CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG NƯỚC MẮM NAM Ô 1. Khái quát về làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô 1. Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý: Làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô thuộc địa bàn Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Phía Đông giáp vịnh Đà Nẵng, phía Tây giáp xã Hòa Bắc và Hòa Liên, huyện Hòa Vang, phía Nam giáp phường Hòa Khánh Bắc của quận và phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Diện tích phường Hòa Hiệp Nam: 7,88km2, dân số 16.640 người, tại 03 khối phố: Nam Ô 1, Nam Ô 2, Nam Ô 3 có 120 hộ làm mắm. Diện tích phường Hòa Hiệp Bắc: 43,59 km2, dân số 13.411 người, tại khối phố Kim Liên có trên 50 hộ làm mắm.( Năm 2010) Trên địa bàn làng nghề có đường quốc lộ 1A, ga đường sắt Bắc- Nam đi qua là điều kiện thuận lợi để làng nghề giao lưu với các tỉnh và khu vực lân cận, trong nước và quốc tế. - Khí hậu: Khí hậu của làng nghề chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nền nhiệt độ cao và ít biến động, chế độ ánh sáng mưa ẩm phong phú. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 25*C, mùa đông nhiệt độ ít khi xuống dưới 12*C, mùa hè trung bình 28*C – 30*C.
Độ ẩm tương đối của không khí trung bình là 82%, lượng mưa trung bình 2.066mm, giờ nắng trung bình 2. Khí hậu trên thích hợp cho phát triển nền nông lâm nghiệp, du lịch, chế biến nông lâm thủy sản. 5 Luan van Tuy nhiên về mùa hạ, nền nhiệt độ cao, gây hạn và cửa sông bị nhiễm mặn, về mùa mưa thường gặp bão và lũ lụt. - Tài nguyên nước: + Về nước mặt: sông Cu Đê dài 38km, nằm ở phía Tây Bắc của quận bắt đầu từ dãy núi Bạch Mã, là hợp lưu của 2 sông, sông Bắc dài 23km và sông Nam dài 47km, tổng diện tích 2 lưu vực 426km2, tổng lượng hằng năm vào khoảng 0,5tỷm3 là nguồn cung cấp nước chính phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.
+ Về nguồn nước ngầm: trữ lượng nước ngầm ở khu vực Hòa Khánh- Nam Ô khoảng 10.000 m3 / ngày đêm - Tài nguyên biển: Nam Ô là nơi tập trung khá phong phú loài động vật biển như : + San hô: phân bố phía Nam chân đèo Hải Vân, nhờ có nền đáy là đá thích hợp cho san hô bám, có nước trong và độ muối cao, ổn định tạo điều kiện cho san hô phát triển. + Cá mực, tôm, ghẹ: tập trung với trữ lượng phong phú Quận Liên Chiểu có khả năng phát triển ngành nuôi trồng, đánh bắt hải sản. Hằng năm vào tháng 3-4 âm lịch có nhiều cá cơm, cá nục và cá dò có thể khai thác để làm nước mắm. - Tài nguyên du lịch và di sản văn hóa: Với vị trí địa lý thuận lợi, Liên Chiểu có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên vô cùng phong phú, trải dài từ những đồi núi, làng mạc, sông ngòi cho đến các bãi biển hấp dẫn.
Ngay tại cửa ngỏ phía bắc quận, có khu bảo tồn thiên nhiên rừng đặc dụng Hải Vân gắn liền với danh thắng hùng vĩ “ Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Nhiều bãi tắm tự nhiên đẹp như Nam Ô, Xuân Thiều, 6 Luan van Bắc Ninh ( Hòa Minh), dòng sông Cu Đê chạy dọc chân núi Hải Vân, cùng các món ăn đặc sản nổi tiếng cả nước như “ gỏi cá”, mứt ( rong biển ) và các lễ hội cầu ngư, là nơi lý tưởng để khai thác phát triển dịch vụ du lịch sinh thái. Với điều kiện tự nhiên của quận Liên Chiểu vô cùng phong phú và thuận lợi, sẽ góp phần cho việc bảo tồn và phát triển làng nghề gắn với du lịch. Điều kiện kinh tế - xã hội Trong giai đoạn 1997- 2010, kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, trọng tâm là phát triển thương mại.
