Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài khóa luận "Văn hóa ẩm thực bình dân Hải Phòng - khả năng khai thác và phát triển du lịch" do sinh viên Trần Thị Bính (lớp VHL101) thực hiện, xuất phát từ bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển, giao lưu văn hóa ngày càng sâu rộng, trong đó văn hóa ẩm thực được nhìn nhận như một thành tố cốt lõi phản ánh bản sắc dân tộc và lối sống địa phương. Hải Phòng sở hữu nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn dồi dào, song hoạt động khai thác du lịch ẩm thực của thành phố thời điểm nghiên cứu phần lớn mới dừng lại ở các món hải sản cao cấp tại các trung tâm nghỉ dưỡng như Đồ Sơn, Cát Bà. Mảng ẩm thực bình dân đường phố (văn hóa "quà") – vốn chứa đựng nhiều nét độc đáo về đời sống, tập quán và tính cách con người miền biển – vẫn chưa được quy hoạch và khai thác tương xứng.
Tác giả xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm:
- Tìm hiểu, hệ thống hóa các món quà bình dân đặc sắc trong kho tàng văn hóa ẩm thực Hải Phòng.
- Xây dựng cuốn sổ tay địa chỉ du lịch ẩm thực bình dân quen thuộc, uy tín nhằm hỗ trợ du khách tiếp cận và trải nghiệm thực tế.
- Quảng bá các giá trị văn hóa, phong tục tập quán và thói quen sinh hoạt của cư dân xứ Cảng thông qua các món ăn thường nhật.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa ẩm thực dân dã, đồng thời gắn kết có hiệu quả với hoạt động phát triển du lịch của thành phố.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là văn hóa "quà" bình dân tại Hải Phòng. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian đô thị thành phố Hải Phòng và các vùng phụ cận liên quan đến nguồn gốc nguyên liệu đặc thù (như Cát Hải, Cát Bà, Kiến Thụy, Dư Hàng Kênh).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các quan niệm văn hóa học và ẩm thực học:
- Khung lý thuyết và khái niệm: Tác giả vận dụng quan điểm của GS. Trần Quốc Vượng về mối liên hệ giữa ẩm thực và lối sống vùng miền ("cách ăn uống là cách sống, là bản sắc văn hóa"); tham chiếu công trình lý luận Phân tích khẩu vị (xuất bản năm 1825 tại Paris) của Anthelme Brillat-Savarin về nghệ thuật ẩm thực và bản sắc dân tộc. Tác giả sử dụng định nghĩa từ Từ điển tiếng Việt và các chuyên luận văn hóa để làm rõ khái niệm "quà" (món ăn phụ ngoài hai bữa chính, mang tính ăn chơi, thưởng thức) và "văn hóa quà" trong cấu trúc tổng thể của văn hóa ẩm thực.
- Tổng quan lịch sử nghiên cứu: Khóa luận điểm qua các tác phẩm văn học - khảo cứu ẩm thực kinh điển như Hà Nội 36 phố phường (Thạch Lam), Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam (Vũ Bằng), Đặc sản 3 miền (Băng Sơn), Ăn chơi xứ Huế (Ngô Minh) để chỉ ra rằng các tài liệu trước đây chủ yếu nghiên cứu ẩm thực đầu thế kỷ XX tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn, trong khi mảng văn hóa quà Hải Phòng đương đại chưa có công trình chuyên luận độc lập nào khảo cứu chuyên sâu.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Tập hợp, phân tích, chọn lọc các tư liệu thành văn, số liệu liên quan đến văn hóa ẩm thực và hoạt động du lịch.
- Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa trực tiếp tại các hàng quán, khu chợ truyền thống ở Hải Phòng; thu thập thông tin quy trình chế biến, giá thành, không gian phục vụ; đồng thời đối chiếu, so sánh các nét tương đồng và dị biệt giữa quà bình dân Hải Phòng với quà vùng đồng bằng Bắc Bộ (đặc biệt là Hà Nội).
