Luận văn tốt nghiệp về nước mắm Nam Ô và quá trình đô thị hóa tại Đà Nẵng

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp làng nghề truyền thống nước mắm nam ô thành phố đà nẵng trong quá trình đô thị, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Sư phạm lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

56
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG NƯỚC MẮM NAM Ô

1.1. Khái quát về làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô

1.1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

1.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô

2. CHƯƠNG 2: BIẾN ĐỔI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG NƯỚC MẮM NAM Ô TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

2.1. Khái quát về quá trình đô thị hóa ở Đà Nẵng

2.2. Địa giới, cảnh quan và tổ chức hành chính

2.3. Qui trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

2.4. Hình thức tổ chức sản xuất

2.5. Kĩ thuật sản xuất

2.6. Sản phẩm và thị trường tiêu thụ

2.7. Nguồn lực đầu vào cho sản xuất của làng nghề

2.8. Biến đổi về văn hóa và xã hội

2.9. Đánh giá chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC ẢNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về nước mắm Nam Ô

Nước mắm Nam Ô là một trong những sản phẩm đặc trưng của văn hóa ẩm thực Việt Nam, đặc biệt là tại Đà Nẵng. Nước mắm không chỉ là gia vị mà còn là biểu tượng văn hóa, thể hiện sự tinh tế trong ẩm thực của người Việt. Làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô đã tồn tại hàng trăm năm, gắn liền với lịch sử và văn hóa của vùng đất này. Sản phẩm nước mắm Nam Ô được làm từ nguyên liệu tự nhiên, chủ yếu là cá cơm, muối và nước biển, qua quy trình chế biến thủ công. Điều này không chỉ tạo ra hương vị đặc trưng mà còn bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống. Theo các tài liệu lịch sử, nước mắm Nam Ô đã được ghi nhận trong nhiều sách vở cổ, khẳng định giá trị của nó trong đời sống người dân địa phương.

1.1. Lịch sử hình thành

Lịch sử hình thành làng nghề nước mắm Nam Ô bắt đầu từ thời kỳ chúa Nguyễn. Theo ghi chép, nghề làm nước mắm đã được hình thành từ khoảng thế kỷ 17, khi người dân nơi đây bắt đầu sản xuất nước mắm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Sản phẩm nước mắm Nam Ô nhanh chóng trở thành đặc sản nổi tiếng, được yêu thích không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài. Sự phát triển của nghề này đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của vùng đất Đà Nẵng. Nhiều hộ gia đình đã gắn bó với nghề này qua nhiều thế hệ, giữ gìn và phát triển nghề truyền thống, tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

II. Tác động của đô thị hóa đến làng nghề nước mắm Nam Ô

Quá trình đô thị hóa tại Đà Nẵng đã mang lại nhiều thay đổi cho làng nghề nước mắm Nam Ô. Sự phát triển nhanh chóng của đô thị đã tạo ra áp lực lớn lên các làng nghề truyền thống. Nhiều hộ gia đình đã phải đối mặt với việc giảm diện tích đất sản xuất do sự mở rộng của các khu đô thị và công nghiệp. Điều này đã dẫn đến việc giảm sản lượng và chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, sự cạnh tranh từ các sản phẩm công nghiệp hóa cũng đã ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ nước mắm Nam Ô. Tuy nhiên, đô thị hóa cũng mang lại cơ hội cho làng nghề này phát triển thông qua việc tăng cường quảng bá sản phẩm và thu hút du khách. Các hoạt động du lịch đã giúp nâng cao giá trị của sản phẩm nước mắm, đồng thời tạo ra nguồn thu nhập bổ sung cho người dân địa phương.

2.1. Biến đổi trong sản xuất và tiêu thụ

Quá trình đô thị hóa đã làm thay đổi cách thức sản xuất và tiêu thụ nước mắm Nam Ô. Nhiều hộ gia đình đã chuyển từ sản xuất thủ công sang áp dụng công nghệ hiện đại để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến việc mất đi một phần giá trị văn hóa truyền thống. Sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng cũng đã ảnh hưởng đến cách thức tiêu thụ sản phẩm. Người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng các sản phẩm an toàn, sạch và có nguồn gốc rõ ràng. Do đó, các hộ sản xuất nước mắm Nam Ô cần phải điều chỉnh chiến lược marketing và phát triển sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường hiện đại.

III. Bảo tồn và phát triển văn hóa nước mắm Nam Ô

Bảo tồn và phát triển văn hóa nước mắm Nam Ô là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh đô thị hóa. Việc bảo tồn không chỉ dừng lại ở việc giữ gìn quy trình sản xuất mà còn cần phải nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa của sản phẩm này. Các hoạt động như tổ chức lễ hội, hội thảo, và các chương trình giáo dục về văn hóa ẩm thực có thể giúp nâng cao giá trị của nước mắm Nam Ô trong mắt người tiêu dùng. Đồng thời, việc kết hợp giữa phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa cũng là một hướng đi khả thi. Du khách có thể tham gia vào quy trình sản xuất nước mắm, từ đó hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và lịch sử của sản phẩm.

