phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm 3 chƣơng với các nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Trình bày các vấn đề lý thuyết liên quan nhƣ: Vấn đề định danh, văn hóa ẩm thực, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, ẩm thực trong ngôn ngữ và ẩm thực trong tiếng Việt. Đây là chƣơng lý thuyết làm cơ sở cho những nghiên cứu của chƣơng 2 và chƣơng 3. Chƣơng 2: Tập trung phân tích các đặc điểm về nguồn gốc, cấu tạo, định danh, ngữ nghĩa và yếu tố văn hóa của từ ngữ ẩm thực trong tiếng Việt. Chƣơng 3: Chƣơng cuối của luận văn, ngoài trình bày một số lý thuyết về dịch thuật, vấn đề tƣơng đƣơng trong dịch thuật, luận văn chủ yếu tập trung vào phân tích các cách thức chuyển dịch từ ngữ ẩm thực tiếng Việt sang tiếng Anh.
Ngoài phần nội dung, luận văn còn có các phụ lục về từ ngữ ẩm thực trong tiếng Việt và từ ngữ ẩm thực tiếng Việt đƣợc chuyển dịch sang tiếng Anh. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Để có cơ sở lý thuyết làm nền tảng cho những vấn đề cần giải quyết của luận văn, chúng tôi đã cố gắng tiếp cận những tƣ tƣởng, ý kiến có giá trị của các nhà nghiên cứu. Chƣơng này, chúng tôi trình bày một số vấn đề lý 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuyết liên quan đến nội dung của luận văn nhƣ vấn đề định danh trong ngôn ngữ, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, ẩm thực Việt Nam trong văn hóa Việt Nam. Vấn đề định danh trong ngôn ngữ 1.
Định danh là gì? Khái niệm này đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, theo tác giả Vũ Thế Thạch (1996), định danh là sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan và trên cơ sở đó hình thành những khái niệm tƣơng ứng về chúng dƣới dạng các từ, cụm từ, ngữ và câu. Khi bàn về bản chất của quá trình định danh ngôn ngữ, tác giả Hoàng Lai (1970) đã trích dẫn ý kiến của Viện sĩ hàn lâm khoa học Nga B. A Serebrenikov về những nhân tố để tạo ra những đơn vị định danh. Đó là: - Những tri thức lịch sử, xã hội, văn hoá cho phép nhận ra những đặc điểm của sự vật, hiện tƣợng, chức năng của chúng, cần thiết phải phân biệt chúng với những sự vật, hiện tƣợng khác bằng cách cho chúng những tên gọi riêng.
- Cá nhân cũng giữ vai trò quan trọng vì chính cá nhân đã sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng để tạo ra các đơn vị định danh mới. - Tổ hợp âm, từ, từ tổ là phƣơng tiện làm tên gọi cho sự vật, hiện tƣợng. Theo triết học Mac - Lenin, các sự vật phân biệt nhau chính là ở “chất” của nó. Chất là “sự thống nhất hữu cơ những thuọc tính, những đặc trƣng phân biệt sự vật hay hiện tƣợng với sự vật hay hiện tƣợng khác” (Hoàng Lai, hiệu đính bản dịch Ngôn ngữ học đại cƣơng, Matxcơva, 1970).
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một nhân tố quan trọng khác ảnh hƣởng tới số phận của các đơn vị định danh mới là đơn vị định danh đó đƣợc xã hội chấp nhận hay không. Dầu sao cộng đồng xã hội cũng là nhân tố quyết định trong việc tạo đơn vị định danh mới. Và một nhân tố không kém phần quan trọng trong quá trình định danh là đặc điểm cấu trúc ngôn ngữ hay nói rộng hơn là loại hình ngôn ngữ. Chẳng hạn tiếng Việt, sử dụng các loại từ khác nhau nhƣ cái, cục, con, chiếc theo tuỳ theo sự phạm trù hoá.
