miền biển không thể bị tách rời khỏi không gian diễn xướng và điều kiện địa lý - xã hội bản địa. Quá trình xử lý văn bản, so sánh dị bản và khảo sát điền dã thực tế được thực hiện nghiêm túc trong dòng thời gian nghiên cứu liên tục từ năm 2008 đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu phát hiện sự giao thoa độc đáo đạt mức 100% giữa văn hóa nông nghiệp lúa nước và văn hóa khai thác thủy hải sản thông qua Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn (Lễ hội Đấu ngưu). Khác với nghi lễ nông nghiệp thuần túy, Chọi trâu Đồ Sơn là một lễ thức hiến sinh dâng cúng Thủy thần diễn ra vào ngày mùng 9 tháng 8 âm lịch hàng năm. Toàn bộ trâu tham gia thi đấu đều được suy tôn là "Ông trâu" và sau vòng chung kết đều được giết thịt tế thần, thể hiện ước vọng cầu cho biển lặng sóng êm, mưa thuận gió hòa và mùa cá bội thu.

Thứ hai, tác giả giải mã hệ thống tín ngưỡng của 8 vạn chài Đồ Sơn cổ (gồm Vạn Lễ, Vạn Bún, Vạn Ngang, Vạn Tác, Vạn Hoa, Vạn Hương, Vạn Thấu, Vạn Chài) gắn với việc phụng thờ Thần Điểm Tước (Thần vết chân chim sẻ) tại đền Nghè. Đây là vị Thượng đẳng thần, Thành hoàng chung của cả tổng Đồ Sơn bảo trợ cho người đi biển, phản ánh quan niệm vũ trụ sơ khai kết hợp giữa trâu nước và chim trời. Đồng thời, không gian này dung hợp tín ngưỡng thờ Bát bộ tôn thần, trong đó suy tôn thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân thế kỷ XVIII là Nguyễn Hữu Cầu (Quận He, giai đoạn 1740-1750) làm vị nhân thần thứ tám.

Thứ ba, luận văn làm sáng tỏ hệ thống truyền thuyết về Nữ tướng Lê Chân (thế kỷ I sau Công nguyên) – người có công khai hoang lấn biển dựng nên trang An Biên, tiền thân của Hải Phòng, được Hai Bà Trưng phong danh hiệu "Chưởng quản binh quyền kiêm Trấn thủ hải tần".

Thứ tư, nghiên cứu hệ thống hóa các thể loại dân ca vùng biển đặc sắc, tiêu biểu là nghệ thuật Hát Đúm Thủy Nguyên và Ca trù Đông Môn. Nghệ thuật diễn xướng Hát Đúm thu hút 100% nam thanh nữ tú trong các dịp hội xuân với lối hát đối đáp thông minh, sử dụng hệ thống tri thức dân gian phong phú về dự báo thời tiết, con nước và luồng cá.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên bản sắc văn hóa biển Hải Phòng bắt nguồn từ đặc điểm hải văn và địa mạo đáy biển. Với độ sâu ven bờ nông từ 2m quanh mũi Đồ Sơn đến 5m cách bờ và hạ thấp dần ra ngoài khơi khoảng 30-40m cùng 5 cửa sông lớn đổ ra biển, cư dân nơi đây không thể thuần túy sống bằng nghề đánh bắt ngoài khơi mà phải kết hợp chặt chẽ giữa canh tác đất bãi bồi và đánh bắt thủy sản ven bờ.

Khi so sánh với văn hóa biển miền Trung (nơi ngư dân chiếm tỷ lệ đánh bắt áp đảo và 100% các làng chài thờ cúng Cá Ông - Cá Voi), cư dân Hải Phòng không thờ Cá Voi mà lựa chọn thờ Thần Chim và hiến sinh trâu nước. Các dữ liệu nghiên cứu này hoàn toàn có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng so sánh đối chiếu đa biến giữa các vùng văn hóa duyên hải hoặc sơ đồ phân bố không gian di sản dọc 125 km bờ biển nhằm làm nổi bật tính lưỡng hợp nông - ngư nghiệp đặc thù. Nghiên cứu này khẳng định luận điểm: văn hóa biển Hải Phòng là sự kết tinh giữa tinh thần thượng võ, sự nhạy bén đón nhận cái mới và bản lĩnh kiên cường của những con người "ăn sóng nói gió".

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện số hóa 100% kho tàng văn học dân gian miền biển (bao gồm các dị bản truyền thuyết Điểm Tước, truyền thuyết Nữ tướng Lê Chân, truyện kể Quận He, hệ thống văn khấn và làn điệu Hát Đúm) thành cơ sở dữ liệu số đa phương tiện trong giai đoạn 2025-2027 do Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng chủ trì.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng tầm không gian diễn xướng thực cảnh của Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn và Hội Hát Đúm Thủy Nguyên gắn với phát triển du lịch di sản, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ du khách tiếp cận trải nghiệm văn hóa truyền thống lên trên 40% tổng lượng khách trong giai đoạn 2026-2028 dưới sự phối hợp của Sở Du lịch cùng Ủy ban nhân dân quận Đồ Sơn và huyện Thủy Nguyên.

Thứ ba, tích hợp học phần chuyên đề "Văn hóa biển và Folklore Hải Phòng" với thời lượng tối thiểu 30 tiết vào chương trình giảng dạy ngành Văn hóa - Du lịch tại 100% các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố từ năm 2025.