Công nghiệp – tiểu thủ công phát triển với tốc độ nhanh, tổng giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp do quận quản lý thực hiện đạt 7.691,9 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 76,70%, tốc độ tăng bình quân 35,4%. Tổng giá trị thương mại – dịch vụ thực hiện được 1.943,9 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 19, 40%. Tăng từ 16,5tỷ đồng năm 1997 lên 475 tỷ đồng năm 2011, tốc độ bình quân tăng 27,1%. Tổng mức luân chuyển hàng hóa thực hiện được 16.041,3 tỷ đồng, liên tục tăng qua các năm: 1997 : 248,7 tỷ đồng; 2001: 336,5 tỷ đồng; 2006: 947,7 tỷ đồng; 2011: 3.
Năm 2004 giá trị xuất khẩu đạt 400.000 USD , đến năm 2011 đạt 1. 7 Luan van Biểu số 1: Một số chỉ tiêu kinh tế quận Liên Chiểu Chỉ tiêu Đơn vị Năm Năm Năm TĐ tăng 1997 2006 2011 BQ 15 năm(%) 1. Dân số trung bình Người 53.500 - Số người trong độ tuổi Người 27. Các chỉ tiêu kinh tế - Công nghiệp Tỷ đồng 29,5 342,3 475,0 35,4 - Thương mại- dịch vụ Tỷ đồng 16,5 114,2 14,7 27,1 - Nông lâm thủy sản Tỷ đồng 27,5 22,4 -4,4 3.
Cơ cấu kinh tế - Công nghiệp- xây dựng % 40,1 71,5 76,7 - Thương mại- dịch vụ % 16,5 23,8 19,4 - Nông lâm thủy sản % 37,4 4,7 3,9 ( Nguồn: Báo cáo tổng kết 15 năm hình thành và phát triển quận Liên Chiểu) Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế của quận đều tăng, trong đó ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm 35,4%. Thương mại- dịch vụ 27,1% vượt kế hoạch đề ra. Ngành nông nghiệp của quận tiếp tục giảm do quá trình đô thị hóa, xây dựng các khu công nghiệp, diện tích đất nông nghiệp giảm dần, tốc độ giảm bình quân 4,4%. 8 Luan van Trong những năm đến, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế theo cơ cấu : công nghiệp- dịch vụ- nông nghiệp.
Đến năm 2015 tỷ trọng các ngành kinh tế là : công nghiệp chiếm 78,6%, dịch vụ chiếm 21% nông nghiệp giảm còn 0,4%, tốc độ tăng bình quân hằng năm của giá trị sản xuất CN- TTCN là 20%, TM-DV là 33%. Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô. Tên gọi Nam Ô chính là cửa ô phía Nam của Đại Việt thời ấy, hình thành cách ngày nay hàng trăm năm. Vì vậy Nam Ô có giá trị lịch sử của quốc gia chứ không chỉ đơn thuần là một tên làng.
Nơi đây đã chứa đựng một đời sống tinh thần và tâm linh khá phong phú. Đó là hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, tâm linh có giá trị. Trong khu vực này có các di tích mà dân làng Nam Ô đang giữ gìn như Dinh Âm hồn, Lăng Cá Ông, Miếu Bà Liễu Hạnh… Xưa, Nam Ô thuộc vương quốc Champa, về sau, vào khoảng đầu thế kỷ XIV, khi Chế Mân dâng châu Ô, châu Lý cho Đại Việt vào năm 1306 để cưới công chúa Huyền Trân, vùng đất này trở thành cửa ô phía Nam của Đại Việt nên có tên gọi Nam Ô, và từ đó, người Việt bắt đầu di cư đến sinh sống ở vùng này. Năm 1471, trong cuộc Nam tiến của vua Lê Thánh Tông, lại có thêm rất nhiều cư dân người Việt ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,.