Theo đó thì từ đƣợc nghiên cứu từ quan điểm của mối liên hệ sự vật của nó với thế giới khách quan ngoài ngôn ngữ. Còn bình diện ngữ nghĩa của việc nghiên cứu từ xem xét nội dung của các đơn vị từ vựng từ quan điểm của mối liên hệ bên trong hệ thống, bên trong từ. Việc nghiên cứu những đặc trƣng của sự biểu hiện bằng các đơn vị ngôn ngữ trƣớc hết gắn liền với việc nghiên cứu từ trong mối quan hệ của nó với đối tƣợng, sự vật xung quanh. Trong các ngôn ngữ khác nhau, các phƣơng pháp định danh cũng khác nhau, định danh theo từ căn, định danh từ phái sinh, định danh tổ hợp từ, định danh gián tiếp trên cơ sở các ý nghĩa liên hệ của từ.
Bằng các đơn vị, ngôn ngữ phản ánh hai phạm vi thực tế khách quan có quan hệ chặt chẽ với nhau: phạm vi sự vật, hiện tƣợng (danh từ) và phạm vi các thuộc tính, các quan hệ của sự vật hiện tƣợng đó (động từ, tính từ, trạng từ). Danh từ thƣờng biều hiện sự vật, hiện tƣợng ấy. Một số nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đƣa ra những nhận đinh về vấn đề định danh nhƣ Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Tu, Lý Toàn Thắng… Theo nhà nghiên cứu Lý Toàn Thắng (2002), chức năng định danh của tín hiệu ngôn ngữ đƣợc thể hiện trong chức năng giao tiếp và chức năng làm công cụ của tƣ duy. Cũng theo đó, các tên gọi là sản phẩm của tƣ duy trừu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tƣợng, chúng xuất hiện do nhu cầu phân biệt, cần nhận thức các sự vật, đối tƣợng và nói lên những kinh nghiệm, hiểu biết của con ngƣời về các sự vật, đối tƣợng đó.
Quá trình định danh sự vật phải tuân thủ các nguyên tắc tâm lí ngôn ngữ có tính phổ quát vốn chi phối: - Cách thức phân loại các sự vật; - Cách thức phạm trù hoá các sự vật; Còn theo tác giả Đỗ Hữu Châu (1983), chức năng định danh chỉ là một dạng của chức năng biểu vật. Từ đã có chức năng định danh thì có chức năng biểu vật. Nhờ các tên gọi mà sự vật, hiện tƣợng thực tế khách quan tồn tại trong lý trí của chúng ta, phân biệt đƣợc với các sự vật, hiện tƣợng khác cùng loại và khác loại. Vì các tên gọi làm cho tƣ duy trở nên rành mạch sáng sủa, cho nên một sự vật, hiện tƣợng trong thực tế khách quan chỉ thực sự trở thành một sự vật đƣợc nhận thức, một sự vật của tƣ duy khi nó đã có một tên gọi trong ngôn ngữ.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Tồn (2002) nhấn mạnh đến đặc trƣng văn hoá dân tộc trong vấn đề định danh. Đặc trƣng văn hoá dân tộc của định danh ngôn ngữ đƣợc biểu hiện trƣớc hết ở việc lựa chọn đặc trƣng của đối tƣợng để làm cơ sở cho tên gọi của nó. Trong quá trình tạo ra các từ, có ý nghĩa lớn lao là vấn đề lựa chọn đặc trƣng để lấy làm đối tƣợng để là cơ sở cho tên gọi đối tƣợng. Vai trò của việc lựa chọn này bị quy định bởi một loạt nhân tố, trong đó một phần thuộc về những đặc điểm sinh lý của con ngƣời, một phần thuộc về cơ chế của lời nói.
