Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu làng xã và các thiết chế kinh tế - xã hội nông thôn truyền thống là một trong những chủ đề trọng tâm của ngành Việt Nam học. Tại Việt Nam, hệ thống làng nghề đã hình thành và phát triển qua nhiều thế kỷ với khoảng 2.017 làng nghề phân bố không đồng đều (khu vực miền Bắc tập trung hơn 70% tổng số làng nghề cả nước). Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, việc duy trì, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.

Tỉnh Thái Nguyên có thế mạnh tự nhiên và lịch sử lâu đời gắn liền với cây chè, khẳng định thương hiệu "Đệ nhất danh trà" qua các kỳ Liên hoan Trà quốc tế năm 2011 và 2013. Để chuẩn hóa công tác quản lý và bảo tồn, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Quyết định số 38/2012/QĐ-UBND ngày 31/10/2012 về "Quy chế xét công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên". Tính đến thời điểm nghiên cứu (năm 2014), toàn tỉnh có khoảng 90 làng nghề và làng nghề truyền thống, trong đó có gần 70 làng nghề chuyên sản xuất, chế biến chè.

Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu về làng nghề chè truyền thống (làng Lầy, xã Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên)" do sinh viên Đỗ Thị Hoa thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Nguyễn Lê (Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Khái quát điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử hình thành làng Lầy và tiến trình phát triển của nghề trồng, chế biến chè truyền thống tại địa phương.
  2. Đánh giá quy mô sản xuất (mô hình hộ gia đình và mô hình kinh tế trang trại), phân tích vai trò của nghề chè đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn làng Lầy.
  3. Khảo sát thực trạng những biến đổi về văn hóa - xã hội dưới tác động của nghề chè; từ đó đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp phát triển bền vững làng nghề.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Làng nghề trồng và chế biến chè truyền thống Lầy, bao gồm hai đơn vị hành chính cơ sở là xóm Lầy 5 và xóm Lầy 6.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xóm Lầy 5 và xóm Lầy 6 thuộc xã Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào thực trạng sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội giai đoạn 2000 - 2013, kết hợp khảo cứu nguồn gốc lịch sử làng từ thập niên 1950 đến sau mốc đổi mới năm 1989.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu sử dụng hệ thống khái niệm chuẩn mực về làng xã, làng nghề và làng nghề truyền thống:

  • Định nghĩa về "Làng" theo Từ điển Tiếng Việt (Trung tâm Từ điển học Vietlex, NXB Đà Nẵng): Làng là đơn vị cư trú và tổ chức xã hội cơ bản ở nông thôn vùng đồng bằng và trung du.
  • Khái niệm và tiêu chí xác định nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Nghề truyền thống phải hình thành trên 50 năm, mang bản sắc văn hóa dân tộc; Làng nghề cần có tối thiểu 30% tổng số hộ tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và sản xuất ổn định từ 2 năm trở lên.
  • Các tiêu chí công nhận làng nghề cấp tỉnh theo Quyết định số 38/2012/QĐ-UBND ngày 31/10/2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên.
  • Quan điểm lý thuyết về cơ cấu kinh tế làng nghề và sự phân công lao động nông thôn của các học giả: Vũ Từ Trang (2001), Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hòa, Vũ Văn Phúc (2000).
  • Khung quy chuẩn kỹ thuật trong nông nghiệp: Quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu (GlobalGAP).

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng cách tiếp cận liên ngành của Việt Nam học, phối hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp khảo sát điền dã và nghiên cứu thực địa: Trực tiếp điều tra tại xóm Lầy 5 và xóm Lầy 6; phỏng vấn sâu các nhân chứng lịch sử, người cao tuổi trong làng (cụ Đỗ Đình Thi, bác Ngô Đăng Hòa, bác Ngô Quang Bộ, anh Nguyễn Văn Sơn), cán bộ địa chính xã và quản lý trang trại chè Vạn Tài để khai thác nguồn tư liệu truyền miệng, tư liệu vật chất khi địa phương không còn lưu giữ gia phả dòng họ.
  • Phương pháp định lượng và thống kê: Thu thập, xử lý và phân loại các bảng biểu số liệu thống kê về diện tích đất canh tác, sản lượng chè búp tươi, sản lượng chè búp khô, doanh thu và cơ cấu lao động giai đoạn 2000 - 2013.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Đối chiếu sự chuyển dịch diện tích giữa nhóm cây lương thực và cây công nghiệp; so sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình kinh tế hộ gia đình truyền thống và mô hình liên kết trang trại doanh nghiệp.

