Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô - Thành phố Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa" được thực hiện bởi sinh viên Hoàng Ngọc Hải (ngành Sư phạm Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, năm 2018) dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Duy Phương. Nghiên cứu tiếp cận sự tồn tại, biến đổi và khả năng thích ứng của một làng nghề truyền thống ven biển đặc thù trước áp lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mở rộng không gian đô thị của thành phố Đà Nẵng.

Làng nghề nước mắm Nam Ô (phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu) có lịch sử hình thành hàng trăm năm. Trong quá khứ, làng từng trải qua giai đoạn trầm lắng khi nghề làm pháo nổ phát triển mạnh; sau khi Chỉ thị số 406/CT-TTg ngày 08/08/1994 của Thủ tướng Chính phủ về cấm sản xuất, buôn bán và đốt pháo có hiệu lực, cư dân Nam Ô đã quay trở lại khôi phục và đầu tư phát triển nghề chế biến nước mắm truyền thống. Tuy nhiên, từ năm 2003, khi Đà Nẵng trở thành đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, tiến trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng tại khu vực Tây Bắc thành phố đã tạo ra những tác động toàn diện. Việc triển khai các dự án hạ tầng giao thông, khu công nghiệp và dự án Khu du lịch sinh thái Nam Ô đã trực tiếp làm thay đổi địa giới, cảnh quan, thu hẹp không gian sản xuất, gây khó khăn cho việc tiếp cận nguồn nguyên liệu biển và làm xáo trộn đời sống văn hóa - xã hội của cộng đồng cư dân bản địa.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận bao gồm:

  1. Hệ thống hóa điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và lịch sử hình thành, phát triển của làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô.
  2. Phân tích thực trạng các biến đổi của làng nghề trong tiến trình đô thị hóa từ năm 2003 đến năm 2018 trên các phương diện: địa giới - cảnh quan, cơ cấu tổ chức hành chính, quy trình kỹ thuật, tổ chức sản xuất, thị trường tiêu thụ và các giá trị văn hóa - tín ngưỡng.
  3. Đánh giá tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) của quá trình đô thị hóa, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm bảo tồn, phát triển bền vững làng nghề nước mắm Nam Ô trong hiện tại và tương lai.
  • Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi của làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô trong quá trình đô thị hóa.
  • Phạm vi không gian: Làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô, thuộc địa bàn phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát giai đoạn từ năm 2003 (mốc Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại 1) đến năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự vận động, chuyển hóa của các hình thái kinh tế - xã hội dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa. Về mặt học thuật, tác giả tiếp cận vấn đề theo góc độ sử học kinh tế và lịch sử văn hóa - xã hội địa phương, xem xét làng nghề như một chỉnh thể hữu cơ gắn bó chặt chẽ giữa môi trường tự nhiên, hoạt động sinh kế, cộng đồng cư dân và hệ thống di sản văn hóa phi vật thể.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Phục dựng tiến trình hình thành từ thời chúa Nguyễn đến thời kỳ đổi mới, phân tích quy luật vận động nội tại và các mối quan hệ nhân quả giữa tốc độ đô thị hóa và sự suy giảm không gian làng nghề.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp và so sánh: Đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế, sản lượng sản xuất, cơ cấu lao động giữa các thời kỳ (1997 - 2011 và 2013 - 2017), so sánh quy mô vốn và thị trường tiêu thụ của nước mắm Nam Ô với các làng nghề khác trên địa bàn Đà Nẵng (bánh khô mè Cẩm Lệ, chiếu cói Cẩm Nê, đá mỹ nghệ Non Nước).
  • Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế: Quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất, đánh bắt và đóng gói sản phẩm tại các tổ dân phố Nam Ô 1, Nam Ô 2, Nam Ô 3.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin từ các nhà quản lý địa phương (Bí thư Quận ủy Liên Chiểu Võ Công Chánh, Chủ tịch UBND phường Hòa Hiệp Nam Nguyễn Thị Lệ), đại diện hội làng nghề (Chủ tịch Hội làng nghề nước mắm Nam Ô 2 Trần Ngọc Vinh), các nghệ nhân và người làm nghề cao tuổi (ông Lê Hùng, bà Trần Thị Ngưng, bà Nguyễn Thị Lự, bà Trần Thị Mừng) cùng các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa địa phương (Bùi Văn Tiếng, Hồ Trung Tú, Đặng Phương Trứ, Đặng Dùng).