3.1. Giải pháp bảo tồn

Để bảo tồn và phát triển nước mắm Nam Ô, cần có sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội. Việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nước mắm Nam Ô là rất cần thiết để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ cho các hộ sản xuất nhỏ, giúp họ duy trì sản xuất và phát triển bền vững. Các chương trình đào tạo về kỹ thuật sản xuất và marketing cũng cần được triển khai để nâng cao năng lực cho người dân. Bên cạnh đó, việc kết nối với các kênh phân phối hiện đại cũng sẽ giúp sản phẩm nước mắm Nam Ô tiếp cận được nhiều khách hàng hơn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG NƯỚC MẮM NAM Ô 1. Khái quát về làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô 1. Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý: Làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô thuộc địa bàn Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Phía Đông giáp vịnh Đà Nẵng, phía Tây giáp xã Hòa Bắc và Hòa Liên, huyện Hòa Vang, phía Nam giáp phường Hòa Khánh Bắc của quận và phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Diện tích phường Hòa Hiệp Nam: 7,88km2, dân số 16.640 người, tại 03 khối phố: Nam Ô 1, Nam Ô 2, Nam Ô 3 có 120 hộ làm mắm. Diện tích phường Hòa Hiệp Bắc: 43,59 km2, dân số 13.411 người, tại khối phố Kim Liên có trên 50 hộ làm mắm.( Năm 2010) Trên địa bàn làng nghề có đường quốc lộ 1A, ga đường sắt Bắc- Nam đi qua là điều kiện thuận lợi để làng nghề giao lưu với các tỉnh và khu vực lân cận, trong nước và quốc tế. - Khí hậu: Khí hậu của làng nghề chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nền nhiệt độ cao và ít biến động, chế độ ánh sáng mưa ẩm phong phú. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 25*C, mùa đông nhiệt độ ít khi xuống dưới 12*C, mùa hè trung bình 28*C – 30*C.

Độ ẩm tương đối của không khí trung bình là 82%, lượng mưa trung bình 2.066mm, giờ nắng trung bình 2. Khí hậu trên thích hợp cho phát triển nền nông lâm nghiệp, du lịch, chế biến nông lâm thủy sản. 5 Luan van Tuy nhiên về mùa hạ, nền nhiệt độ cao, gây hạn và cửa sông bị nhiễm mặn, về mùa mưa thường gặp bão và lũ lụt. - Tài nguyên nước: + Về nước mặt: sông Cu Đê dài 38km, nằm ở phía Tây Bắc của quận bắt đầu từ dãy núi Bạch Mã, là hợp lưu của 2 sông, sông Bắc dài 23km và sông Nam dài 47km, tổng diện tích 2 lưu vực 426km2, tổng lượng hằng năm vào khoảng 0,5tỷm3 là nguồn cung cấp nước chính phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.

+ Về nguồn nước ngầm: trữ lượng nước ngầm ở khu vực Hòa Khánh- Nam Ô khoảng 10.000 m3 / ngày đêm - Tài nguyên biển: Nam Ô là nơi tập trung khá phong phú loài động vật biển như : + San hô: phân bố phía Nam chân đèo Hải Vân, nhờ có nền đáy là đá thích hợp cho san hô bám, có nước trong và độ muối cao, ổn định tạo điều kiện cho san hô phát triển. + Cá mực, tôm, ghẹ: tập trung với trữ lượng phong phú Quận Liên Chiểu có khả năng phát triển ngành nuôi trồng, đánh bắt hải sản. Hằng năm vào tháng 3-4 âm lịch có nhiều cá cơm, cá nục và cá dò có thể khai thác để làm nước mắm. - Tài nguyên du lịch và di sản văn hóa: Với vị trí địa lý thuận lợi, Liên Chiểu có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên vô cùng phong phú, trải dài từ những đồi núi, làng mạc, sông ngòi cho đến các bãi biển hấp dẫn.