Thứ tư, thành lập Quỹ bảo tồn nghệ nhân dân gian miền biển do Hội Văn nghệ Dân gian Hải Phòng quản lý, triển khai chính sách đãi ngộ thường niên cho hơn 20 nghệ nhân ưu tú nắm giữ nghệ thuật Hát Đúm và Ca trù, cam kết đào tạo truyền nghề cho ít nhất 200 học viên trẻ mỗi năm trong lộ trình 2026-2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Văn hóa học, Văn học dân gian, Việt Nam học. Khai thác khung lý thuyết nguyên hợp và hơn 50 tư liệu truyền thuyết, ca dao miền biển để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu so sánh liên vùng.

Nhóm 2: Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương, dân tộc học và nhân học văn hóa. Sử dụng các cứ liệu khảo sát về 8 vạn chài cổ và hệ thống thần tích đền Nghè nhằm giải mã mô hình tổ chức xã hội và đời sống tâm linh của cư dân duyên hải Bắc Bộ.

Nhóm 3: Cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách thuộc ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng. Ứng dụng các đề xuất bảo tồn lễ hội truyền thống để xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể và phát triển kinh tế biển bền vững.

Nhóm 4: Chuyên gia thiết kế tour du lịch văn hóa, biên kịch và đạo diễn sự kiện lễ hội. Khai thác chất liệu huyền tích bi tráng về Bà Đế, Nguyễn Hữu Cầu, Nữ tướng Lê Chân để xây dựng các kịch bản trình diễn nghệ thuật thực cảnh đặc sắc.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn lại chọn ngày mùng 9 tháng 8 âm lịch để tổ chức thi đấu chung kết? Theo tập quán sản xuất truyền thống được xác lập từ thế kỷ XI, đầu tháng 8 âm lịch là thời điểm nông nhàn sau khi hoàn tất cấy lúa vụ mùa, đồng thời ngư dân vừa kết thúc vụ cá Nam để chuẩn bị chuyển sang vụ cá Bắc. Thời điểm nước kém này giúp toàn bộ cư dân 8 vạn chài có thể tạm gác việc đồng áng, thuyền bè để tề tựu trẩy hội.

Điểm khác biệt cốt lõi giữa tín ngưỡng biển Hải Phòng và tín ngưỡng duyên hải miền Trung là gì? Cư dân miền Trung thuần ngự trị vùng biển sâu nên 100% các vạn chài tôn thờ tục thờ Cá Ông (Cá Voi) cứu nạn. Ngược lại, cư dân Hải Phòng sinh sống tại vùng biển nông kết hợp nông nghiệp, thể hiện sự hỗn dung văn hóa qua việc thờ Thủy thần Điểm Tước hình tượng chim sẻ và thực hành nghi lễ chọi trâu, hiến sinh trâu độc nhất vô nhị.

Nữ tướng Lê Chân có vị trí như thế nào trong cấu trúc văn hóa dân gian miền biển Hải Phòng? Sinh vào những năm 20 đầu Công nguyên, Nữ tướng Lê Chân là người có công khai phá vùng duyên hải lập nên làng An Biên cổ. Trong tâm thức dân gian và hệ thống thần tích đền Nghè, bà được tôn vinh là Thánh Mẫu, vị Thành hoàng lập làng và là biểu tượng tinh thần quật khởi của cư dân nơi đầu sóng ngọn gió.

Nghệ thuật diễn xướng Hát Đúm Thủy Nguyên có nét độc đáo nào về không gian và hình thức biểu diễn? Hát Đúm diễn ra chủ yếu vào dịp hội xuân từ mùng 1 đến mùng 10 tháng Giêng tại các sân đình, bến nước. Nét đặc trưng độc đáo nhất là phong tục các cô gái bịt kín mặt bằng khăn vuông mỏ quạ khi đối đáp và chỉ mở khăn khi tìm được bạn hát tâm đầu ý hợp qua những câu ca thử tài mưu trí.

Luận văn sử dụng những văn bản lịch sử chính thống nào để đối chiếu với nguồn văn học truyền miệng? Tác giả đã tiến hành đối chiếu nghiêm ngặt giữa truyện kể dân gian với các bộ chính sử danh tiếng như Đại Việt sử ký toàn thư, Đồng Khánh địa dư chí lược, Đại Nam nhất thống chí cùng văn bia đền Nghè khởi dựng từ năm Tự Đức thứ 28 (năm 1875) nhằm đảm bảo tính xác thực khoa học cao nhất.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện diện mạo văn hóa biển Hải Phòng với đường bờ biển 125 km và bề dày lịch sử hàng nghìn năm.
  • Xác lập cơ sở lý luận vững chắc về tính nguyên hợp của folklore, chứng minh nghệ thuật ngôn từ là hạt nhân thẩm mỹ của lễ hội truyền thống.
  • Làm sáng tỏ cấu trúc tín ngưỡng độc đáo của 8 vạn chài cổ Đồ Sơn gắn với tục hiến sinh trâu và thờ phụng Thần Điểm Tước.
  • Phục dựng bức tranh sinh hoạt văn hóa dân ca phong phú qua nghệ thuật Hát Đúm Thủy Nguyên và Ca trù Đông Môn.
  • Đề xuất lộ trình giải pháp khả thi 4 bước giai đoạn 2025-2030 nhằm số hóa di sản và phát triển du lịch bền vững.

Công trình là tài liệu tham khảo khoa học giá trị cho các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên chuyên ngành khoa học xã hội. Hãy khai thác ngay nguồn tư liệu quý báu từ luận văn này để làm phong phú thêm các đề tài nghiên cứu văn hóa và dự án phát triển di sản địa phương.