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập qua quan sát thực tế tại các cơ sở kinh doanh ăn uống ở Hải Phòng; dữ liệu thứ cấp trích dẫn từ các công trình nghiên cứu văn hóa, từ điển học và ấn phẩm du lịch.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về văn hóa ẩm thực và văn hóa quà Hải Phòng
Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về văn hóa ẩm thực, định vị diện mạo văn hóa quà Hải Phòng trên nền tảng điều kiện tự nhiên và lịch sử - xã hội:
- Đặc điểm hình thành: Hải Phòng là vùng đất cửa biển mang tính chất "vùng đệm" trung gian giữa biển, sông, đầm, đồng bằng và đồi núi. Yếu tố địa sinh thái này quy định cơ cấu bữa ăn của cư dân thiên mạnh về thủy hải sản. Tính cách con người miền biển ("dân Kẻ Bể", "ăn sóng nói gió") phản chiếu rõ nét vào phong cách ẩm thực: chuộng sự mộc mạc, phóng khoáng, đậm đà, không quá câu nệ hình thức bài trí cầu kỳ như ẩm thực Hà Nội ("dân Kẻ Chợ"). Văn hóa ẩm thực nơi đây còn ghi nhận sự tiếp biến tinh hoa ẩm thực Pháp và ẩm thực Hoa.
- Phân loại quà Hải Phòng: Văn hóa quà Hải Phòng phong phú, được phân loại theo nhiều tiêu chí:
- Theo thời gian trong ngày: Quà sáng (bánh đa cua, bún cá, phở, miến, bánh mì, xôi, bánh cuốn...), quà trưa (bún chả nem cua bể, bún đậu mắm tôm, bánh đúc lạc...), quà chiều (các loại chè, cháo sườn, cháo trai, ốc xào, bánh mì cay, nem chua, bánh bèo, bánh đúc tàu...), quà tối và quà khuya (mì vằn thắn, sủi cảo, ốc luộc, mực nướng, các món nhậu bình dân).
- Theo thời tiết - mùa vụ: Mùa hè (thạch găng, tào phớ, bánh trôi, bánh chay, hoa quả dầm, nộm sứa...), mùa đông (quẩy nóng, sủi dìn, bánh xì lồng cấu, giá bể xào, hạt dẻ nóng, ngô nướng...).
- Theo không gian: Bán rong, gánh hàng rong, quán vỉa hè, cửa hàng cố định, chợ truyền thống.
- Đặc trưng khẩu vị và không gian: Quà Hải Phòng nổi bật với vị cay nồng và đậm đà; hầu hết các món mặn đều sử dụng "chí chương" (tương ớt theo cách gọi của người Hoa) và nước mắm truyền thống (nổi tiếng là mắm Cát Hải). Chợ là không gian lưu giữ văn hóa quà đậm nét nhất, tiêu biểu như chợ Cố Đạo, chợ Cát Bi, chợ Con, chợ Tam Bạc, chợ Lương Văn Can.
Chương 2: Khảo sát một số món quà đặc trưng của Hải Phòng
Chương 2 đi sâu khảo sát kỹ thuật chế biến, nguyên liệu, hương vị và giá trị văn hóa của 11 món quà tiêu biểu:
| STT |
Tên món quà |
Nguyên liệu & Kỹ thuật chế biến đặc thù |
Đặc trưng khẩu vị & Nét văn hóa |
Mức giá khảo sát |
| 1 |
Bún cá |
Cá thu phấn giã tay thủ công làm chả; cá trắm/cá trôi đồng rán giòn; nước dùng ninh xương lợn và xương cá biển; ăn kèm dọc mùng, rau muống chẻ, me tươi. |
Hòa quyện sản vật đồng ruộng và biển cả; nước dùng ngọt thanh, chua dịu, không ngấy thịt mỡ. |
10.000đ – 15.000đ/bát |
| 2 |
Giá biển |
Con giá biển sống ở bãi bùn ven biển (Cát Hải); sơ chế tách chân và thân; thân xào với bột canh, riềng, tỏi, nghệ; chân trần nước sôi; làm món gỏi hoặc xào. |
Vị bùi, ngọt, sần sật; nước xào vàng nghệ sánh đậm; món ăn đặc trưng vào mùa đông. |
10.000đ – 15.000đ/bát |
| 3 |
Các món ốc |
Ốc đá, ốc mít, ốc dỏ môi, ốc mút, ốc hương...; ốc xào nguyên vỏ không cho nước, đảo cùng cùi dừa nạo, sả, gừng, me, dấm hoa quả, tương ớt; nước chấm luộc giữ nóng trên bếp than. |