Nguồn tư liệu sử dụng bao gồm:

  • Thư tịch cổ và địa chí: Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn), Thoái thực ký văn (Trương Quốc Dụng), Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức).
  • Báo cáo hành chính và niên giám thống kê: Niên giám thống kê quận Liên Chiểu, Báo cáo tổng kết 15 năm hình thành và phát triển quận Liên Chiểu, Báo cáo Đại hội đại biểu Hội làng nghề nước mắm Nam Ô, số liệu của Sở Công Thương TP Đà Nẵng và UBND phường Hòa Hiệp Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô

Chương 1 hệ thống hóa các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và tiến trình lịch sử tạo tiền đề cho sự hình thành và duy trì làng nghề Nam Ô qua các thời kỳ.

Về điều kiện tự nhiên, làng nghề nằm ở phía Bắc thành phố Đà Nẵng, ven vịnh Đà Nẵng, dưới chân đèo Hải Vân. Địa bàn khảo sát chính là phường Hòa Hiệp Nam (diện tích 7,88 km², dân số 16.640 người, có 120 hộ làm mắm phân bố tại Nam Ô 1, Nam Ô 2, Nam Ô 3 vào năm 2010) và phường giáp ranh Hòa Hiệp Bắc (diện tích 43,59 km², dân số 13.411 người, khối phố Kim Liên có hơn 50 hộ làm mắm). Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 25°C, độ ẩm trung bình 82%, lượng mưa trung bình 2.066 mm. Hệ thống thủy văn có sông Cu Đê dài 38 km (hợp lưu từ sông Bắc dài 23 km và sông Nam dài 47 km, diện tích lưu vực 426 km², lưu lượng nước mặt khoảng 0,5 tỷ m³/năm) và trữ lượng nước ngầm khu vực Hòa Khánh - Nam Ô đạt khoảng 10.000 m³/ngày đêm. Nguồn lợi thủy sản vùng biển và ghềnh đá Nam Ô (rộng hơn 2 ha) rất phong phú, đặc biệt là nguồn cá cơm than xuất hiện tập trung vào tháng 3 - 4 âm lịch, tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cao cho nghề chế biến nước mắm.

Về kinh tế - xã hội quận Liên Chiểu giai đoạn 1997 - 2011, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh: công nghiệp - xây dựng tăng từ 40,1% (năm 1997) lên 76,7% (năm 2011) với tốc độ tăng trưởng bình quân 35,4%/năm; thương mại - dịch vụ chiếm 19,4% với tốc độ tăng bình quân 27,1%/năm; ngành nông lâm thủy sản giảm từ 37,4% xuống còn 3,9% (tốc độ tăng trưởng bình quân giảm -4,4%/năm do diện tích sản xuất bị thu hẹp).

Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của quận Liên Chiểu (1997 - 2011)

Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 1997 Năm 2006 Năm 2011 Tốc độ tăng bình quân 15 năm (%)
Dân số trung bình Người 53.500 85.000 120.000 -
Giá trị SX Công nghiệp Tỷ đồng 29,5 342,3 475,0 35,4
Giá trị TM - Dịch vụ Tỷ đồng 16,5 114,2 214,7 27,1
Giá trị Nông lâm thủy sản Tỷ đồng 27,5 25,0 22,4 -4,4
Cơ cấu kinh tế:
- Công nghiệp - Xây dựng % 40,1 71,5 76,7 -
- Thương mại - Dịch vụ % 16,5 23,8 19,4 -
- Nông lâm thủy sản % 37,4 4,7 3,9 -

Về lịch sử hình thành, địa danh Nam Ô xuất phát từ vị trí "cửa ô phía Nam" của nước Đại Việt sau sự kiện vua Champa Chế Mân dâng hai châu Ô và Lý vào năm 1306. Các đợt di dân tiếp theo diễn ra vào năm 1471 dưới thời vua Lê Thánh Tông và năm 1558 khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Đàng Trong. Phủ biên tạp lục ghi nhận vào cuối thời chúa Nguyễn, làng có khoảng 50 người làm nghề phải nộp thuế biệt nạp thay cho thuế đinh (30 người nộp 1 thùng nước mắm/năm; 20 người nộp 2 vò mắm mòi và 1 vò mắm tép/năm). Đến thời nhà Nguyễn, mức thuế biệt nạp tăng lên 8 vò nước mắm/người/năm, kèm thêm mắm ướp, mắm mòi và mắm cá thu. Năm 1934, cụ Cửu Mai (Ngô Mai, 18?? - 1957) truyền dạy nghề làm pháo nổ và pháo hoa cho dân làng, đưa Nam Ô thành làng pháo nổi tiếng cho đến khi bị cấm vào năm 1994. Sau năm 1994, người dân khôi phục lại nghề nước mắm và đến năm 2009, nhãn hiệu tập thể "Nước mắm Nam Ô" đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận bảo hộ.