Ngay tại cửa ngỏ phía bắc quận, có khu bảo tồn thiên nhiên rừng đặc dụng Hải Vân gắn liền với danh thắng hùng vĩ “ Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Nhiều bãi tắm tự nhiên đẹp như Nam Ô, Xuân Thiều, 6 Luan van Bắc Ninh ( Hòa Minh), dòng sông Cu Đê chạy dọc chân núi Hải Vân, cùng các món ăn đặc sản nổi tiếng cả nước như “ gỏi cá”, mứt ( rong biển ) và các lễ hội cầu ngư, là nơi lý tưởng để khai thác phát triển dịch vụ du lịch sinh thái. Với điều kiện tự nhiên của quận Liên Chiểu vô cùng phong phú và thuận lợi, sẽ góp phần cho việc bảo tồn và phát triển làng nghề gắn với du lịch. Điều kiện kinh tế - xã hội Trong giai đoạn 1997- 2010, kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, trọng tâm là phát triển thương mại.

Công nghiệp – tiểu thủ công phát triển với tốc độ nhanh, tổng giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp do quận quản lý thực hiện đạt 7.691,9 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 76,70%, tốc độ tăng bình quân 35,4%. Tổng giá trị thương mại – dịch vụ thực hiện được 1.943,9 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 19, 40%. Tăng từ 16,5tỷ đồng năm 1997 lên 475 tỷ đồng năm 2011, tốc độ bình quân tăng 27,1%. Tổng mức luân chuyển hàng hóa thực hiện được 16.041,3 tỷ đồng, liên tục tăng qua các năm: 1997 : 248,7 tỷ đồng; 2001: 336,5 tỷ đồng; 2006: 947,7 tỷ đồng; 2011: 3.

Năm 2004 giá trị xuất khẩu đạt 400.000 USD , đến năm 2011 đạt 1. 7 Luan van Biểu số 1: Một số chỉ tiêu kinh tế quận Liên Chiểu Chỉ tiêu Đơn vị Năm Năm Năm TĐ tăng 1997 2006 2011 BQ 15 năm(%) 1. Dân số trung bình Người 53.500 - Số người trong độ tuổi Người 27. Các chỉ tiêu kinh tế - Công nghiệp Tỷ đồng 29,5 342,3 475,0 35,4 - Thương mại- dịch vụ Tỷ đồng 16,5 114,2 14,7 27,1 - Nông lâm thủy sản Tỷ đồng 27,5 22,4 -4,4 3.

Cơ cấu kinh tế - Công nghiệp- xây dựng % 40,1 71,5 76,7 - Thương mại- dịch vụ % 16,5 23,8 19,4 - Nông lâm thủy sản % 37,4 4,7 3,9 ( Nguồn: Báo cáo tổng kết 15 năm hình thành và phát triển quận Liên Chiểu) Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế của quận đều tăng, trong đó ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm 35,4%. Thương mại- dịch vụ 27,1% vượt kế hoạch đề ra. Ngành nông nghiệp của quận tiếp tục giảm do quá trình đô thị hóa, xây dựng các khu công nghiệp, diện tích đất nông nghiệp giảm dần, tốc độ giảm bình quân 4,4%. 8 Luan van Trong những năm đến, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế theo cơ cấu : công nghiệp- dịch vụ- nông nghiệp.

Đến năm 2015 tỷ trọng các ngành kinh tế là : công nghiệp chiếm 78,6%, dịch vụ chiếm 21% nông nghiệp giảm còn 0,4%, tốc độ tăng bình quân hằng năm của giá trị sản xuất CN- TTCN là 20%, TM-DV là 33%. Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô. Tên gọi Nam Ô chính là cửa ô phía Nam của Đại Việt thời ấy, hình thành cách ngày nay hàng trăm năm. Vì vậy Nam Ô có giá trị lịch sử của quốc gia chứ không chỉ đơn thuần là một tên làng.

Nơi đây đã chứa đựng một đời sống tinh thần và tâm linh khá phong phú. Đó là hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, tâm linh có giá trị. Trong khu vực này có các di tích mà dân làng Nam Ô đang giữ gìn như Dinh Âm hồn, Lăng Cá Ông, Miếu Bà Liễu Hạnh… Xưa, Nam Ô thuộc vương quốc Champa, về sau, vào khoảng đầu thế kỷ XIV, khi Chế Mân dâng châu Ô, châu Lý cho Đại Việt vào năm 1306 để cưới công chúa Huyền Trân, vùng đất này trở thành cửa ô phía Nam của Đại Việt nên có tên gọi Nam Ô, và từ đó, người Việt bắt đầu di cư đến sinh sống ở vùng này. Năm 1471, trong cuộc Nam tiến của vua Lê Thánh Tông, lại có thêm rất nhiều cư dân người Việt ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,.

vào vùng đất "ô châu ác địa" này để sinh sống. Năm 1558, khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Đàng Trong, các đợt di dân vào vùng đất này diễn ra ngày càng nhiều. Trải qua nhiều biến thiên và thăng trầm của lịch sử, đến nay, làng Nam Ô không còn rộng lớn như xưa, chỉ còn là một ngôi làng nhỏ nép mình bên vịnh Đà Nẵng, nhưng tên làng Nam Ô vẫn được giữ nguyên. 9 Luan van Là vùng đất được bao bọc bởi núi, sông hùng vĩ, biển cả bao la, Nam Ô được xem là nơi có phong cảnh hữu tình, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển, xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc địa phương.