Nước chấm nóng ấm triệt tiêu tính hàn của ốc; vị chua cay mặn ngọt béo bùi đậm đà. |
7.000đ – 20.000đ/bát |
| 4 |
Mực khô nướng |
Mực ống (mực thước dài ~30cm) vùng đảo Cát Bà, câu và mổ phơi nắng tự nhiên ngay trên thuyền; nướng than hoa liu riu, xé sợi bông ngang thân. |
Thịt dày cùi, phấn trắng, mềm ngọt đậm vị nắng gió biển; ăn kèm xoài xanh, chấm chí chương. |
~35.000đ/con |
| 5 |
Bánh mì cay |
Bánh mì nhỏ bằng 2 ngón tay; vỏ giòn ruột mềm; nhân patê làm từ thịt nạc vai, gan lợn xay nhuyễn, bì lợn luộc thái nhỏ, lót mỡ phần hấp cách thủy 2 tiếng; nướng lò than, rưới mỡ phần. |
Vị béo ngậy, cay nồng của chí chương; giá rẻ, gắn liền với học sinh, sinh viên; gốc ở ngã ba Khánh Lạp. |
1.000đ – 1.500đ/chiếc (loại to: 3.000đ – 5.000đ) |
| 6 |
Bánh bèo |
Vỏ bánh bằng bột gạo hấp trong khuôn lá chuối; nhân thịt nạc băm xào củ đậu, mộc nhĩ, hành phi; nước chấm ninh từ nước hầm xương có thịt băm, pha quất, ớt, hạt tiêu. |
Khác biệt với bánh bèo miền Trung/Nam; bánh mềm dẻo, nước chấm xương nóng đậm vị thanh ngọt. |
4.000đ – 8.000đ/đĩa (cặp) |
| 7 |
Bánh xì mần cấu (Bánh cấu) |
Bột gạo nếp trộn gạo tẻ, đường hoa mai, nước cốt gừng, quế, nước dừa; hấp chín trong rế tre quấn giấy đỏ may mắn, rắc vừng; khi ăn cắt lát rán giòn. |
Nguồn gốc người Hoa; vị ngọt thanh của đường mía, cay ấm của gừng quế, bùi dẻo của nếp rán; món ăn dịp Tết. |
8.000đ – 10.000đ/cái (0,5–1kg) hoặc 500đ–1.000đ/miếng |
| 8 |
Bánh đa cua |
Bánh đa đỏ tráng tươi vùng Dư Hàng Kênh; gạch cua đồng giã cối đá chưng cà chua tóp mỡ; chả lá lốt, rau muống chẻ/rau rút, hành phi; nước dùng trong gạt bọt. |
Món ăn biểu tượng của thành phố; màu sắc hài hòa (đỏ bánh đa, xanh rau, vàng gạch cua, nâu chả lá lốt). |
10.000đ – 15.000đ/bát |
| 9 |
Miến trộn |
Miến dong Kiến Thụy lọc qua 7 lần nước xô màng; chần nước sôi ngâm nước nguội; trộn thịt thăn luộc thái sợi, tôm trần nước cốt dừa, giò lụa, lạc rang, rau mùi, sốt chua ngọt sa tế. |
Sợi miến dai giòn trong suốt; thanh mát, đậm đà, không ngấy. |
10.000đ – 15.000đ/đĩa |
| 10 |
Chè Thái ("Chè sâu") |
Sợi chè làm từ bột dong Kiến Thụy (màu trắng) và bột nếp cái hoa vàng trộn nước cốt quả mã thầy (màu xanh); chan nước cốt dừa già ép béo ngậy, vani và đá xay mịn. |
Du nhập khoảng 20 năm; giải nhiệt mùa hè, thanh mát, sợi chè dai giòn tự nhiên. |
3.000đ/cốc |
| 11 |
Chè vừng – Sủi dìn |
Chè vừng đen xay cối đá nấu mật mía và bột sắn dây; sủi dìn (bánh trôi tàu) vỏ bột nếp, nhân vừng đen, đỗ xanh, lạc, mứt bí đao; chan nước gừng cay nóng. |
Ảnh hưởng ẩm thực Quảng Đông; giữ ấm cơ thể trong mùa đông; thơm bùi ngậy béo. |
3.000đ – 5.000đ/bát |
Chương 3: Sổ tay địa chỉ du lịch ẩm thực bình dân Hải Phòng và một số giải pháp nhằm khai thác văn hóa quà Hải Phòng phục vụ phát triển du lịch
Chương 3 tổng kết các kết quả khảo sát thực địa thành cẩm nang chỉ dẫn địa chỉ và đề xuất các nhóm giải pháp ứng dụng phát triển du lịch:
- Sổ tay địa chỉ ẩm thực bình dân:
- Giá biển: Ngõ 97 Cầu Đất (15.000đ/bát), 131 Hàng Kênh (quán bác Ngót - 10.000đ/bát), quán cô Thủy (phố Chu Văn An sau SVĐ Lạch Tray - 10.000đ/bát), 52 Lê Lợi (10.000đ/bát, bánh gối 5.000đ/chiếc).