Mỗi khách thể ở thế giới khách quan có một hệ thống những thuộc tính và mối liên hệ khác nhau. Quá trình con ngƣời nhận thức đƣợc đặc tính, hay đặc trƣng nào đó là tiêu biểu, để nó chính là nó và để khu biệt nó với những đối tƣợng khác thì những đặc trƣng ấy cũng có tên gọi trong ngôn ngữ. Vấn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đề này có liên quan tới việc sử dụng đối tƣợng nào đó trong thực tiễn và phụ thuộc vào nhu cầu, mục đích của một cộng đồng ngôn ngữ nhất định. Đó là lí do mà mỗi dân tộc chọn đặc điểm để định danh theo cách riêng của mình, và cùng một đối tƣợng trong các ngôn ngữ khác nhau sẽ đƣợc gọi tên theo các cách khác nhau.
Cùng một đối tƣợng có thể đƣợc gọi tên trong các ngôn ngữ theo cách khác nhau phụ thuộc vào đối lập kiểu nào về tâm lí, lịch sử, dân tộc và xã hội đã làm cơ sở cho sự định danh. Quan điểm trên hoàn toàn hợp lý, hiển nhiên, sự đối lập làm cơ sở cho sự định danh ấy phụ thuộc vào chủ thể định danh. Việc tách chọn đặc trƣng của các khách thể khi gọi tên chúng cũng làm nên đặc trƣng văn hoá - dân tộc của từ vựng trong một ngôn ngữ nhất định. Chính việc chọn đặc trƣng làm cơ sở cho tên gọi đối tƣợng đã quy định hình thái bên trong của từ.
Đó là đặc trƣng định danh đƣợc biểu thị bằng từ và tham gia với tƣ cách một thành tố đặc biệt vào thành phần ý nghĩa từ vựng của từ. Nhƣ vậy có thể nói, việc tìm hiểu một lớp từ nào đó trong vốn từ vựng của mỗi tộc ngƣời sẽ giúp chúng ta hiểu biết thêm về cách tƣ duy, cách lựa chọn đặc điểm để mỗi sự vật “có tên”, và cả lối sống, văn hoá của cƣ dân, tộc ngƣời đó. Và vì vậy, có thể nói thông qua nghiên cứu lớp từ ẩm thực tiếng Việt chúng ta sẽ có thể hiểu biết về nếp sinh hoạt mà biểu hiện cụ thể là các món ăn trong đời sống, hiểu về “văn hoá ứng xử với môi trƣờng”, hiểu về nếp sinh hoạt của cƣ dân lúa nƣớc, về các món ăn các vùng làm nên những nét đặc trƣng văn hóa ở ngƣời Việt. Các phương thức định danh trong ngôn ngữ Trong bài nghiên cứu của Vũ Thế Thạch (1996) có chỉ ra rằng khi định danh một khái niệm mới, chủ thể định danh có thể sử dụng một trong ba cách sau: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Sử dụng một đơn vị từ vựng đã có sẵn trong ngôn ngữ và chuyển nghĩa nó.
Tên gọi đƣợc tạo ra bằng cách này chính là đơn vị định danh thứ sinh. - Tạo ra một đơn vị hoàn toàn mới. Đó là đơn vị định danh nguyên sinh. - Vay mƣợn từ ngôn ngữ khác.
Trong các ngôn ngữ khác nhau, các phƣơng thức định danh, các dạng định danh cũng khác nhau. Theo cấu trúc hình thái học có thể là: - Định danh từ phái sinh. - Định danh tổ hợp từ. - Định danh trên cơ sở nghĩa liên hệ của từ.
Việc xác định các dạng định danh trong tiếng Việt liên quan tới việc xác định đặc điểm cấu tạo từ của nó. Trong tiếng Việt có một số lƣợng lớn một âm tiết. Đó là những đơn vị định danh cơ bản, định danh gốc, dạng định danh tạo từ nhƣ đất nước, đi lại, ăn chơi…; định danh tổ hợp từ nhƣ liên hợp quốc, nhà nghỉ… Tác giả Nguyễn Đức Tồn (2002) đã tổng hợp hai trƣờng hợp về cách định danh. Theo ý kiến của các đại biểu thuộc trƣờng phái ngôn ngữ học Pra-ha ta có: - Định danh bằng từ và từ tổ (đây là định danh từ vựng).