Theo các cụ cao niên thì trong các trận chiến chống quân Pháp đánh cửa biển Đà Nẵng vào các năm 1858, 1859, 1862, quân lính triều đình của 2 đồn Nam Ô, Cu Đê và dân binh địa phương tử trận rất nhiều, nên triều đình vua Tự Đức sau đó đã có sắc dụ cho các dân xã lập âm linh để tưởng nhớ tử sĩ trận vong. Vua Thành Thái khi lên ngôi đã sắc dụ cho các nơi lập Âm Hồn Đàn để tưởng vọng các tử sĩ đã bỏ mình trong biến cố thất thủ kinh đô 1885. Miếu Âm Linh sau này dân làng mở rộng thờ thập loại chúng sinh, cô hồn phiêu phương và các âm hồn xiêu mồ lạc nấm của chư phái tộc họ trong làng. Điều đó thể hiện tính nhân văn sâu sắc của di tích, phù hợp với tinh thần uống nước nhớ nguồn và tinh thần nhân đạo của dân tộc ta.

Lăng Ông Ngư là di tích được xây dựng từ thời Vua Gia Long (1802), chính là văn hóa tâm linh thờ cá ông. Lúc đầu Lăng có kiến trúc như sườn gỗ, tường đá trác vôi vữa, mái lợp lá kè. Đến năm Tự Đức thứ 4 (1851) Lăng được tôn tạo to đẹp hơn. Năm Bảo Đại thứ 10 (1935), Lăng được làm mới, mái lợp ngói âm dương.

Từ đó đến nay Lăng được sửa chữa gia cố nhiều lần nhưng vẫn giữ được vẻ cổ kính, tôn nghiêm, nằm trên khuôn viên rộng chừng 360m2, cách mép nước biển khoảng 50m để dân làng tế lễ hàng năm. Miếu Bà Liễu Hạnh gắn với tục thờ mẫu của cư dân Đại Việt trên vùng đất mới, được nhân dân làng Nam Ô lưu truyền nhiều đời. Bà Chúa Liễu Hạnh nằm trong tín ngưỡng đặc biệt của dân tộc là tục thờ "tứ bất tử" (gồm Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh). Tục thờ Bà Chúa Liễu Hạnh là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân tộc ta.

Về mặt cảnh quan tự nhiên, điều thu hút của Nam Ô là một nơi cửa sông Cu Đê tiếp biển, với rạn hay còn gọi là ghềnh đá tuyệt đẹp ẩn hiện trong làn sóng biển, bao bọc một khu rừng nguyên sinh đầy huyền tích của làng. 10 Luan van Ghềnh Nam Ô chỉ rộng khoảng hơn 2ha nhưng chứa đầy những huyền tích. Điều kỳ lạ là dân làng Nam Ô đang ở chen chúc nhau với mật độ dân cư rất cao, nhiều kiệt hẻm chỉ đủ cho một người đi nhưng dân cư không bao giờ lấn vào khu rừng thiêng hay chặt phát cây trong rừng. Chính vì vậy, ở ngay gần khu đô thị sầm uất, rừng Nam Ô vẫn giữ được vẻ nguyên sinh với màu xanh bất tận như một lá phổi của cánh Bắc quận Liên Chiểu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp về nước mắm Nam Ô và quá trình đô thị hóa tại Đà Nẵng" của tác giả Hoàng Ngọc Hải, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Duy Phương, thuộc Đại học Đà Nẵng, khám phá mối liên hệ giữa nước mắm Nam Ô - một di sản văn hóa đặc sắc - và quá trình đô thị hóa tại Đà Nẵng. Nghiên cứu này không chỉ làm nổi bật giá trị văn hóa của nước mắm Nam Ô mà còn chỉ ra những thách thức mà di sản này phải đối mặt trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách mà các yếu tố văn hóa và kinh tế tương tác trong quá trình phát triển đô thị.

Để mở rộng thêm kiến thức về tác động của đô thị hóa đến các lĩnh vực khác, bạn có thể tham khảo bài viết Tác động của quá trình đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế xã hội tại các nước đang phát triển, nơi phân tích ảnh hưởng của đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế xã hội. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị tại tỉnh Bắc Ninh cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng đất trong bối cảnh đô thị hóa. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu tác động của đô thị hóa đến quản lý đất và đời sống việc làm tại thành phố Vinh, Nghệ An sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những thách thức trong quản lý đất đai và việc làm trong quá trình đô thị hóa. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến đô thị hóa.