Nguồn dữ liệu

  • Báo cáo tổng hợp tình hình kinh tế - xã hội, báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh làng nghề năm 2011 và 2013 của UBND xã Minh Đức.
  • Hồ sơ, tờ trình đề nghị xét duyệt công nhận làng nghề chè truyền thống của UBND xã Minh Đức ngày 14/01/2013.
  • Số liệu địa chính hiện trạng sử dụng đất làng Lầy năm 2009 và số liệu quản lý sản xuất của Trang trại chè thuộc Công ty Cổ phần Chè Vạn Tài.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về làng nghề chè truyền thống Lầy (xã Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên)

Chương 1 tái hiện tiến trình lịch sử, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và đặc điểm dân cư của làng Lầy:

  • Lịch sử hình thành làng Lầy: Trước năm 1945, xóm Lầy 5 có tên là thôn Vườn Tràm, xóm Lầy 6 là thôn Ấp Đồi, đều thuộc xã Phúc Thuận. Tên gọi "Lầy" xuất phát từ đặc trưng tự nhiên khi xưa: khoảng 2/3 diện tích canh tác là đầm lầy ("ruộng thụt" ngập quá đầu gối đến nửa người tại các đồng Ao Chu, Cộc Mốc, Nếp, Thụt, Na Năng, Cửa Đình, Dốc Đá, phải dùng cuốc chứ không dùng được trâu cày) và đường sá lầy lội mùa mưa. Qua các giai đoạn điều chỉnh hành chính (thành lập xã Minh Đức năm 1954; Hợp tác xã Lầy năm 1960; Hợp tác xã Thuận Đức năm 1964; Hợp tác xã toàn xã Minh Đức năm 1976), đến năm 1989 khi HTX tan rã và chia lại ruộng đất, xóm Lầy 5 và xóm Lầy 6 chính thức tách thành hai xóm độc lập nhưng vẫn duy trì chung không gian văn hóa - sinh kế. Ba dòng họ đầu tiên đến lập làng cách đây hơn 100 năm là họ Nguyễn, họ Đỗ (gắn với danh nhân Đỗ Cận tại Tân Lập) và họ Ngô, sau đó có thêm các dòng họ Cao, Đặng, Lưu, Vũ, Phạm, Đoàn.
  • Lịch sử phát triển nghề chè: Cây chè gắn bó với người dân từ những năm 1950. Ban đầu, người dân thu hái chè tươi bán cho Nông trường chè Bắc Sơn (thành lập năm 1957, đổi tên thành Xí nghiệp chè Bắc Sơn năm 1994). Khoảng 10 năm trở lại đây, các hộ đã tự đầu tư nhà xưởng, máy sao chè để chế biến thành phẩm chè khô. Ngày 11/09/2013, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành quyết định chính thức công nhận xóm Lầy 5 và xóm Lầy 6 là Làng nghề chè truyền thống cấp tỉnh. Các giống chè cành mới năng suất cao (Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, TRI 777, PH1, Bát Tiên) dần thay thế giống chè hạt truyền thống.
  • Điều kiện tự nhiên: Làng Lầy mang đặc trưng địa hình đồi núi thấp trung du xen kẽ ruộng bậc thang; đất đồi feralit trên đá mẹ, đất phù sa cổ và đất pha cát thoát nước tốt, thích hợp cho cây chè lâu năm. Nguồn nước tưới dồi dào từ sông Đất (bắt nguồn từ Tam Đảo), hồ Núi Ché và mạng lưới ao hồ tự nhiên. Làng nằm trong tiểu khí hậu sườn Đông dãy núi Tam Đảo (cao ~1.000 m), dãy núi đóng vai trò bức bình phong chắn nắng gắt buổi chiều, tạo ánh sáng tán xạ và độ ẩm thích hợp cho phẩm chất búp chè.
  • Điều kiện kinh tế - xã hội: Năm 2013, làng có gần 200 hộ dân (xóm Lầy 5 có hơn 90 hộ, xóm Lầy 6 có hơn 80 hộ) với trên 650 nhân khẩu, chủ yếu là người Kinh cùng các nhóm dân tộc Sán Dìu, Thổ, Dao, Mán. Lực lượng trong độ tuổi lao động chiếm hơn 50% dân số, trong đó trên 70% tham gia trực tiếp vào sản xuất chè.
Tiêu chí dân số và lao động (Năm 2013) Xóm Lầy 5 Xóm Lầy 6 Toàn làng Lầy
Số hộ gia đình (hộ) > 90 > 80 Gần 200
Tỷ lệ hộ làm nghề chè (%) 100% 92% > 95%
Tổng số nhân khẩu (người) - - > 650
Tỷ lệ lao động tham gia làm nghề chè (%) > 70% > 70% > 70%

