Chương 1. Tổng quan Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3. Thiết kế nghiên cứu Chương 4.
Phân tích kết quả khảo sát Chương 5. Kết luận CHUONG 2. CƠ SỞ LÝ THUYET VA MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 GIỚI THIEU Chương 2 trình bày những nội dung cơ bản của các lý thuyết có liên quan dé làm cơ sở nền tảng cho nghiên cứu này. Nhiều thuật ngữ, khái niệm, mô hình ở chương này được sử dụng cho các chương khác.
Chương này cũng trình bày mô hình nghiên cứu của dé tài.2 THƯƠNG HIEU 2.1 Thương hiệu Thương hiệu là tong hợp tat cả các yếu tố vật chất, thắm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm, hoặc một dòng sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi, hình ảnh đại diện, dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng (Moore, 2003). Cách hiểu khác về thương hiệu như Theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thi Mai Trang (2002), có thể chia thành hai quan điểm chính: a) Quan điểm truyền thống cho rằng thương hiệu là một cái tên, một từ, thiết kế, biểu tượng hoặc bất kỳ một đặc điểm nào để phân biệt sản phẩm hay dịch vụ của đơn vị này với đơn vị khác. Như vậy, với quan điểm này, thương hiệu được xem là thành phần của sản phẩm và chức năng chính của thương hiệu là để phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp minh với các sản phẩm khác trong cùng ngành cạnh tranh. b) Quan điểm tong hop vé thương hiệu cho rằng thương hiệu không chỉ là một cái tên hay một biểu tượng mà nó phức tạp hơn nhiều, nó là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi.
Theo quan điểm này sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu làm nhiệm vụ cung cấp lợi ích chức năng cho người tiêu dùng. Trong khi đó, thương hiệu vừa cung cấp cho khách hàng mục tiêu không những lợi ích chức năng mà còn lợi ích tinh than. c) Quan điểm tổng hợp về thương hiệu ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận. Lý do là người tiêu dùng luôn mong muốn được thỏa mãn hai nhu câu, nhu cau về chức năng và nhu cau về tâm lý.
Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng lợi ích chức năng còn thương hiệu mới cung cấp cho người tiêu dùng cả hai. Do đó, thương hiệu đã thay thế cho sản phẩm trong các hoạt động tiếp thị của doanh nghiệp. Với quan điểm tong hop thì mot thương hiệu được cầu tạo bởi nhiều thành phan. Hiện nay chưa có được sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về các thành phan cau thành một thương hiệu.
Tuy nhiên, một thương hiệu phải có các thành phân chính như tên gọi, biểu tượng, bản quyên, thuộc tính, tính năng sử dụng sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ, nhân cách thương hiệu, quốc gia xuất Xứ.2 Thành phần c a thương hiệu Thương hiệu ngày nay được hiểu theo nghĩa rộng hơn chứ không đơn giản là cái tên, biểu tượng, hình ảnh., dé phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm khác hay sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh, mà nó là tập hợp các thành phân có mục đích cung cấp lợi ích chức năng và tâm lý cho khách hàng mục tiêu. Thương hiệu có thê bao gôm các thành phân sau: - Thành phan chức năng: cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng mục tiêu và nó chính là sản phẩm như công dụng sản phẩm, các đặc trưng bổ sung (features), chất lượng. - Thành phần cảm xúc: thành phần này bao gồm các yếu tố giá trị mang tính biểu tượng (symbolic values) nham tạo cho khách hàng mục tiêu những lợi ích tam lý. Các yếu tố này là nhân cách thương hiệu (brand personality), biểu tượng (symbols), luận cứ giá tri hay còn gọi là luận cứ bán hàng độc đáo, gọi tắt là USP (unique selling proposition), vị trí thương hiệu, đồng hành với công ty (organisational associations) như quốc gia xuất xứ (country of origin), công ty nội địa hay quốc tế.3 Các nghiên cứu về nhân c ch thương hiệu Với các thành phần của thương hiệu nêu ở mục trên, Trong hai thành phân trên thì thành phần cảm xúc có vai trò quan trong hơn mà trong đó yếu t6 quan trọng nhất của thương hiệu tạo nên lợi ích cho khách hàng mục tiêu là nhân cách thương hiệu.