- Ốc: Huyền Ốc (138 Cát Dài - luộc 12.000đ, xào 17.000đ), 96G Chợ Hàng cũ (luộc 7.000đ), 256 Đà Nẵng (luộc 8.000đ), quán Mai Ốc, Hòa Ốc (đường Hàng Kênh).
- Mực nướng: Khu vực tập trung ven hồ An Biên, ngã năm sân bay Cát Bi, Hồ Sen (bán kèm trà đá, sắn dây đắng, cóc, xoài xanh, rượu nếp cẩm, cá chỉ vàng).
- Bánh mì cay: 50 Lê Lợi (1.000đ/chiếc), 137 Đinh Tiên Hoàng (1.500đ/chiếc, nhân thịt nướng), 26 Trần Hưng Đạo (loại bánh to 3.000đ/chiếc, sữa đậu 2.000đ/cốc), ngã tư Cột Đèn – Tô Hiệu (bán đêm, 5.000đ/chiếc), quán gần khách sạn Cát Dài (5.000đ/chiếc), ngã ba Khánh Lạp – Hàng Kênh.
- Bánh bèo: Số 3 Lê Đại Hành (8.000đ/cặp, bánh giò/bột lọc 5.000đ), 54 Lê Lợi (5.000đ/cặp), hàng bánh bèo bác Xuyến (chợ Lương Văn Can), hàng bác Hòa (chợ Cố Đạo), chợ Con, chợ Ga.
- Bánh xì mần cấu: Chợ Cát Bi, chợ Lương Văn Can, chợ Hàng, chợ Ga (bán vào mùa đông và giáp Tết, 1.000đ/miếng rán, 8.000đ – 10.000đ/cái).
- Bún cá: 50 Điện Biên Phủ (quán bác Trung hơn 30 năm gia truyền - 10.000đ/bát), 169 Lạch Tray (10.000đ – 15.000đ/bát, có bún măng), 303 Lê Lợi (10.000đ/bát, ăn kèm dọc mùng quanh năm).
- Bánh đa cua: 30 Cầu Đất (15.000đ/bát), 175 Cầu Đất (nấu nồi đất nung - 15.000đ/bát), quán bà Béo (cổng Công ty Vận tải biển, đường Lạch Tray - 10.000đ – 15.000đ/bát), 207C Lạch Tray (bán từ 17h đến 7h sáng hôm sau - 10.000đ/bát), Bánh đa cua Da Liễu (sân Trung tâm Da Liễu, đường Trần Phú đối diện Nhà hát lớn - 5.000đ – 10.000đ/bát).
- Miến trộn: 96 Cát Dài (10.000đ/đĩa), số 6 Tô Hiệu (15.000đ/đĩa, trộn ngó sen xoài xanh).
- Chè Thái: 137 Đinh Tiên Hoàng (3.000đ/cốc, bán kèm bánh chuối 2.500đ), các hàng bánh mì cay tại 50, 31, 33 Lê Lợi (3.000đ/cốc).
- Chè vừng – sủi dìn: Số 3 Mê Linh (3.000đ/bát, quẩy 1.000đ/bát), ngõ 46 Lạch Tray (chè vừng 3.000đ, sủi dìn 5.000đ, bánh bao 2.000đ – 6.000đ, trà sữa 5.000đ).
