phần mở đầu, phần kết luận, thƣ mục tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính của luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng. Diện mạo thành phố biển Hải Phòng Chƣơng 2. Các lễ hội tiêu biểu của Hải Phòng Chƣơng 3. Dân ca vùng biển Hải Phòng Nguyễn ThịLUONG LUAN VAN CHAT Hà Anh – Cao học Văn K51: add luanvanchat@agmail.com download 8 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 DIỆN MẠO THÀNH PHỐ BIỂN HẢI PHÒNG 1.
Vị trí địa lí: Hải Phòng là một thành phố ven biển , nằm phí a Đông mi ền Duyên hải Bắc bộ. Nơi đây cách thủ đô Hà Nội 102km, có tổng diện tích tự nhiên là 152.318,49 ha (số liệu thống kê năm 2001) chiếm 0,45% diện tí ch tƣ̣ nhiên cả nƣớc. Về ranh giới hành chí nh : Phía bắc giáp tỉnh Quả ng Ninh Phía nam giáp tỉnh Thái Bình Phía tây giáp tỉnh Hải Dƣơng Phía đông giáp biển Đông Thành phố có tọa độ địa lí : Từ 20030'39' - 21001'15' Vĩ độ Bắc. Từ 106023'39' - 107008'39' Kinh độ Đông.
Ngoài ra còn có huyện đảo Bạch Long Vĩ nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, có toạ độ từ 20007'35' - 20008'36' Vĩ độ Bắc và từ 107042'20' - 107044'15' Kinh độ Đông. Hải Phòng nằm ở vị trí giao lƣu thuận lợi với các tỉnh trong nƣớc và quốc tế thông qua hệ thống giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng biển, đƣờng sông và đƣờng hàng không. Đị a hì nh Hải Phòng thay đổi rất đa dạng phản ánh một quá trì nh lị ch sƣ̉ đị a chất lâu dài và phƣ́c tạp. Phía bắc Hải Phòng có dáng dấp của một vùng trung du với nhƣ̃ng đồng bằ ng xen đồi.
Trong khi đó phí a nam thành phố lại Nguyễn ThịLUONG LUAN VAN CHAT Hà Anh – Cao học Văn K51: add luanvanchat@agmail.com download 9 có địa hình thấp và khá bằng phẳng của một vùng đồng bằng thuần túy nghiêng ra biển. Vùng biển Hải Phòng là một bộ phận thuộc tây bắc vịnh Bắc bộ. Các đặc điểm cấu trú c đị a hì nh đáy biển và đặc điểm hải văn biển Hải Phòng gắn liền với nhƣ̃ng đặc điểm chung của vị nh Bắc bộ và biển Đông. Độ sâu của biển Hải Phòng không lớn.
Đƣờng đẳng sâu 2m chạy quanh mũi Đồ Sơn rồi hạ xuống 5m ở cách bờ khá xa. Ở đáy biển nơi có các cửa sông đổ ra, do sƣ́c xâm thƣ̣c của dòng chảy nên độ sâu lớn hơn. Ra xa ngoài khơi , đáy biển hạ thấp dần theo độ sâu của vị nh Bắc bộ , chƣ̀ng 30 - 40m. Mặt đáy biển Hải Phòng đƣợc cấu tạo bằng thành phần mị n , có nhiều lạch sâu vốn là nhƣ̃ng lòng sông cũ nay dùng làm luồng lạch ra vào hàng ngày của tàu biển.
Hải Phòng có bờ biển dài trên 125km kể cả bờ biển chung quanh các đảo khơi. Bờ biển có hƣớng một đƣờng cong lõm của bờ vị nh Bắc bộ , thấp và khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do năm cƣ̉a sông chí nh đổ ra. Trên đoạn chính giữa bờ biển , mũi Đồ Sơn nhô ra nhƣ một bán đảo , đây là điểm mút của dải đồi núi chạy ra tƣ̀ trong đất liền, có cấu tạo đá cát kết (sa thạch) tuổi Đevon, đỉ nh c ao nhất đạt 125m, độ dài nhô ra biển 5km theo hƣớng tây bắc – đông nam. Ƣu thế về cấu trúc tƣ̣ nhiên này đã tạo cho Đồ Sơn có một vị trí chiến lƣợc quan trọng trên mặt biển ; đồng thời cũng là một thắng cảnh nổi tiếng.