Chương 2: Vai trò của nghề chè truyền thống với đời sống kinh tế thôn Lầy

Chương 2 phân tích quy mô sản xuất và sự biến chuyển trong cơ cấu kinh tế địa phương:

  • Quy mô sản xuất hộ gia đình: Toàn làng có gần 60 ha chè, hơn 150 hộ với trên 300 lao động chính (bình quân 2 lao động/hộ). Các hộ gia đình có thâm niên làm chè lâu đời tiêu biểu gồm: bác Ngô Đăng Hòa (>55 năm), cụ Đỗ Đình Thi (>53 năm), cụ Dương Văn Thìn (>52 năm) ở xóm Lầy 5; ông Nguyễn Văn Gừng, ông Nguyễn Văn Tửu (>40 năm) ở xóm Lầy 6. Hộ có diện tích lớn nhất làng là gia đình chú Cao Việt Cường (xóm Lầy 5) với hơn 1.440 m² chè hạt và trên 5.400 m² chè cành giống mới.
Chỉ tiêu sản xuất kinh doanh năm 2011 Xóm Lầy 5 Xóm Lầy 6 Tổng cộng làng Lầy
Số hộ tham gia làm nghề (hộ) 84 71 155
Số lao động làm nghề (người) 168 142 310
Sản lượng chè búp khô (tấn) 35 32 67
Tổng doanh thu (triệu đồng) 3.500 3.200 6.700
Giá trị sản xuất công nghiệp (triệu đồng) - - 5.000
Thu nhập bình quân (triệu đồng/người/tháng) 2,0 - 2,5 2,0 - 2,5 2,0 - 2,5
  • Mô hình kinh tế trang trại (Trang trại chè Vạn Tài): Khởi đầu từ năm 2001 (thuộc Công ty TNHH Quang Anh, sau chuyển nhượng cho HTX/Công ty CP Chè Vạn Tài) với diện tích gần 3,8 ha chuyên trồng giống chè cành chất lượng cao phục vụ chế biến chè Ô long xuất khẩu sang Đài Loan. Năm 2009, trang trại là đơn vị đầu tiên tại địa phương đạt chứng nhận GlobalGAP trên cây chè. Trang trại giải quyết việc làm thường xuyên cho trên 60 lao động địa phương (thời điểm thu hái rộ vụ mùa lên tới 100 người).
Sản lượng và năng suất chè khô Trang trại Vạn Tài Năm 2005 Năm 2010 Năm 2012 Năm 2013
Sản lượng chè khô (tạ) 23 75 108 118
Năng suất bình quân (tạ/ha) 6 20 28 31
Cơ cấu lao động tại Trang trại Chè Vạn Tài (người) Năm 2001 Năm 2005 Năm 2010 Năm 2013
Lao động thu hái chè 15 25 35 42
Lao động chế biến (sao, vò chè) 6 10 14 16
Lao động chăm sóc (làm cỏ, bón phân) 10 8 6 5
Tổng số lao động thường xuyên 31 43 55 63
  • Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
    • Chuyển dịch cơ cấu cây trồng: Phá vỡ thế độc canh cây lúa và các nghề phụ tự cấp (cuối 1979 - 1980 làng từng có nghề đan "quang nâu" từ dây rừng để mưu sinh trong thời bao cấp khó khăn, nghề này mất hẳn sau năm 1989). Diện tích cây chè tăng nhanh từ 25 ha (năm 2000) lên 54 ha (năm 2013), trong khi diện tích cây lương thực giảm từ 58 ha xuống 42 ha.
Cơ cấu diện tích cây trồng làng Lầy (ha) Năm 2000 Tỷ trọng 2000 (%) Năm 2013 Tỷ trọng 2013 (%)
Cây công nghiệp (cây chè) 25 22% 54 40%
Cây lương thực (lúa, ngô) 58 50% 42 31%
Cây ăn quả 15 13% 18 13%
Cây trồng khác 17 15% 21 16%
Tổng diện tích đất canh tác 115 100% 135 100%
  • Tăng trưởng doanh thu: Doanh thu làng nghề tăng mạnh từ 6.700 triệu đồng (năm 2011) lên mức ước đạt gần 17.000 triệu đồng (năm 2013), trong đó xóm Lầy 5 đạt hơn 8.000 triệu đồng và xóm Lầy 6 đạt trên 7.000 triệu đồng.
  • Chuyển dịch ngành chăn nuôi: Giảm mạnh đàn trâu (còn khoảng 40 con/20 hộ do cơ giới hóa máy cày, máy bừa) và hầu như không còn đàn bò. Xuất hiện các trang trại chăn nuôi lợn, gà công nghiệp quy mô lớn (5 - 6 ha) tập trung gần vùng chè để cung cấp nguồn phân hữu cơ phục vụ thâm canh chè.