- Hệ thống giải pháp khai thác du lịch:
- Xây dựng mô hình tuyến phố ẩm thực ("Phố ẩm thực"): Quy hoạch theo hai mô hình: (1) Tuyến phố chuyên doanh một món đặc trưng (như cà phê đường Minh Khai, mì vằn thắn đường Mê Linh, cháo đường Trần Bình Trọng, chè bánh đường Lê Lợi); (2) Tuyến phố ẩm thực tổng hợp đa dạng món ăn theo mô hình phố Tống Duy Tân (Hà Nội). Đòi hỏi thành phố ban hành quy chế về vệ sinh an toàn thực phẩm, niêm yết giá công khai để chống "chặt chém", đảm bảo an ninh trật tự và mỹ quan đô thị.
- Đưa món quà bình dân vào thực đơn hệ thống nhà hàng, khách sạn: Chuẩn hóa quy trình chế biến, nâng cao tính thẩm mỹ và vệ sinh an toàn thực phẩm, đưa các món dân dã như bánh đa cua, bún cá, bánh bèo vào thực đơn điểm tâm và bữa phụ tại các khách sạn 3-5 sao nhằm phục vụ du khách lưu trú.
- Tổ chức hội chợ ẩm thực: Tổ chức định kỳ các sự kiện tôn vinh ẩm thực địa phương, quy tụ các nghệ nhân ẩm thực dân gian trình diễn cách chế biến món ăn truyền thống.
- Xây dựng tour du lịch ẩm thực kết hợp (City Tour): Thiết kế tour du lịch nội đô kết hợp tham quan các danh thắng, công trình kiến trúc lịch sử với trải nghiệm thưởng thức ẩm thực tại các quán ăn gia truyền và chợ truyền thống.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả chính: Khóa luận đã hệ thống hóa và lập hồ sơ khảo sát chi tiết 11 món quà bình dân đặc sắc của Hải Phòng, ghi nhận cụ thể công thức chế biến truyền thống, nguồn nguyên liệu bản địa (bánh đa Dư Hàng Kênh, bột dong Kiến Thụy, mắm Cát Hải, mực Cát Bà, giá biển Cát Hải) và mức giá khảo sát thực tế (dao động phổ biến từ 1.000đ đối với bánh mì cay đến 15.000đ/bát bánh đa cua, bún cá). Khóa luận xây dựng được danh mục 25+ địa chỉ ẩm thực uy tín gắn liền với không gian địa lý nội đô Hải Phòng.
- Giải pháp đề xuất: Đưa ra phương án quy hoạch 2 mô hình tuyến phố ẩm thực; đề xuất cơ chế đưa ẩm thực bình dân vào khách sạn; định hướng xây dựng sản phẩm du lịch chuyên đề ẩm thực nội đô (City Tour).
- Đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận là công trình khảo cứu chuyên đề bước đầu về văn hóa "quà" bình dân tại thành phố Hải Phòng dưới góc độ văn hóa học gắn với kinh tế du lịch, bù đắp khoảng trống tư liệu nghiên cứu về mảng ẩm thực đường phố của địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu mới dừng lại ở phạm vi khảo sát định tính và miêu tả thực địa một số món ăn phổ biến trong khu vực nội thành; chưa triển khai các cuộc điều tra xã hội học quy mô lớn với bảng hỏi khảo sát dung lượng mẫu ($n$) cụ thể đối với du khách và người dân; chưa phân tích định lượng chi tiết về doanh thu du lịch ẩm thực.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát toàn diện các món quà dân dã tại các huyện ngoại thành; nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong việc số hóa bản đồ ẩm thực (Food Map) Hải Phòng; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch ẩm thực đường phố đạt chuẩn an toàn vệ sinh.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên các ngành Văn hóa học, Việt Nam học, Du lịch và Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành khi nghiên cứu về ẩm thực truyền thống, văn hóa dân gian đô thị và phát triển sản phẩm du lịch địa phương. Các đơn vị lữ hành có thể tham khảo bảng chỉ dẫn địa chỉ và cơ cấu thực đơn trong Chương 3 để thiết kế các tuyến City Tour ẩm thực Hải Phòng. Cơ quan quản lý đô thị và du lịch địa phương có thể tham khảo các đề xuất mô hình phố ẩm thực chuyên doanh để phục vụ công tác quy hoạch du lịch thương mại.
