CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE CHUNG 1.1 Khái niệm văn hóa và mối quan hệ của văn hóa và văn học 1.1 Khái niệm văn hóa Về khái niệm văn hóa, Unesco định nghĩa như sau: Van hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh than và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tinh cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lỗi sông, những quyên cơ bản của con người, những hệ thong các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn héa dem lại cho con người kha năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vat đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phan và dẫn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa ma con người tự thể hiện, tự ý thức được ban than, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của ban than, tim toi không biết mệt những ý nghĩa mới mé và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân.
(Trần Quốc Vượng, 2012, tr.23) Như vậy, có thé thay văn hóa bao gồm tất cá những giá trị vật chất và tinh than do con người sáng tạo ra, văn hóa chính là một hệ thống thẻ hiện một cách tông thê những giá trị đó. Có khá nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra định nghĩa về văn hóa. nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong quyền Cơ sở văn hóa Việt Nam đã đưa ra bốn đặc trưng của văn hóa và đúc kết lại khái niệm văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh thân do con người sáng tạo và tích lity qua quả trình hoạt động thực tiền, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (Tran Ngọc Thêm, 2000, tr. Còn đối với nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong quyên Bản sắc văn hóa Việt Nam thì ông đã đưa ra một thao tác luận dé từ đó định nghĩa vé văn hóa.
Theo đó, con người có một kiêu lao động đó là tư duy một mô hình trong óc, nghiên cứu sản phẩm ở ngoài cái mô hình trong óc đó là việc của khoa học, công nghệ: nghiên 1S cứu mô hình lúc còn trong óc của họ là việc cua văn hoc, nghệ thuật còn nghiên cứu moi quan hệ giữa mô hình trong óc và cái sản phâm con người làm ra thì đó chính là văn hóa học. Như vậy, từ lập luận trên, tac giả quan niệm: Vin hóa là moi quan hệ giữa thé giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay ˆ ^ xẻ. 5 Ũ ˆ ` ˆ một tộc người với cai the giới thực tại it nhiêu đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tấn tại trong biểu tượng. Điều biéu hiện rõ nhất chứng tỏ moi quan hệ này, đó là văn hóa đưới hình thức dé thay nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay các tộc người khác.
(Phan Ngoc, 2002, tr. 19-20) Đối với nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng trong quyền Cơ sở văn hóa Việt Nam, sau khi bàn luận về một số định nghĩa, quan điểm vẻ văn hóa của các nhà nghiên cứu khác thì ông tạm quy về hai cách hiểu: “Van hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lỗi suy nghĩ, lối ứng xư. Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn hoc, văn nghệ, học vấn. và tùy theo từng trường hợp cụ thê mà có những định nghĩa khác nhau ” (Trần Quốc Vượng, 2012, tr.
Nhìn chung, khi đưa ra định nghĩa về văn hóa, các nhà nghiên cứu đều có lập luận riêng của mình và đều đi đến khang định chung rằng văn hóa gắn với con người và con người vừa là chủ thé và vừa là khách thê của văn hóa. Ở phạm vi khóa luận này, chúng tôi chọn quan điềm về văn hóa của Unesco và nhà nghiên cứu Tran Ngọc Thêm dé làm cơ sở lí luận. Theo chúng tôi thay, ở định nghĩa của nhà nghiên cứu Phan Ngọc, khái niệm văn hóa được giới hạn bởi một kiểu lựa chọn của một cá nhân hay tộc người và nó chỉ đừng ở đó, trong khi trong văn hóa có sự sáng tạo của con người, một biểu hiện nào đó của văn hóa nó cũng mang một giá trị tinh thần nào đó. Ví dụ như triết lí về đôi đũa chăng hạn, ngoài việc nó là kiêu lựa chọn trong cách ăn uống của người Việt Nam ta thì nó còn mang một ý nghĩ biêu tượng về sự đoàn kết.
Đối với định nghĩa của nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng thì nó lại chung chung, không có sự khái quát mà là xét theo ty từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau. 16 Chúng tôi cho rang định nghĩa của Unesco và nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm là hai định nghĩa đầy đủ và rành mạch. Từ định nghĩa về văn hóa của Unesco và nhà nghiên cứu Tran Ngọc Thêm, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa văn hóa như sau: Văn hóa, hiểu theo nghĩa khái quát nhất thì đó là một hệ thông hiru cơ các giá trị vật chất và tinh than do con người sang tạo va tích lũy qua qua trình hoạt động thực tiễn. Tôn tại song song với quá trình tích lũy các giá trị đó chính là sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên; môi trường xã hội va với chính bản thân minh.2 Mối quan hệ của văn hóa và văn học Văn hóa là một hệ thông các giá trị vật chất và tinh than do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiên.
Văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật là một phần của văn hóa. Nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương trong quyền Lý luận văn học (nhập môn) đã định nghĩa về van học trên cơ sở so sánh với những loại hình nghệ thuật khác như sau: Voi tư cách là một loại hình nghệ thuật. cùng với âm nhạc, hội họa, điêu khắc. sân khẩu, điện ảnh, mia,.