vào vùng đất "ô châu ác địa" này để sinh sống. Năm 1558, khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Đàng Trong, các đợt di dân vào vùng đất này diễn ra ngày càng nhiều. Trải qua nhiều biến thiên và thăng trầm của lịch sử, đến nay, làng Nam Ô không còn rộng lớn như xưa, chỉ còn là một ngôi làng nhỏ nép mình bên vịnh Đà Nẵng, nhưng tên làng Nam Ô vẫn được giữ nguyên. 9 Luan van Là vùng đất được bao bọc bởi núi, sông hùng vĩ, biển cả bao la, Nam Ô được xem là nơi có phong cảnh hữu tình, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển, xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc địa phương.
Theo các cụ cao niên thì trong các trận chiến chống quân Pháp đánh cửa biển Đà Nẵng vào các năm 1858, 1859, 1862, quân lính triều đình của 2 đồn Nam Ô, Cu Đê và dân binh địa phương tử trận rất nhiều, nên triều đình vua Tự Đức sau đó đã có sắc dụ cho các dân xã lập âm linh để tưởng nhớ tử sĩ trận vong. Vua Thành Thái khi lên ngôi đã sắc dụ cho các nơi lập Âm Hồn Đàn để tưởng vọng các tử sĩ đã bỏ mình trong biến cố thất thủ kinh đô 1885. Miếu Âm Linh sau này dân làng mở rộng thờ thập loại chúng sinh, cô hồn phiêu phương và các âm hồn xiêu mồ lạc nấm của chư phái tộc họ trong làng. Điều đó thể hiện tính nhân văn sâu sắc của di tích, phù hợp với tinh thần uống nước nhớ nguồn và tinh thần nhân đạo của dân tộc ta.
Lăng Ông Ngư là di tích được xây dựng từ thời Vua Gia Long (1802), chính là văn hóa tâm linh thờ cá ông. Lúc đầu Lăng có kiến trúc như sườn gỗ, tường đá trác vôi vữa, mái lợp lá kè. Đến năm Tự Đức thứ 4 (1851) Lăng được tôn tạo to đẹp hơn. Năm Bảo Đại thứ 10 (1935), Lăng được làm mới, mái lợp ngói âm dương.
Từ đó đến nay Lăng được sửa chữa gia cố nhiều lần nhưng vẫn giữ được vẻ cổ kính, tôn nghiêm, nằm trên khuôn viên rộng chừng 360m2, cách mép nước biển khoảng 50m để dân làng tế lễ hàng năm. Miếu Bà Liễu Hạnh gắn với tục thờ mẫu của cư dân Đại Việt trên vùng đất mới, được nhân dân làng Nam Ô lưu truyền nhiều đời. Bà Chúa Liễu Hạnh nằm trong tín ngưỡng đặc biệt của dân tộc là tục thờ "tứ bất tử" (gồm Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh). Tục thờ Bà Chúa Liễu Hạnh là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân tộc ta.
Về mặt cảnh quan tự nhiên, điều thu hút của Nam Ô là một nơi cửa sông Cu Đê tiếp biển, với rạn hay còn gọi là ghềnh đá tuyệt đẹp ẩn hiện trong làn sóng biển, bao bọc một khu rừng nguyên sinh đầy huyền tích của làng. 10 Luan van Ghềnh Nam Ô chỉ rộng khoảng hơn 2ha nhưng chứa đầy những huyền tích. Điều kỳ lạ là dân làng Nam Ô đang ở chen chúc nhau với mật độ dân cư rất cao, nhiều kiệt hẻm chỉ đủ cho một người đi nhưng dân cư không bao giờ lấn vào khu rừng thiêng hay chặt phát cây trong rừng. Chính vì vậy, ở ngay gần khu đô thị sầm uất, rừng Nam Ô vẫn giữ được vẻ nguyên sinh với màu xanh bất tận như một lá phổi của cánh Bắc quận Liên Chiểu.