Chương 3: Thực trạng biến đổi về văn hóa - xã hội của làng nghề chè truyền thống Lầy

Chương 3 tổng kết các tác động xã hội và hệ thống giải pháp phát triển:

  • Thực trạng biến đổi văn hóa - xã hội: Nghề chè giúp giải quyết tình trạng nông nhàn, tận dụng tối đa lao động phụ nữ, người già và thu hút lao động nhập cư từ Nam Định, Hà Tây, Cao Bằng. Sự phân công lao động trong gia đình được định hình rõ rệt: phụ nữ đảm nhận khâu thu hái và tiêu thụ sản phẩm, nam giới phụ trách khâu chăm bón, phun tưới và sao sấy chế biến. Kinh tế phát triển kéo theo sự ra đời của các dịch vụ phụ trợ (đóng gói bao bì, đại lý phân bón, thu mua sản phẩm), cải thiện diện mạo làng xóm, giảm tỷ lệ hộ nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống.
  • Định hướng và giải pháp phát triển:
    1. Giải pháp về vốn, quy mô sản xuất, cơ sở hạ tầng: Tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi; mở rộng nương chè tập trung; nâng cấp hệ thống kênh mương tưới tiêu và đường giao thông nội đồng phục vụ vận chuyển.
    2. Đổi mới công nghệ và bảo vệ môi trường: Ứng dụng đồng bộ máy vò, máy sao chè sử dụng mô tơ điện; tuân thủ quy trình IPM, VietGAP; kiểm soát việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón vô cơ nhằm tránh thoái hóa đất và ô nhiễm nguồn nước.
    3. Quảng bá thương hiệu sản phẩm và thị trường tiêu thụ: Đẩy mạnh xúc tiến thương mại qua các kỳ Festival Trà; đăng ký nhãn hiệu tập thể cho chè Lầy; tìm kiếm đối tác liên kết bao tiêu sản phẩm xuất khẩu.
    4. Nâng cao nhận thức bảo tồn giá trị văn hóa làng nghề: Tuyên truyền gìn giữ kỹ năng chế biến truyền thống kết hợp đào tạo kỹ thuật thâm canh hiện đại cho thế hệ trẻ.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Khảo sát và định lượng hóa đầy đủ các chỉ số phát triển của làng nghề chè Lầy: diện tích canh tác chè đạt 54 ha (chiếm 40% cơ cấu đất trồng trọt năm 2013); tổng doanh thu làng nghề đạt 6.700 triệu đồng (năm 2011) và ước đạt gần 17.000 triệu đồng (năm 2013); thu nhập bình quân lao động làm chè đạt 2,0 - 2,5 triệu đồng/người/tháng.
  • Làm rõ tính hiệu quả của hai mô hình tổ chức sản xuất: mô hình hộ gia đình truyền thống (chiếm trên 95% số hộ) và mô hình liên kết trang trại doanh nghiệp (Trang trại Vạn Tài đạt tiêu chuẩn GlobalGAP, năng suất 31 tạ khô/ha năm 2013).
  • Phân tích thực chứng sự chuyển đổi sinh kế lịch sử: từ kinh tế lúa nước ngập lầy và nghề phụ đan quang gánh (giai đoạn bao cấp 1979 - 1980) sang kinh tế đồi rừng chuyên canh chè thương phẩm giá trị cao.