Chương 2: Biến đổi làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô trong quá trình đô thị hóa

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích chi tiết các phương diện biến đổi của làng nghề từ năm 2003 đến năm 2018.

1. Khái quát đô thị hóa ở Đà Nẵng và tác động đến địa bàn: Từ mốc đô thị loại 1 năm 2003, Đà Nẵng mở rộng không gian đô thị hơn 3 lần theo định hướng "mở rộng bờ sông, kéo dài bờ biển". Diện tích đất xây dựng đô thị từ gần 9.000 ha (năm 2015) quy hoạch lên 20.010 ha (năm 2020) và dự kiến đạt 37.000 ha (năm 2030). Đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn 2010 - 2015 từ ngân sách ước đạt 32.000 tỷ đồng; không gian xanh đạt 6,1 m²/người; tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì trên 10%/năm. Cùng với đó là việc thực hiện các chương trình xã hội đặc thù ("5 không", "3 có", "Năm văn hóa, văn minh đô thị 2015"). Tuy nhiên, quá trình này cũng làm gia tăng dòng người nhập cư (chiếm 12,5% dân số toàn thành phố năm 2012 với 219.675 nhân khẩu đăng ký thường trú, tạm trú) và làm nảy sinh các bất cập trong quản lý quy hoạch phân tán, chắp vá. Tại phường Hòa Hiệp Nam, thu ngân sách tăng từ 1,125 tỷ đồng (2010) lên 2,146 tỷ đồng (2015), số hộ nghèo giảm từ 434 hộ (2012) xuống 101 hộ (2015), tuyến đường biển Nguyễn Tất Thành (khởi công 2002) đã làm thay đổi căn bản diện mạo địa phương.

2. Biến đổi về địa giới, cảnh quan và tổ chức hành chính: Bộ máy quản lý chuyển đổi từ thiết chế trưởng làng (thời kỳ trước 1975) sang hệ thống chính quyền phường với các tổ dân phố. Năm 2010, thành phố phê duyệt quy hoạch Dự án Khu du lịch sinh thái Nam Ô với quy mô 36 ha (dọc hơn 3 km bờ biển và sông Cu Đê, vốn đầu tư trên 3.000 tỷ đồng, dự kiến xây dựng 57 biệt thự nghỉ dưỡng 5 sao). Dự án giải tỏa toàn bộ vệt dân cư 50 m tính từ mép biển vào trong làng. Từ năm 2011, có 606 hộ dân (gồm 167 hộ ngư dân và khoảng 80 hội viên làng nghề) thuộc 55 tổ dân phố bị di dời, giải tỏa. Chủ đầu tư dựng hàng rào tôn bao bọc khu đất dự án, chia cắt ngư dân với bãi biển và khu vực tập kết thuyền bè, đồng thời gây áp lực di dời cụm di tích văn hóa tâm linh (Lăng Cá Ông, Dinh Âm Hồn, Miếu Bà Liễu Hạnh) dẫn đến phản ứng của cộng đồng cư dân.

