chương 1. Một số lý thuyết nhỏ, theo từng chương có sử dụng những nội dung cụ thể làm cơ sở giải quyết đề tài. NỘI DUNG Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CỘNG ĐỒNG VÀ DI TÍCH 1. Vấn đề khái niệm và vai trò của cộng đồng đối với di sản 1.
Khái niệm cộng đồng “Cộng đồng” là một khái niệm cơ bản của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, với nhiều tuyến nghĩa khác nhau. Theo [8; 15], có hai cách hiểu về cộng đồng, đó là “cộng đồng tính” và “cộng đồng thể”. “Cộng đồng tính” là thuộc tính hay quan hệ xã hội như tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng… “Cộng đồng thể” là các nhóm người, nhóm xã hội có tính cộng đồng với những quy mô lớn nhỏ khác nhau. Xung quanh khái niệm “cộng đồng thể”, các nhà khoa học đưa ra hai tuyến nghĩa.
Tuyến thứ nhất liên quan đến cái nhìn địa lý, coi “cộng đồng là một nhóm cư dân cùng sinh sống trong một địa vực nhất định, có cùng các giá trị và tổ chức xã hội cơ bản” [8; 21]. Nghĩa thứ hai coi cộng đồng là “một nhóm dân cư có chung những mối quan tâm cơ bản” [8; 21]. Với nghĩa này, đôi khi các cộng đồng có thể được biến đổi bởi quá trình vận động của lịch sử, làm cho các thành viên của cộng đồng cũng phải biến đổi nhận thức và hành vi. Để làm cơ sở triển khai đề tài, chúng tôi lựa chọn khái niệm “cộng đồng” là sự tổng hòa của cả hai khái niệm cộng đồng tính và cộng đồng thể, từ đó đưa ra một khái niệm chung về cộng đồng: đó là “một nhóm người có quy mô lớn nhỏ khác nhau cùng sinh sống trên một địa vực nhất định, có cùng các giá trị và tổ chức xã hội cơ bản, cùng chung những mối quan tâm cơ bản, được gắn bó với nhau bởi tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng và ý thức cộng đồng”.
20 z Từ khái niệm trên, chúng ta có thể chỉ ra được ba thành phần tạo lập nên một cộng đồng: địa vực, yếu tố kinh tế hay nghề nghiệp và cuối cùng là các yếu tố có tính văn hóa. Ba yếu tố này tạo nên những mối liên hệ giữa các cá nhân trong cộng đồng, tạo nên tính cộng đồng rõ rệt, cụ thể là: (1) Tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, đó gọi là tương quan thân mật; (2) Có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc của cá nhân trong những nhiệm vụ và công tác xã hội của tập thể; (3) Có sự hiến dâng tinh thần hoặc dấn thân đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa; (4) Một ý thức đoàn kết với những người trong tập thể. Sở dĩ chúng ta có thể gọi là “cộng đồng Cổ Loa”, bởi lẽ, đây là một tập hợp người có sự liên kết với nhau trên cả ba yếu tố: địa vực, kinh tế hay nghề nghiệp và các yếu tố có tính văn hóa. Về địa vực, theo Cổ Loa xã địa bạ lập năm Gia Long thứ 4 (1805), xã Cổ Loa có giáp giới như sau: Phía Đông, trên giáp địa phận thôn Thư Cưu xã Lương Quán, dưới giáp địa phận xã Dục Tú.
Theo địa giới hành chính mới, Cổ Loa giáp xã Dục Tú. Phía Tây, trên giáp địa phận thôn Cầu Cả, xã Uy Nỗ và thôn Sằn Giã, xã Vạn Lộc, dưới giáp địa phận xã Mạch Tràng. Theo địa giới hành chính mới, Cổ Loa giáp xã Xuân Canh. Phía Nam, trên giáp địa phận xã Mạch Tràng, dưới giáp địa phận xã Lộc Hà.
Theo địa giới hành chính mới, Cổ Loa giáp xã Đông Hội và xã Mai Lâm. Phía Bắc, trên giáp địa phận thôn Tổ, xã Uy Nỗ, dưới giáp địa phận thôn Cưu, xã Lương Quán. Theo địa giới hành chính mới, Cổ Loa giáp xã Uy Nỗ và Việt Hùng. Về kinh tế, hiện nay, phần lớn cư dân Cổ Loa làm nông nghiệp (chiếm khoảng 70% cơ cấu kinh tế).
Với Cổ Loa, các nghề thủ công không phát triển lắm, không có quy mô lớn, mang tính tự cung tự cấp, chỉ có vùng Lỗ Khê ngoài thành Cổ Loa có nghề dệt cổ truyền. Tuy nhiên, mặc dù 70% làm 21 z nông nghiệp nhưng thu nhập không phải chỉ từ đồng ruộng. Người Cổ Loa buôn bán từ các chợ gần nhà đến các chợ xa nhà. Về văn hóa, Cổ Loa còn là một trong bát xã thuộc tổng Cổ Loa có mối quan hệ lịch sử lâu đời, biểu hiện bằng việc tám xã cùng tổ chức lễ hội thờ An Dương Vương.
Lễ hội Cổ Loa chính là một dịp để thể hiện ý thức, đời sống tâm linh và tinh thần cộng đồng cao. Bên cạnh đó, cư dân Cổ Loa sinh sống trên một mảnh đất giàu truyền thống lịch sử, đã hai lần được chọn làm kinh đô, với những nét kiến trúc của một quân thành và kinh thành, mang dấu tích lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước của vua An Dương Vương và Ngô Quyền. Hiện nay, người dân Cổ Loa vẫn lưu giữ những sinh hoạt văn hóa truyền thống mang đậm dấu ấn địa phương như tục ăn sêu bà Chúa, tục thờ đá, thờ thần Rùa… 1. Một số vấn đề xung quanh khái niệm Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa được coi sẽ phá hoại những mối quan hệ cộng đồng tính.
