Chương 1: Khái quát về làng nghề chè truyền thống Lay (xã Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên). - | Chương 2: Vai trò của nghề chè truyền thống với đời sống kinh tế làng Lầy. Chương 3: Thực trạng biến đối về văn hóa - xã hội của làng Lay. NOI DUNG CHUONG 1: KHAI QUAT VE LANG NGHE CHE TRUYEN THONG LAY (xã Minh Đức, huyện Phố Yên, tinh Thái Nguyên) 1.
Lịch sử làng nghề chè truyền thống Lầy mL 1. Lịch sử hình thành lang Lay Thôn, làng là một thuật ngữ dùng để chỉ một đơn vị hành chính ở nông thôn bao hàm là một tập hợp cộng đồng dân cư trên một vùng lãnh thổ xác định. Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt Vietlex, trung tâm từ điển học, NXB Đà Nẵng, “Làng là đơn vị dân cư nhỏ nhất ở nông thôn ở vùng đồng bằng và trung du Việt Nam thường có đời sống riêng về nhiều mặt” [38; 698]. Như vậy ta có thé hiểu làng là một khối người quây quan ở một nơi nhất định trong nông thôn.
Làng là một tế bào của xã hội của người Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quan tụ lại cùng sinh sống và sản xuất. Ở nước ta làng xã được chia làm 4 loại chính: Làng thuần nông, làng buôn bán, làng nghề và làng chài. Làng Lầy thuộc xã Minh Đức huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên là làng thuần nông nghiệp.
Thời xa xưa người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề nông, trồng lúa nước là chính, nhưng sau này do vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn cho việc trồng và phát triển cây chè, lang đã chuyển dan từ nền nông nghiệp canh tác độc canh cây lúa sang trồng sản xuất cây chè. Hiện nay, làng Lầy thuần nông nghiệp đã trở thành làng nghề trồng cây chè truyền thống, lấy cây chè làm cây chủ lực trong nền kinh tế của người dân nơi đây. Trước năm 1945, xóm Lay 5 có tên là thôn Vườn Tràm vi ở đây nhiều cây Tràm, xóm Lay 6 có tên là thôn Ấp Đồi vì dan cư ở đây sinh sống quanh một cái đổi nên gọi là Ấp Đồi, 2 thôn Vườn Tràm và Ấp Đồi về mặt hành chính thuộc xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Sau năm 1945 tên gọi thôn Ấp Đồi và thôn Vườn Tràm không còn nữa mà thay vào đó là tên gọi làng Lay.
Tên gọi lang là làng “Lay” do: Thứ nhất, nghe các cụ ở làng kể lại, trước đây, khoảng 2/3 diện tích canh tác của làng là đầm lầy, hay còn gọi là “ruộng thụt”, chỉ duy nhất ở làng này là diện tích ruộng lay, thụt lớn. Gọi là “ruộng thụt” là do ruộng lầy đến mức người dân cấy lúa đất ruộng lầy và người bị thụt xuống ngập quá đầu gối, có nơi ngập cả 1⁄2 người. Ở làng có mấy cánh đồng đều bị lầy như vậy, như đồng Ao Chu, đồng Cộc Mốc, đồng Nếp, đồng Thụt hay đồng Na Năng, đồng Cửa Đình, đồng Dốc Đá. Các cánh đồng trên rất lầy nên người lao động muốn canh tác trồng lúa ở những cánh đồng này hầu hết sử dụng quốc để làm đất cấy chứ không sử dụng được sức kéo của trâu, bò hay làm bằng máy cày, máy bừa được.
Thứ hai, do đường làng trước đây chưa được sửa sang và nâng cấp, do vậy cứ trời mưa là đường lại rat ban và lay, lầy đến mức. không đi xe được, hoặc đi bộ cũng lo bị trượt chân. Vì hai lý do đó nên làng mới có tên gọi là làng Lầy. Từ đó thôn Vườn Tràm có tên gọi là xóm Lay trên và thôn Ấp Đồi là xóm Lay dưới.
Năm 1954, do phân chia lại hành chính, xã Minh Đức được thành lập, xóm Lay trên và xóm Lay đưới tách khỏi xã Phúc Thuận trở thành 2 xóm thuộc - xã Minh Đức. Năm 1960, lang Lay cùng sản xuất và sinh hoạt văn hóa làng chung tại nhà kho của Hợp tác xã Lầy hay còn gọi là “sân đập lúa của làng”. Gọi là hai xóm Lay trên và xóm Lay dưới nhưng hai xóm đều dưới một bộ máy quản lí: một trưởng xóm, công an viên của xóm, cùng chung các đoàn thể như Hội Phụ Nữ, hội Cựu Chiến Binh, hội Nông dân, đoàn Thanh Niên. Hai xóm tuy hai mà là một đều thuộc làng Lầy, chưa tách riêng biệt về mặt hành chính.