3. Quy trình sản xuất, nguồn lực và thị trường tiêu thụ:

  • Tổ chức sản xuất: Toàn làng có 104 hộ sản xuất đơn lẻ, 15 cơ sở sản xuất và 01 Hợp tác xã. Mặt bằng chật hẹp, phổ biến từ 40 - 50 m², nhiều hộ chỉ có 6 - 20 m², số hộ có diện tích 100 - 150 m² rất ít. Tổng vốn đầu tư của các hộ đạt trên 2,5 tỷ đồng; trong đó 20% số hộ có mức vốn 60 - 120 triệu đồng, còn lại phổ biến từ 20 - 40 triệu đồng. Vốn vay Chương trình 120 giải quyết việc làm chỉ đáp ứng cho 30 hộ với tổng số tiền 300 triệu đồng. Có tới 90% hội viên thiếu vốn mở rộng quy mô.
  • Kỹ thuật truyền thống: Sử dụng cá cơm than tươi đánh bắt vụ tháng 3 âm lịch kết hợp với muối Sa Huỳnh. Tỷ lệ phối trộn: 10 phần cá : 3-4 phần muối (2 kg cá cho ra 1 lít/kg nước mắm cốt). Cá được chượp trong chum, nén đá ép trong 3 tháng đầu, sau đó khuấy đảo bằng mái chèo và ủ liên tục từ 12 đến 15 tháng. Nước mắm sau khi rút được lọc qua 2 lớp vải và chiết sang chum sành đặt nơi thoáng mát để bay bớt hơi mặn, chuyển màu đỏ sậm cánh gián và đạt độ đạm tự nhiên 28 - 30°N. Hạn chế kỹ thuật hiện nay là việc sử dụng nhiều loại vật chứa chắp vá (chum sành, thùng nhựa, bể xi măng) và bao bì đóng chai, dán nhãn chưa đồng bộ.
  • Thị trường và sản lượng: Nước mắm Nam Ô tiêu thụ 100% tại thị trường nội địa (chủ yếu bán lẻ cho khách quen, tại chợ Hòa Khánh, trạm dừng chân Hải Vân Nam, các cửa hàng 704 và 816 Nguyễn Lương Bằng; 90% sản phẩm tiêu thụ vào dịp Tết Nguyên đán).

Bảng 2: Sản lượng và doanh thu các sản phẩm tại làng nghề Nam Ô (2013 - 2017)

STT Tên sản phẩm ĐVT Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
1 Mắm đặc biệt (Sản lượng) Lít 60.000 70.000 80.000 90.000 100.000
- Doanh thu Ngàn đồng 2.700.000 3.500.000 4.000.000 4.950.000 5.500.000
2 Mắm loại 1 (Sản lượng) Lít 30.000 35.000 40.000 45.000 50.000
- Doanh thu Ngàn đồng 900.000 1.050.000 1.200.000 1.350.000 1.500.000
3 Mắm ngắn ngày (Sản lượng) Lọ 3.000 3.000 3.000 3.000 3.000
- Doanh thu Ngàn đồng 90.000 90.000 120.000 135.000 135.000
4 Cá khô các loại (Sản lượng) Kg 10.000 10.000 10.000 10.000 10.000
- Doanh thu Ngàn đồng 700.000 700.000 700.000 800.000 450.000
Tổng doanh thu Ngàn đồng 4.390.000 5.340.000 6.020.000 7.235.000 7.585.000
  • Lực lượng lao động: Lao động làng nghề tăng chậm, từ 220 người (2003) lên 400 người (2008), chiếm tỷ trọng bình quân khoảng 11,12% tổng số lao động làng nghề toàn thành phố Đà Nẵng. Mức thu nhập bình quân của người làm mắm đạt từ 1 - 3 triệu đồng/hộ/tháng.

Bảng 3: So sánh quy mô vốn đầu tư trên một lao động tại các làng nghề Đà Nẵng

Làng nghề Quy mô lao động (người) Vốn đầu tư (triệu đồng) Vốn đầu tư/lao động (triệu đồng/người)
Bánh khô mè Cẩm Lệ 40 60 1,5
Chiếu cói Cẩm Nê 2 2 1,0
Nước mắm Nam Ô 3 6 2,0

4. Biến đổi về văn hóa và xã hội: Sự chuyển dịch cơ cấu việc làm khiến thanh niên địa phương (độ tuổi 18 - 30) dần rời bỏ nghề biển truyền thống để chuyển sang làm việc tại các nhà máy thuộc Khu công nghiệp Hòa Khánh (thống kê có 1.056 thanh niên làm công nhân, 379 người đi làm ăn xa hoặc học nghề khác). Không gian sinh hoạt văn hóa dân gian bị chia cắt do việc giải tỏa tái định cư. Tín ngưỡng thờ Cá Ông (Lăng Cá Ông xây dựng từ năm Gia Long thứ 1 - 1802, diện tích 360 m²) và Lễ hội Cầu ngư (tổ chức từ ngày 14 - 15/2 âm lịch hàng năm với các nghi lễ nghinh Ông, rước kiệu, tế bến, lễ chánh, hội đua thuyền, hát bội) tuy vẫn được duy trì nhưng quy mô bị thu hẹp do cộng đồng cư dân ngư nghiệp bị di dời phân tán.


