Đặt vấn đề) giới thiệu sự cần thiết của nghiên cứu nghề SX rượu thủ công xã Mỹ Yên, Phước Lợi, Long Hiệp thuộc khu vực Gò Đen, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của nghề này. Ngoài ra, chương này còn giới thiệu đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2 (Cơ sở lý thuyết và thực tiễn) tập trung vào các lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu gồm các khái niệm và vai trò của ngành nghề TTCN.
Trong chương cũng nêu tổng quan những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển ngành nghề TTCN và những nhận định của tác giả về các mô hình liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chương 3 (Phương pháp nghiên cứu) giới thiệu cách tiếp cận khi nghiên cứu đề tài, gồm: tiếp cận trong -ngoài, tiếp cận hệ thống. Đồng thời chương này cũng giới thiệu khung phân tích, các chỉ tiêu quan sát, phương pháp lấy mẫu, thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, phương pháp phân tích và công cụ phân tích. Chương 4 (Kết quả và Thảo luận) tập trung đánh giá tổng quan nghề SX- KD rượu thủ công ở xã Mỹ Yên, Phước Lợi, Long Hiệp, đánh giá các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến tồn tại và phát triển của nghề nghiên cứu.
Chương 5 (Kết luận và gợi ý chính sách) xuất phát từ những đánh giá thực trạng SX-KD rượu khu vực Gò Đen, tác giả sẽ đánh giá về phương pháp nghiên cứu, các phát hiện của đề tài đồng thời đề xuất các nghiên cứu tiếp theo và các gợi ý chính sách. 123doc CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 2.1 Lý thuyết về thay đổi cơ cấu kinh tế Lý thuyết về thay đổi cơ cấu kinh tế (CCKT) của nhà kinh tế học Hollis Chenery, Giáo sư Đại học Havard Mỹ cho rằng: Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP có xu hướng giảm dần, trong khi tỷ trọng công nghiệp trong GDP có xu hướng tăng dần tương ứng với GNP/người tăng dần (Đinh Phi Hổ 2,2006, trang 120-121). Đặc trưng của từng giai đoạn phát triển kinh tế (KT) chính là cơ cấu GDP và sự thay đổi giai đoạn từ thấp lên cao khi sự thay đổi cơ cấu GDP theo hướng tỷ trọng GDP nông nghiệp giảm dần và GNP/người tăng dần.
Mô hình chuyển dịch CCKT của Hollis Chenery có thể hiểu là kiểu bình quân, không phải là mô hình phát triển chung cho mọi quốc gia. Điều này là do nền KT mỗi nước có sự khác biệt về qui mô, nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn, công nghệ, sự lựa chọn chiến lược và chính sách, v.v nên mỗi nước có sự khác biệt trong tốc độ phát triển và mô hình chuyển dịch CCKT. Ngoài ra, các yếu tố giống nhau giữa các nước cũng có thể khác nhau theo thời gian. Sự chuyển dịch CCKT theo ngành a) Hai xu hướng lớn chuyển dịch CCKT theo ngành đang diễn ra trên thế giới: - Chuyển dịch từ khu vực (KV) sản xuất vật chất sang KV dịch vụ.
Xu hướng này thường diễn ra ở các nước có nền KT phát triển cao, dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại. - Chuyển dịch trong nội bộ KV sản xuất vật chất, chủ yếu là chuyển dịch cơ cấu từ KV nông nghiệp sang KV công nghiệp. Xu hướng này chủ yếu ở các nước đang phát triển, gắn liền với quá trình công nghiệp hoá. b) Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, mở cửa nền KT và do tác động của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật, chúng ta có thể thực hiện cùng một lúc hai bước chuyển dịch CCKT trên.
2 123doc Đinh Phi Hổ (2006), Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn, trang 120-122 Cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu ngành KT đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng giảm tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp từ 24,5% năm 2000; 20,9% năm 2005, đến năm 2010 ước còn 15- 16%. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng từ 36,7% năm 2000, 41% năm 2005 và đến năm 2010 ước sẽ tăng đến 41-43%. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 2000 là 38,7%; năm 2005 là 38,1% và năm 2010 ước đạt khoảng 41- 42% 3. Trong nội bộ cơ cấu KT nông nghiệp, nông thôn có sự chuyển dịch theo hướng CNH- HĐH.
Tỷ trọng giá trị SX công nghiệp KV nông thôn tăng từ 17,3% năm 2001 lên 19,3% năm 2007. Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu LĐ nông thôn theo hướng ngày càng tăng nhanh các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ thuần nông giảm dần. Tỷ lệ hộ nông nghiệp đã giảm 9,87%; tỷ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8,78%. Năm 2007, số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3,6 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000.
Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH ở nước ta trước hết là quá trình phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp, giảm LĐ trong nông nghiệp. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Long An Giai đoạn 2001-2005, CCKT chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng KV nông nghiệp (42,6%) giảm (-5,4%), và tăng dần tỷ trọng KV công nghiệp-xây dựng (27,9%) tăng (+5,4%), riêng KV thương mại-du lịch tăng rất ít (29,5%). Giai đoạn 2006-2010, CCKT: KV nông nghiệp- công nghiệp và xây dựng- thương mại và dịch vụ theo tỷ lệ 26%- 43%: 31% (cả nước tương ứng: 13,5-14%, 45%, 41- 41,5%). Những năm tới, mục tiêu phát triển ngành nghề TTCN của Long An là tạo sự chuyển dịch CCKT nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng GDP của công nghiệp- TTCN- dịch vụ theo hướng đa dạng hoá ngành nghề TTCN để bố trí lại LĐ, khai thác tối đa lợi thế về nguồn nguyên liệu, truyền thống sản xuất và du lịch.2 Hệ thống các khái niệm về ngành nghề TTCN Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 4, cơ quan quản lý ngành nghề nông thôn phạm vi cả nước, ngành nghề TTCN được định nghĩa bằng các khái niệm sau: 3 Đảng cộng sản Việt Nam: Dự thảo các văn kiện trình đại hội X của Đảng, tháng 9/2005, Tr.87 4 123doc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và JICA (Nhật Bản).
Quy hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn. Nghề thủ công Nghề thủ công có thể sử dụng máy, hoá chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trong một số công đoạn nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và đặc trưng của SP vẫn làm bằng tay. Nguyên liệu của nghề thủ công thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên, công cụ SX thường là công cụ cầm tay đơn giản. Thủ công mỹ nghệ Thủ công mỹ nghệ là nghề thủ công làm ra các SP mỹ nghệ hoặc SP tiêu dùng được tạo hình và trang trí tinh xảo giống như SP mỹ nghệ.
Ở SP mỹ nghệ, chức năng văn hóa, thẩm mỹ trở nên quan trọng hơn chức năng sử dụng thông thường. Nghề thủ công truyền thống Nghề thủ công truyền thống là nghề thủ công có quá trình hình thành và phát triển qua nhiều đời thợ (vài chục đến vài trăm năm), với những SP có tính cách riêng biệt được nhiều người biết, hàm chứa yếu tố văn hoá đặc trưng của một nhóm người gắn với địa phương, khu vực. Đây là lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. Ngành nghề TTCN Ngành nghề TTCN là lĩnh vực SX bao gồm nghề thủ công và các cơ sở SX công nghiệp nhỏ có nguồn gốc từ nghề thủ công phát triển.3 Vai trò của ngành nghề TTCN Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các ngành nghề TTCN có vai trò rất quan trọng đối với khu vực nông thôn vì: i.
Tạo việc làm cho người lao động Các cơ sở thủ công đã thu hút LĐ nông nghiệp vào quá trình SX. Ngành nghề TTCN tạo việc làm cho khoảng 30% LĐ nông thôn. Một cơ sở chuyên ngành nghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 LĐ; mỗi cơ sở ngành nghề có 2-6 LĐ. Góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động Thu nhập của LĐ TTCN cao hơn khoảng 2-4 lần so với thu nhập của LĐ nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư nông thôn.
Góp phần phát triển nông thôn và kinh tế địa phương 123doc Các SP TTCN đa dạng, phong phú phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Nơi có ngành nghề TTCN phát triển thường hình thành nên trung tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá, tạo nên sự đổi mới trong nông thôn. Góp phần tăng giá trị hàng hoá, dịch vụ tại địa phương Với quy mô nhỏ, phân bố khắp vùng nông thôn, ngành nghề TTCN sản xuất ra khối lượng hàng hoá lớn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước. Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn.
Góp phần phát huy thế mạnh nội lực của địa phương Ngành nghề TTCN phát triển sẽ tạo ra đội ngũ LĐ có tay nghề cao, tận dụng nguồn nguyên liệu, vốn và có điều kiện đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn. Góp phần hạn chế tự do di dân Dịch chuyển LĐ là hiện tượng tất yếu trong quá trình CNH, HĐH. Sức ép việc làm và thu nhập sẽ thúc đẩy người nông dân di dân. Sự phát triển ngành nghề TTCN sẽ góp phần hạn chế tự do di dân vì tạo việc làm ổn định cho người LĐ vii.
Góp phần bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc của địa phương, hình thành thương hiệu quốc gia Ngành nghề TTCN tồn tại hàng trăm năm tạo ra những SP thủ công mỹ nghệ vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị phi vật thể. Nghề trống Bình Lãng (huyện Tân Trụ, tỉnh Long An) có gần 150 năm tồn tại và phát triển5. Qua nghiên cứu, nghề trống Bình Lãng được đánh giá chất lượng tầm Đông Nam Á. Góp phần thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Áp dụng khoa học, kỹ thuật nghề thủ công dần chuyển lên công nghiệp nhỏ, rồi công nghiệp.
Ngành nghề TTCN cung cấp cho công nghiệp nhiều SP có nét đặc sắc riêng. SP thủ công giúp định hướng phong cách SP công nghiệp. 5 Hội Văn học nghệ thuật dân gian Việt Nam, tỉnh Long An. Làng nghề trống Bình An, huyện Tân Trụ.
Tân An: Công ty cổ phần in Phan Văn Mãng.2 TỔNG QUAN KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN 2. Chương trình mỗi làng một nghề (One Village One Product) ở Nhật 6 Năm 1979, ông Morihiko Hiramatsu, lãnh đạo quận Oita, đề xuất chương trình mỗi làng một nghề (OVOP) ở Oita. Năm 1980, chương trình OVOP được giới thiệu ở 58 tỉnh, thành trong cả nước.