Ở Việt Nam, cộng đồng làng - xã có một giá trị tốt đẹp mà ai cũng công nhận đó là tình làng nghĩa xóm đang có nguy cơ bị giải thể do quá trình đô thị hóa và thị trường hóa. Theo [8; 43], có ba thể chế xã hội cơ bản tham gia vào sự phát triển của cộng đồng. Đó là: (1) tự quản cộng đồng; (2) sự quản lý của nhà nước và (3) sự can thiệp của thị trường. Ba thể chế xã hội này là riêng biệt và hợp tác với nhau để cùng nhau phát triển cộng đồng, nhưng không phải lúc nào cũng nhất trí với nhau, thậm chí có những lúc mâu thuẫn loại trừ nhau.
Ở nước ta, đã có những thời kỳ tự trị cộng đồng, nhà nước độc quyền và không có thị trường để phát triển. Thị trường bị cấm đoán, do đó năng lực thị trường bị thiếu hụt. Mâu thuẫn nan giải nhất là mâu thuẫn giữa cộng đồng và Nhà nước, tức là tự quản cộng đồng và quản lý tập trung của Nhà nước. Trong các xã hội nông nghiệp sơ khai, sự phát triển của cộng đồng là không hoặc ít có sự can thiệp của Nhà nước.
Ở các xã hội nông nghiệp phát 22 z triển cao hoặc các xã hội công nghiệp thì Nhà nước đã “với tay” vào các hoạt động của cộng đồng mà kết quả là quyền lực của Nhà nước ngày càng lớn mạnh hơn, có lúc, có nơi thôn tính cộng đồng, triệt tiêu khả năng phát triển của cộng đồng. Cổ Loa hiện nay đang nằm trong vùng đô thị hóa mạnh mẽ của thủ đô Hà Nội. Quá trình đô thị hóa với sự can thiệp của thị trường và Nhà nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vai trò của cộng đồng nơi đây. Đây là một vấn đề quan trọng cần phải xem xét khi nghiên cứu về cộng đồng Cổ Loa.
Vai trò của cộng đồng đối với di sản Xung quanh vai trò của cộng đồng với di sản văn, có khá nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến đề cao vai trò của cộng đồng nhưng cũng có ý kiến nhấn mạnh tầm quan trọng của nhiều yếu tố khác đối với việc gìn giữ và phát huy các di sản vật thể và phi vật thể. Không đề cao vai trò của cộng đồng đối với di sản, bởi lẽ theo nhiều người, di sản là cho các nhà quản lý và khách du lịch chứ không phải cho cộng đồng địa phương. Di sản cho nhà quản lý bởi lẽ các nhà quản lý cần di sản để tôn vinh thể chế xã hội mà mình đang nắm giữ.
Bởi lẽ đó, sự thăng trầm của di sản do các nhà quản lý có những cách đánh giá khác nhau, qua những giai đoạn khác nhau về vị trí và vai trò của di sản trong đời sống xã hội. Di sản cho du khách bởi lẽ khai thác di sản văn hóa để phát triển du lịch là một cách đem lại lợi nhuận cho nền kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào. Nhiều di sản văn hóa dân gian trở thành sản phẩm du lịch để phục vụ du khách. Vì vậy, nhiều địa phương đã tổ chức, quản lý di sản của mình vì mục đích thu hút khách du lịch, hay nói cách khác là vì nhu cầu của khách du lịch.
Tuy nhiên, đồng ý kiến với nhiều nhà nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, di sản là của cộng đồng và cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị di sản. Bởi những lý do sau: 23 z Thứ nhất, cộng đồng là những người nắm giữ và thực hành di sản, giữ vai trò vừa là chủ thể sáng tạo và vừa là người hưởng thụ các sinh hoạt văn hóa đó. Di sản văn hóa là tài sản của cộng đồng, nó được cộng đồng tạo dựng và giữ gìn, truyền trao liên tục cho các thế hệ kế tiếp, không để xảy ra sự đứt gãy mạch nguồn văn hóa dân tộc. Thứ hai, dù chính quyền là tác nhân quan trọng trong việc tổ chức, phục hồi, quản lý di sản, nhưng sự can thiệp quá sâu của họ sẽ gây ra phản ứng ngược của người dân.
“Trường hợp tổ chức lễ hội Tây Thiên chẳng hạn. Sự tham gia quá tích cực của chính quyền đã khiến việc tổ chức lễ hội chưa trở thành động lực đoàn kết cộng đồng, thậm chí ngược lại, gây mâu thuẫn giữa người dân và chính quyền” [26; 12]. Thứ ba, du khách đem lại nhiều nguồn lợi cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản, tuy nhiên, số lượng khách lớn cùng với những hành động vô tình của một số du khách nhiều khi làm hỏng truyền thống địa phương. Đó chính là lý do tại sao, nhiều di tích đã có những quy định hạn chế du khách.
“Điều này còn nguy hại hơn đối với các di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt là lễ hội, khi không gian thiêng bị xâm phạm, hay người tổ chức đã giải thiêng các nghi lễ để phục vụ nhu cầu du khách. Khi lễ hội không còn được tổ chức như nó vốn thế, nó sẽ trở thành một sản phẩm du lịch thuần túy, tồn tại và thay đổi theo nhu cầu của du khách. Nó trở thành một sản phẩm có cũng được mà không có cũng được, tồn tại gượng ép ở địa phương theo nhu cầu của người bên ngoài” [26; 13].