Kết quả và đóng góp của khóa luận

Kết quả chính rút ra từ số liệu thực tế

  • Khóa luận làm rõ bức tranh đối lập giữa mức tăng trưởng doanh thu thương mại và sự suy giảm không gian vật chất của làng nghề: mặc dù sản lượng nước mắm đặc biệt tăng từ 60.000 lít (năm 2013) lên 100.000 lít (năm 2017) kéo theo tổng doanh thu tăng từ 4,39 tỷ đồng lên 7,585 tỷ đồng, song quy mô sản xuất thực tế bị đe dọa nghiêm trọng bởi việc giải tỏa 606 hộ dân (trong đó có 80 hộ làm nghề mắm và 167 hộ ngư dân).
  • Tác giả chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất trong chuỗi giá trị nước mắm Nam Ô là tính chất manh mún: 90% hộ thiếu vốn đầu tư, chu kỳ thu hồi vốn dài (12 - 15 tháng ủ chượp), thiếu kênh phân phối chính thức tại các siêu thị, trung tâm thương mại lớn, và 100% thị phần phụ thuộc tiêu thụ nội địa ngắn hạn.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất

  • Về kỹ thuật và chất lượng: Kiểm soát chặt chẽ quy trình ủ chượp truyền thống nhằm duy trì độ đạm tự nhiên từ 28 - 30°N; chuẩn hóa hệ thống bao bì đóng chai, nút niêm phong chống rò rỉ; tăng cường quản lý quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể "Nước mắm Nam Ô" để bảo vệ uy tín thương hiệu.
  • Về chính sách hỗ trợ vốn và đào tạo: Chính quyền địa phương và các tổ chức tín dụng cần mở rộng các gói vay ưu đãi lãi suất thấp (thông qua Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm 120); tổ chức tập huấn kiến thức quản trị kinh doanh, an toàn vệ sinh thực phẩm và hỗ trợ xúc tiến thương mại.
  • Về quy hoạch và du lịch: Đề nghị thành phố điều chỉnh quy hoạch Dự án Khu du lịch sinh thái Nam Ô theo hướng không bít lối xuống biển của dân chài; bảo tồn nguyên trạng cụm di tích văn hóa tâm linh (Lăng Ngư Ông, Dinh Âm Hồn, Miếu Bà Liễu Hạnh) và khu rừng nguyên sinh ghềnh đá Nam Ô; phát triển mô hình du lịch sinh thái cộng đồng kết hợp tham quan quy trình sản xuất mắm và trải nghiệm văn hóa lễ hội Cầu ngư.

Đóng góp học thuật của đề tài

  • Đây là công trình khóa luận chuyên khảo đầu tiên thuộc chuyên ngành Sư phạm Lịch sử đi sâu phân tích một cách toàn diện các tác động kinh tế, địa lý hành chính, kỹ thuật và văn hóa - xã hội của quá trình đô thị hóa đối với làng nghề nước mắm Nam Ô trong giai đoạn 2003 - 2018.
  • Cung cấp nguồn tư liệu điền dã thực chứng, ghi nhận trung thực tâm tư của các nghệ nhân, nhân chứng sống tại làng nghề trong giai đoạn giải tỏa mặt bằng thực hiện dự án đô thị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Nguồn số liệu thống kê về sản lượng và vốn của các hộ gia đình chủ yếu kế thừa từ báo cáo của Hội làng nghề và chính quyền địa phương theo từng mốc thời gian không liên tục; việc khảo sát hộ sản xuất mới thực hiện được trên quy mô chọn mẫu tại các tổ dân phố trọng điểm thuộc phường Hòa Hiệp Nam mà chưa mở rộng toàn diện sang các hộ làm mắm tại phường Hòa Hiệp Bắc (khối phố Kim Liên).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu so sánh tiến trình biến đổi của làng nghề nước mắm Nam Ô với các làng nghề truyền thống khác tại duyên hải miền Trung (như làng mắm Sa Huỳnh, Cà Ná, Phan Thiết); tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả thực tế của các đồ án điều chỉnh quy hoạch ven biển Đà Nẵng đối với sinh kế cộng đồng sau năm 2018.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Giảng viên, sinh viên các chuyên ngành Lịch sử, Lịch sử Địa phương, Sư phạm Lịch sử, Văn hóa học, Việt Nam học, Xã hội học và Quản lý Đô thị.
  • Nội dung giá trị: Khóa luận là tài liệu tham khảo tốt về phương pháp tiếp cận điền dã kết hợp xử lý tư liệu lịch sử địa phương; cung cấp thông tin chi tiết về kỹ thuật chế biến nước mắm cổ truyền xứ Quảng và các số liệu kinh tế - xã hội cụ thể của quận Liên Chiểu giai đoạn 1997 - 2017.