Dƣới chân nhƣ̃ng đồi đá cát kết có bãi tắm , có nơi nghỉ mát nên thơ và khu an dƣỡng có giá trị. Ngoài khơi thuộc địa phận Hải Phòng có nhiều đảo rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có đảo Cát Bà, xa nhất là đảo Bạch Long Vĩ. Biển, bờ biển và hải đảo đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên đặc sắc của thành ph ố Duyên H ải. Đây cũng là một thế mạnh tiềm năng của nền kinh t ế đị a phƣơng.
Lịch sử, con ngƣời Hải Phòng : Nguyễn ThịLUONG LUAN VAN CHAT Hà Anh – Cao học Văn K51: add luanvanchat@agmail.com download 10 Hải Phòng là một vùng đất nhanh nhạy , đi đầu trong nhiều việc và giàu truyền thống đấu tranh. Kể tƣ̀ nhƣ̃ng ngày nƣ̃ tƣớng Lê Chân chiêu mộ dân lành lập làng Vẻn. Bà là ngƣời đã khai phá đầu tiên một vùng nơi đầu sóng ngọn gió. Tiếp theo đó , phải kể đến những chiến công của Bạch Đằng lịch sử lƣ̀ng lẫy non sông.
Hai lần đế quốc Pháp xâm lƣợc nhƣng Hải Phòng vẫn đi đầu cả nƣớc tƣ̀ chống pháo th uyền trên đất bắc đến mở đầu tác chiến trong thành phố. Trong kì m kẹp của hậu đị ch sâu , cả nội ngoại thành đã vùng lên giành chiến thắng để cuối cùng có “Biển lửa Cát Bi” phối hợp tuyệt đẹp với toàn quốc làm nên chiế n thắng Điện Biên Phủ chấn động đị a cầu. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cƣ́u nƣớc , Hải Phòng đã đánh trả quyết liệt và lập bến mở “Đƣờng Hồ Chí Minh trên biển”. Cùng với thủ đô Hà Nội và một số các tỉ nh khác , Hải Phòng vừa phòng ngự vừa tiến công đập tan chiến dị ch tập kí ch đƣờng không lập nên chiến thắng Điện Biên Phủ trên không.
Bên cạnh đó , các cuộc đấu tranh xã hội khác cũng khá nhiều. Đặc biệt là cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân chống lại triều đì nh phong kiến nhƣ cuộc khởi nghĩ a của Quận He Nguyễn Hƣ̃u Cầu (1740 - 1750) lập căn cƣ́ Đồ Sơn quyết chiến cùng quan quân. Có lúc , cuộc khởi nghĩ a mở rộng ra cả miền Đông, làm rung động kinh thành Thăng Lo ng thời vua Lê , chúa Trịnh. Nhƣ vậy, truyền thống đấu tranh ch ống giặc ngoại xâm bảo vệ T ổ quốc, ngƣời Hải Phòng đã góp phần xứng đáng , có mặt trên tuyến đầu của tất cả các thời điểm nóng bỏng của lị ch sƣ̉.
Nhiều đì nh chùa, đền miếu thờ các tiên công, các danh tƣớng, danh thần…ở khắp nơi trong thành phố. Đến thời cận hiện đại , dƣới sƣ̣ lãnh đạo của Đảng , vai trò đóng góp của ngƣời Hải Phòng càng nổi bật trong nhƣ̃ng cuộc chiến chống kẻ thù xâm lƣợc , xƣ́ng đáng là một thành phố “Trung dũng – quyết thắng”. Càng tự hào với truyền thống ta càng yêu quý mảnh đất đã cống hiến nhiều công sƣ́c làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam anh hùng. Nguyễn ThịLUONG LUAN VAN CHAT Hà Anh – Cao học Văn K51: add luanvanchat@agmail.com download 11 Trong đấu tranh giai cấp , đấu tranh dân tộc của thời kì cận hiện đại , giai cấp công nhân Hải Phòng đƣợc hì nh thành sớm , Đảng bộ cộng sản thành lập năm 1929.
Nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt nổ ra liên tiếp chống chế độ thƣ̣c dân phát triển mạnh cả về số lƣợng và chất lƣợng. Qua nhƣ̃ng phong trào này, rất nhiều cán bộ của trung ƣơng và đị a phƣơng đã đƣợc đào tạo , rèn luyện có xuất thân tƣ̀ lao động và công nhân. Hòa bình lập lại, đặc biệt là sau ngày 13-5-1955, Hải Phòng đã nhanh chóng xây dựng chủ nghĩa xã hội , phát triển kinh tế. Làm kinh tế bƣớc đầu , “Sóng Duyên Hải” dâng cao trên trận đị a công nghiệp , tổ đá nhỏ ca A - nhà máy xi măng xây dựng tổ lao động xã hội chủ ng hĩa.
Đầu những năm 80, khi quản lí nông nghiệp còn nhiều lúng túng , nông nghiệp Hải Phòng lại là một nơi đi đầu trong việc tháo gỡ khó khăn. Do vậy , nông nghiệp Hải Phòng đã tiến lên một bƣớc mới đáng k ể. Nhƣ vậy , Hải Phò ng là một thành phố nhanh nhạy với cái mới , giàu truyền thống đấu tran h, “Trung dũng, quyết thắng”. Vị trí địa lí của vùng đất đã tạo cho Hải Phòng trở thành một đầu mối giao thông quan trọng , một trung tâm công nghiệp , thƣơng mại và là một Cảng biển có tiếng tăm ở Viễn Đông.
Bên cạnh lị ch sƣ̉ vẻ vang , hào hùng đó , con ngƣời đóng vai trò rất quan trọng. “Bản chất con ngƣời là tổ ng hòa các mối quan hệ xã hội’, tƣ̀ vị trí con ngƣời làm nên lịch sử và là tr ung tâm của lị ch sƣ̉ , chúng ta thử xem xét nhiều khía cạnh con ngƣời Hải Phòng , thành viên của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Con ngƣời Hải Phòng có nhƣ̃ng đặc tí nh chung của con ngƣời Việt Nam, do tác động củ a thiên nhiên và hoàn cảnh kinh tế - xã hội cụ thể của một vùng nên có nhƣ̃ng nét riêng. Cái chung và cái riêng đó thống nhất một cách biện chƣ́ng với nhau.
Nguyễn ThịLUONG LUAN VAN CHAT Hà Anh – Cao học Văn K51: add luanvanchat@agmail.com download 12 Nói đến con ngƣời , ngƣời ta thấy con ngƣời nằm trong ba tiềm năng về đất đai, ngành nghề và lao đ ộng. Lao động ở Hải Phòng l à lao động có trí tuệ , có khoa học, có kĩ thuật và rất quý giá. Lƣ̣c lƣợng lao động xa xƣa ở đất này phổ biến là trồng trọt , chăn nuôi và săn bắt. Sau hàng trăm nă m rèn luyện trong nền kinh tế khá tổng hợp , nhiều mặt chuyên dùng , ba dạng lao động trên vẫn là nhƣ̃ng lƣ̣c lƣợng chủ yếu của thành phố Cảng.
Hải Phòng có 80 vạn dân sống ở nông thôn. Đây là lực lƣợng lao động khá hùng hậu. Cùng với khoa học kĩ thuật trong nông nghiệp , con ngƣời bớt lam lũ hơn, đấu tranh với thiên nhiên miền biển có hiệu quả hơn , đóng góp nhiều mặt cho xã hội. Bên cạnh đó lao động trí óc , đại học, trên đại học có trên một vạn ngƣời so với số lƣợng cũ thời Pháp thuộc.
Lƣ̣c lƣợng lao động thủ công nghiệp đƣợc phát triển nhảy vọt làm đủ các mặt hàng cơ khí tiêu dùng , xuất khẩu phục vụ nông nghiệp. Sƣ́c mạnh tổng hợp của lƣ̣c lƣợng lao động t hể hiện rõ đã dùng trí tuệ , tài năng , kĩ thuật, truyền thống tay nghề giải quyết đƣợc nhiều khó khăn. Vậy mà có lúc tƣởng chừng không thể khắc phục nổi trong cải tạo , xây dƣ̣ng, chống thiên tai , đối phó với chiến tranh , khôi phục kinh tế sau chiến tranh, trong tiếp thu k ĩ thuật mới của thời đại. Khi nói đến con ngƣời Hải Phòng , trƣớc hết phải nói tới đức tính d ũng cảm, có dũng mà lại thông minh , đa mƣu sáng tạo .