Những năm đó xã Minh Đức có bao nhiều làng là có bấy nhiêu hợp tác xã, mỗi làng là một hợp tác xã, làng Lay là thuộc hợp tác xã Lay. Năm 1964, hợp tác xã Lầy cũng không còn tồn tại nữa mà sáp nhập với hợp tác xã Thuận Đức và hợp tác xã Hồ thành một hợp tác xã lấy tên là hợp tác xã Thuận Đức. Hợp tác xã Thuận Đức này là một trong 3 hợp tác xã của xã Minh Đức lúc bấy giờ, hai hợp tác xã còn lại là hợp tác xã Đầm Mương và hợp tác xã Hợp Thịnh. Làng Hồ có xóm Hồ 1 và xóm Hồ 2, làng Thuận Đức có xóm Thuận Đức 3 và xóm Thuận Đức 4, làng Lay có xóm Lay 5 và xóm Lay 6.
Vì vậy, gọi xóm Lay 5 và xóm Lay 6 cũng hình thành từ năm 1964 đến thời điểm hiện tại. Hai xóm Lay 5 và xóm Lay 6 vẫn cùng chung một trưởng xóm, chung một nhà văn hóa, chung về mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt, cùng có những nét văn hóa tương đồng. Cuối năm 1976, trong xã Minh Đức không còn tồn tại 3 hợp tác xã Thuận Đức, hợp tác xã Dam Mương va hợp tác xã Hợp Thịnh hoạt động riêng biệt ở từng khu vực nữa mà tất cả 03 hợp tác xã này hợp nhất thành một hợp tac xã nông nghiệp toàn xã duy nhất đó là hợp tác xã Minh Đức, làng Lay khi ấy cũng thuộc hợp tác xã toàn xã Minh Đức. Năm 1989, sau khi hợp tác xã Minh Đức tan rã, chế độ hợp tác xã bị phá bỏ do sản xuất đình trệ, làm ăn tập thể không tạo ra thu nhập, đời sống của người dân khổ cực.
Lãnh đạo chính quyền địa phương tiến hành đo đạc và phân chia lại ruộng đất. Xóm Lầy 5 và xóm Lay 6 cũng thời điểm đó chính thức tách ra thành 2 xóm thuộc làng Lay. Hai xóm chính thức riêng biệt về mặt hành chính và cả về sinh hoạt văn hóa. Ngày nay, tuy là 2 xóm riêng biệt nhau, nhưng chính vì lí do trên nên những điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội của hai làng không có nhiều sự khác biệt.
Hơn nữa, cả hai xóm về vị trí địa lý nằm cạnh nhau và cùng được công nhận là làng nghề chè truyền thống vì vậy trong bài nghiên cứu sẽ đề cập đến cả hai xóm Lay, thuộc làng Lay. Theo lời của các cụ bô lão trong làng ké lại thì những cư dân đầu tiên đến lập làng Lầy từ cách đây khoảng hơn một trăm năm là các cụ Tổ của Ba dòng họ: Nguyễn, Đỗ, Ngô. Phổ Yên là quê hương của dòng họ Đỗ, tại xã Tân Lập có đền thờ của danh nhân cụ Đỗ Cận, người được ghi danh ở văn miéu Quốc Tử Giám. Ba dòng họ Nguyễn, Đỗ, Ngô chiếm gần 1/3 tổng số cư dân trong làng (xóm Lay 5).
Sau 3 dong họ đó đã có nhiều dòng họ khác cũng đến nhập cư như họ Cao, họ Đặng, họ Lưu, họ Vũ, họ Phạm, họ Đoàn. Các | dòng họ này cũng đến làng sau đó chỉ là những dòng họ nhỏ, ít người nhưng cũng có nhiều ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa trong làng. Hiện nay, làng không có một dòng họ nào có nhà thờ dòng họ hay gia pha nao còn lại, kể ca các đòng họ lớn trong làng. Các tư liệu hầu hết chỉ là truyền miệng hay từ những cụ cao tuổi còn sống trong làng.2 Lịch sử phát triển nghề chè truyền thông ở làng Lay a) Truyén thống là thuật ngữ dùng dé chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của một cộng đồng người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giải thích khái niệm: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.” Những nghề truyền thống thường được truyền trong một gia đình, một dòng họ, một làng, một vùng. Trong những làng nghề truyền thống, đa số người dân đều hành nghề truyền thống đó. Ngoài ra, họ còn có thể phát triển những. nghề khác, những nghề này chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với nghé truyền thống.
b) Nghề truyền thống (theo Thông tư 116/2006/TT - BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) giải thích rằng nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt và được lưu truyền và phát triển ngày này hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền [9; 52] và phải đạt 03 tiêu chí sau: Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc. Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Các tiêu chí xác định làng nghề Làng nghề được công nhận (theo Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phải đạt 03 tiêu chí sau: Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn.
Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Theo Vũ Từ Trang: “. làng nghề, phường nghề là nơi lưu giữ nghề thủ công lâu đời.
Nghề thủ công đó, đã thu hút hầu hết lao động chính ở vùng đó tham gia và tạo ra giá trị kinh tế chính cho khu vực nơi đó” [45; 1 1]. Theo nhóm tác giả Mai Thế Hởn, GS. Hoàng Ngọc Hòa, PGS. TS Vũ Văn Phúc cho rằng: “làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập.
Thu nhập từ cái nghề đó chiếm tỷ lệ cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng” [23; 13].