Câu hỏi thường gặp

1. Làng nghề nước mắm Nam Ô sử dụng nguyên liệu chính nào và tỷ lệ phối trộn theo kỹ thuật cổ truyền là bao nhiêu?
Làng nghề sử dụng nguyên liệu chính là cá cơm than tươi đánh bắt vào vụ tháng 3 âm lịch tại vùng biển Nam Ô và muối tinh hạt Sa Huỳnh. Tỷ lệ phối trộn truyền thống là 10 phần cá kết hợp với 3 đến 4 phần muối (trung bình 2 kg cá cơm than ủ chượp cho ra 1 lít nước mắm cốt đặc biệt).

2. Quy hoạch Khu du lịch sinh thái Nam Ô năm 2010 đã tác động cụ thể ra sao đến mặt bằng và dân cư làng nghề?
Dự án có quy mô quy hoạch 36 ha dọc ven biển và sông Cu Đê với tổng vốn đầu tư trên 3.000 tỷ đồng, dự kiến xây dựng 57 căn biệt thự hướng biển. Dự án yêu cầu giải tỏa trắng toàn bộ vệt dân cư cách bờ biển 50 m vào trong làng. Từ năm 2011, dự án đã khiến 606 hộ dân (gồm 167 hộ ngư dân và khoảng 80 hộ hội viên làng nghề làm mắm) thuộc 55 tổ dân phố phải di dời, phá dỡ nhà cửa để nhường đất sạch cho chủ đầu tư.

3. Cơ cấu kinh tế quận Liên Chiểu thay đổi như thế nào trong giai đoạn 1997 - 2011?
Trong giai đoạn 1997 - 2011, cơ cấu kinh tế quận Liên Chiểu chuyển dịch mạnh sang công nghiệp và dịch vụ: tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 40,1% lên 76,7% (tốc độ tăng bình quân 35,4%/năm); thương mại - dịch vụ tăng từ 16,5% lên 19,4% (tốc độ tăng bình quân 27,1%/năm); tỷ trọng nông lâm thủy sản giảm từ 37,4% xuống chỉ còn 3,9% (tốc độ tăng trưởng giảm bình quân -4,4%/năm do quá trình đô thị hóa làm thu hẹp quỹ đất sản xuất).

4. Tổng sản lượng và doanh thu mắm đặc biệt của làng nghề Nam Ô năm 2017 đạt bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê của Hội làng nghề, năm 2017 làng nghề sản xuất và tiêu thụ được 100.000 lít nước mắm đặc biệt với doanh thu 5,5 tỷ đồng. Tính chung tất cả các sản phẩm (mắm đặc biệt, mắm loại 1, mắm ngắn ngày, cá khô), tổng doanh thu của toàn làng nghề trong năm 2017 đạt 7,585 tỷ đồng.

5. Cụm di tích lịch sử - tâm linh gắn liền với văn hóa cư dân làng biển Nam Ô gồm những công trình nào?
Cụm di tích lịch sử - văn hóa tâm linh cốt lõi của làng gồm có: Lăng Cá Ông (xây dựng từ năm Gia Long thứ 1 - 1802, khuôn viên rộng 360 m², lưu giữ các hũ cốt Ông và là trung tâm tổ chức Lễ hội Cầu ngư rằm tháng 2 âm lịch), Dinh Âm Hồn (thờ tử sĩ và thập loại chúng sinh tử trận qua các thời kỳ chống Pháp từ năm 1858 và biến cố kinh đô 1885) và Miếu Bà Liễu Hạnh (gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu truyền thống của người Việt khi di cư vào vùng đất mới).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Hoàng Ngọc Hải đã phác họa bức tranh toàn cảnh về tiến trình chuyển biến kinh tế, không gian và văn hóa của làng nghề nước mắm Nam Ô dưới tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2003 đến năm 2018. Mặc dù sản lượng và doanh thu thương mại có xu hướng tăng trưởng, làng nghề đang phải đối mặt với nguy cơ đứt gãy không gian sinh tồn truyền thống do các dự án giải tỏa ven bờ biển và sự suy giảm lực lượng lao động trẻ kế cận. Công trình là tài liệu khoa học hữu ích cho công tác quản lý đô thị và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, khẳng định yêu cầu cấp thiết phải hài hòa giữa mục tiêu phát triển du lịch nghỉ dưỡng và quyền lợi sinh kế của cộng đồng ngư dân bản địa.