Câu hỏi thường gặp
1. Bánh mì cay Hải Phòng có nguồn gốc xuất xứ từ đâu và đặc điểm chế biến khác gì so với bánh mì thông thường?
Bánh mì cay Hải Phòng có nguồn gốc biến tấu từ bánh mì patê của Pháp. Món ăn bắt nguồn từ khu vực ngã ba Khánh Lạp (đoạn giao cắt giữa đường Hàng Kênh và Phạm Cùng Trứ). Bánh có kích thước nhỏ chỉ bằng hai ngón tay, hầu như không có ruột, vỏ nướng giòn rưới mỡ phần; nhân patê làm từ gan lợn, thịt nạc vai và bì lợn hấp cách thủy; khi ăn bắt buộc chấm hoặc kẹp cùng "chí chương" (tương ớt cay nồng).
2. Điểm khác biệt cơ bản giữa bánh bèo Hải Phòng với bánh bèo miền Trung và miền Nam là gì?
Bánh bèo Hải Phòng có vỏ làm bằng bột gạo hấp trong khuôn lá chuối dày dặn; nhân bánh gồm thịt nạc băm xào củ đậu, mộc nhĩ và hành phi (khác với bánh bèo miền Trung dùng nhân tôm hay Nam Bộ có tóp mỡ, bì lợn). Điểm khác biệt lớn nhất là nước chấm bánh bèo Hải Phòng được ninh từ nước hầm xương lợn có thịt băm, pha chua ngọt bằng quất/dấm và hạt tiêu, dùng nóng, thay vì nước mắm pha loãng với nước cốt dừa như miền Nam hay nước mắm ớt cay nguyên chất như miền Trung.
3. Món "chè sâu" tại Hải Phòng thực chất là món gì và sử dụng nguyên liệu địa phương nào?
"Chè sâu" là tên gọi dân dã của học sinh, sinh viên Hải Phòng dành cho món Chè Thái. Sợi chè có hình dáng giống cọng giá đỗ, làm từ hai nguyên liệu chính: bột dong Kiến Thụy (tạo sợi màu trắng trong, dai giòn) và bột nếp cái hoa vàng trộn nước cốt quả mã thầy xay nhuyễn (tạo sợi màu xanh), ăn cùng nước cốt dừa già ép béo ngậy và đá xay mịn.
4. Vì sao mực khô Cát Bà lại được đánh giá cao hơn mực khô ở một số vùng biển khác theo khảo sát của tác giả?
Mực Cát Bà được ngư dân câu và mổ, rửa sạch, phơi nắng tự nhiên ngay trên mạn thuyền trong ngày (thay vì ướp lạnh nhiều ngày rồi sấy nhiệt công nghiệp như một số nơi). Loại mực dùng làm mực khô là mực ống (mực thước) dài khoảng 30cm, thân mình tích lũy đủ độ ngọt, thịt dày cùi và có lớp phấn trắng tự nhiên, khi nướng trên than hoa liu riu sẽ nở bông, mềm ngọt và thơm nồng vị biển.
5. Tác giả đề xuất bao nhiêu mô hình xây dựng "Phố ẩm thực" tại Hải Phòng?
Tác giả đề xuất 2 mô hình: (1) Mô hình tuyến phố chuyên doanh một món ăn đặc trưng (như phố cà phê Minh Khai, phố mì vằn thắn Mê Linh, phố cháo Trần Bình Trọng, phố chè bánh Lê Lợi); (2) Mô hình tuyến phố ẩm thực tổng hợp tập trung đầy đủ các hàng quà đặc sản (tương tự tuyến phố ẩm thực Tống Duy Tân của Hà Nội).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Bính đã phác họa bức tranh sinh động, chân thực về văn hóa ẩm thực bình dân xứ Cảng thông qua việc khảo sát kỹ lưỡng 11 món quà truyền thống và lập sổ tay địa chỉ thực địa chi tiết. Công trình làm nổi bật tính cách phóng khoáng, chân chất của người dân miền biển thể hiện qua phong vị ẩm thực đậm đà, dân dã và giàu bản sắc. Hệ thống giải pháp về tuyến phố ẩm thực và liên kết tour du lịch nội đô được đề xuất mang tính gợi mở thiết thực, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc bảo tồn di sản văn hóa ẩm thực và thúc đẩy phát triển du lịch Hải Phòng.