Đóng góp của đề tài

  • Là công trình khảo cứu chuyên biệt đầu tiên dưới góc độ Việt Nam học về làng nghề chè truyền thống Lầy tại xã Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Bổ sung nguồn tư liệu thực địa, điền dã chi tiết về lịch sử tên làng, quá trình biến đổi các thiết chế hợp tác xã nông nghiệp và sự hình thành các dòng họ khai phá tại địa phương.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tiễn phục vụ công tác quản lý, quy hoạch phát triển làng nghề của chính quyền xã Minh Đức và huyện Phổ Yên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian nghiên cứu và nguồn tư liệu thư tịch địa phương không còn lưu giữ gia phả hay văn bia dòng họ, một số dữ liệu lịch sử lập làng trước năm 1945 chủ yếu dựa vào lời kể truyền miệng của các cụ cao tuổi. Số liệu doanh thu năm 2013 mang tính chất ước tính dựa trên báo cáo sơ bộ của các trưởng xóm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh chuỗi giá trị sản phẩm giữa làng nghề Lầy với các làng nghề chè khác trên địa bàn huyện Phổ Yên; đánh giá chuyên sâu hơn về các tác động sinh thái môi trường lâu dài của việc thâm canh chè đối với tài nguyên đất và nước ngầm tại khu vực chân núi Tam Đảo.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Giảng viên, sinh viên và học viên chuyên ngành Việt Nam học, Nhân học, Văn hóa học, Địa lý kinh tế và Phát triển nông thôn.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Chuỗi bảng biểu và biểu đồ phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu đất đai (2000 - 2013) và năng suất sản xuất chè khô tại địa bàn cấp thôn/xóm.
    • Phương pháp tiếp cận điền dã kết hợp tư liệu hành chính và truyền miệng trong việc khôi phục lịch sử địa phương và lịch sử nghề truyền thống.
    • Phân tích trường hợp điển hình về mô hình trang trại áp dụng tiêu chuẩn GlobalGAP trong sản xuất nông nghiệp nông thôn miền núi.

Câu hỏi thường gặp

1. Tên gọi "làng Lầy" có nguồn gốc lịch sử từ đâu?
Tên gọi "Lầy" bắt nguồn từ hai yếu tố tự nhiên thực tế trước đây: thứ nhất, khoảng 2/3 diện tích đất canh tác của làng là đầm lầy, ruộng thụt (người dân đi cấy bị lún ngập quá đầu gối đến nửa người tại các cánh đồng Ao Chu, Cộc Mốc, Nếp, Thụt, Na Năng...) khiến trâu bò và máy cày không thể làm đất; thứ hai, đường sá của làng trước kia chưa được nâng cấp, khi trời mưa bùn đất rất trơn trượt và lầy lội.

2. Làng Lầy được UBND tỉnh Thái Nguyên công nhận là Làng nghề truyền thống vào thời gian nào và theo văn bản pháp lý nào?
Làng nghề chè truyền thống Lầy (gồm xóm Lầy 5 và xóm Lầy 6) chính thức được UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành quyết định công nhận là Làng nghề truyền thống cấp tỉnh vào ngày 11/09/2013, căn cứ theo các tiêu chí tại Quyết định số 38/2012/QĐ-UBND ngày 31/10/2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên.

3. Cơ cấu diện tích đất trồng trọt tại làng Lầy chuyển biến như thế nào trong giai đoạn 2000 - 2013?
Trong giai đoạn 2000 - 2013, tỷ trọng đất trồng cây công nghiệp (cây chè) tăng mạnh từ 22% (25 ha) lên 40% (54 ha); ngược lại, tỷ trọng đất trồng cây lương thực (lúa, ngô) giảm từ 50% (58 ha) xuống còn 31% (42 ha).

4. Trang trại chè Vạn Tài tại làng Lầy có quy mô và thành tựu nông nghiệp nào nổi bật?
Trang trại chè Vạn Tài có quy mô gần 3,8 ha, trồng 100% giống chè cành mới từ năm 2001. Năm 2009, trang trại là đơn vị đầu tiên tại địa phương đạt chứng nhận GlobalGAP trên cây chè. Năng suất chè búp khô tăng từ 6 tạ/ha (năm 2005) lên 31 tạ/ha (năm 2013), giải quyết việc làm thường xuyên cho trên 60 lao động.

5. Trước khi chuyên canh cây chè, người dân làng Lầy từng làm nghề phụ nào trong giai đoạn kinh tế khó khăn 1979 - 1980?
Vào cuối năm 1979 - đầu năm 1980 dưới thời bao cấp, do nông nghiệp kém phát triển và đời sống thiếu thốn, hầu hết người dân làng Lầy đã vào rừng lấy dây nâu về đan "quang gánh" (nghề làm quang nâu) bán kiếm sống. Nghề này mai một và biến mất hoàn toàn sau khi giải thể chế độ hợp tác xã năm 1989.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Hoa đã phác họa bức tranh toàn diện và chân thực về quá trình hình thành, phát triển của làng nghề chè truyền thống Lầy (xã Minh Đức, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên). Nghiên cứu khẳng định cây chè đóng vai trò trụ cột thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập và cải thiện rõ rệt đời sống văn hóa - xã hội của người dân địa phương. Tác phẩm là nguồn tài liệu khảo cứu thực địa có giá trị khoa học và thực tiễn đối với công tác bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống vùng trung du Bắc Bộ.