Van học là một hoạt động sảng tạo tỉnh than của con người theo quy luật của cai đẹp. Khác với các loại hình do, văn học sứ dụng ngôn từ vừa nhĩ chất liệu, vừa như đổi tượng thẩm mỹ, vì chỉ có văn học mới thực hiện sự miêu tả ngôn ngữ bằng chỉnh ngôn ngữ. (Huỳnh Nhu Phương, 2014, tr.12) Khác với ngôn ngữ sử dung hang ngày - ngôn ngữ phi nghệ thuật, ngôn ngữ trong văn học là ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ mang tính hình tượng. Vậy mối quan hệ giữa văn học và văn hóa là gì khi một bên là những giá trị vật chất và tinh than được đúc rút từ thực tiễn còn một bên là sản phẩm của ngôn từ nghệ thuật? Thứ nhất, có thể thấy rằng nhà văn dù ít, dù nhiều vẫn sẽ bị ảnh hưởng bởi những tình hình kinh tế, văn hóa, chính trị của thời đại mình.
Nhà văn cũng là một sản phẩm của nên văn hóa, mang một thân phận xã hội và sông trong một bi cảnh thời đại nhất định. Nhà văn — đồng thời là chủ thẻ và khách thé của văn hóa 17 sẽ có những kiểu lựa chọn những giá trị văn hóa dé phan ánh vào tác pham của mình. Vậy những gì nhà văn sáng tạo ra đều phảng phất một nét văn hóa của xã hội đó, nói như nha nghiên cứu Huỳnh Như Phương trong quyền Lý luận văn học (nhập môn): “Nha văn có thể chịu ảnh hương hoặc kháng cự lại những tình thé đó, nhưng không thé vô can với nó.” (Huỳnh Như Phương, 2014, tr. Truyện Kiều của Nguyễn Du được sáng tác dựa trên tiểu thuyết của Trung Hoa nhưng khi tiếp cận đến tác phẩm thì ta lại bắt gặp những nét văn hóa của nền nông nghiệp lúa nước, nét ứng xử đậm tình nghĩa hay lỗi tư duy của con người Việt Nam.
Là người con của làng quê Nghĩa Đô nhưng sau những chuyền đi về miễn nui, nhà văn Tô Hoài đã có những tác phẩm phản ánh những phong tục, cuộc sông sinh hoạt của con người vùng cao như Miền Tây và Truyện Tây Bắc. Những giá trị văn hóa của thời đại sẽ là nguồn mach sang tạo văn chương cho nhà văn, nó sẽ là nguyên liệu chất lượng dé nhà văn nhào nặn nên đứa con tinh thần của mình. Thứ hai, văn học ở một mặt nào đó, sẽ là kho tàng ân chứa văn hóa dân tộc, làm nên diện mạo văn hóa. Mỗi tác phẩm văn học đều mang trong nó ít nhiều tính văn hóa của dân tộc: “Không có tác phẩm văn chương nào mà lại không mang trong nó chỉ it một đặc trưng văn hóa cua dan tộc mình hoặc qua cách nói, cách diễn đạt hoặc qua cách xây dựng, cách khái quát hình tượng,.” (Lê Nguyên Cần, 2014, tr.
Bằng nghệ thuật ngôn từ, nhà văn đã thê hiện nên văn hóa của dân tộc qua một loạt những phong tục truyền thống, cách ứng xử của con người, ngôn ngữ trong giao tiếp và đồng thời họ cũng đưa thái độ phê phán những hủ tục lạc hau, những giá trị văn hóa đã lỗi thời, bóp nghẹt sức sóng của con người. Văn học là sản pham hiện thân và là sự kết tỉnh của những giá tri văn hóa nhân loại, nơi lưu giữ những thành quả của quá trình tích lũy những giá trị tinh than và vật chat. Văn học và văn hóa có sự tác động qua lại với nhau, đây là một mối quan hệ hữu cơ không thé tách rời, văn hóa là nên tảng tinh than của tác phầm van học còn tác phẩm văn học có giá trị lại tự mình trở thành yếu tố của văn hóa.2 Bối cảnh lich sử, xã hội va văn học Việt Nam trước năm 1945 Năm 1858, Pháp nỗ súng tan công Da Nẵng và phong trào chống Pháp va chống triều đình nhà Nguyễn của nhân dan ta nỗ ra mạnh mẽ. Năm 1896, sau cái chết của Phan Đình Phùng, phong trào Cần Vương đã chấm dứt.
Thực dân Pháp đã dan an tâm trước tình thé của đất nước ta bay giờ và chúng dan dân thiết lập sự cai trị cũng như là khai thác thuộc địa dé bóc lột, vơ vét tai nguyên phục vụ cho chính quốc. Nước ta bị kéo vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản nhưng không được công nghiệp hóa mà bị biến thành thị trường tiêu thu, cung cấp nguyên liệu cho Pháp và trên cơ sở đó chế độ thực đân nửa phong kiến được hình thành. Sự phát trién buôn bán đã làm xuất hiện nhiều thành thị và tang lớp xã hội mới.