Aaker(1996) định nghĩa, nhân cách thương hiệu “là một tập thuộc tính cua con người 10 gan liền với một thương hiệu”. Như vậy, nhân cách thương hiệu sẽ có những đặc tính của con người như giới tính, tudi tác, tầng lớp, địa vị xã hội, cũng như những cảm xúc của họ như nhiệt tình, âu lo, đa cảm, v. Moore (2003) cho rằng “Nhân cách thương hiệu (Brand Personality) là tập hợp những nét cảm xúc được dùng để định hình thương hiệu”. Kotler (2002) thì: “Những người làm marketing có thể cung cấp kêu sản phẩm của ho với những nhân cách thương hiệu phù hợp với tính cách của người tiêu dùng.
Chang hạn, máy tính MacBook của hãng Apple có tính thân thiện, hợp thời trang đã thu hút người mua không cảm thấy chán so với những chiếc máy tính cá nhân bình thường”. Van đề nhân cách tác động đến các khía cạnh khác nhau của hành vi người tiêu dùng như thế nào đã được nghiên cứu rộng rãi, nhưng nghiên cứu về nhân cách thương hiệu chỉ mới bắt đầu gần day, mặc dù trong lĩnh vực tiếp thị một số nghiên cứu đã được hoàn thành và xuất bản. Ví dụ như Plummer (1985) nghiên cứu nhân cách thương hiệu tác động như thé nao đến sự lựa chon của khách hàng về một loại nước ngọt với một hình ảnh thương hiệu khác biệt ở Mỹ. Aaker (1996) tóm lược vai trò của nhân cách thương hiệu trong xây dựng năng lực thương hiệu, và chỉ ra tam quan trọng của nghiên cứu thực nghiệm và nhu cau cân thiệt của nó.4 Nghiên cứu về sự găn kết xã hội và găn kết thương hiệu Việc gan kết xã hội có nghĩa là một người coi chính họ như là một thành viên của xã hội.
Một biểu hiện của sự gắn kết với một tô chức là được coi như là một dạng đặc biệt của gắn kết xã hội. Con người có xu hướng sử dụng nhiều yếu tố khác nhau để phân loại chính họ như là thành viên thuộc về một nhóm đặc biệt nào đó. Hiện tượng này, được bắt nguồn trong cuộc sống xã hội cua chúng ta, thường được gọi là gan kết xã hội. Tóm lại, gan kết xã hội hàm ý chiều hướng thuộc về các nhóm hoặc tổ chức nhất định.
O đây, một nhóm bao gồm cả nhóm liên quan, nghĩa là nó không chỉ bao gồm một nhóm mà mọi người thuộc vào nhóm đó mà còn là một nhóm mà mọi người khao khát được là thành viên. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn không cung cấp được một định nghĩa chung nào về sự gan kết và tùy vào quan điểm khác nhau, mỗi tác giả sẽ có cách nhìn nhận khác nhau về biên sô này, Tuy nhiên, các nghiên cứu đêu thông nhat hai đặc 11 diém quan trọng và phô biên cân phải nêu ra được trong khái niệm cua sự gan kết la “tâm quan trọng của quyét định mua” va “sự quan tâm đên sản phầm, thương hiệu”. Trong nghiên cứu của mình tại thị trường điện thoại di động Hàn Quốc, Kim & ctg (2001) đã kết luận rằng sự gắn kết thương hiệu có ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu đó. Kim cũng kế thừa thang đo của Mael & Ashforth (1992) dé đo lường mức độ gắn kết với thương hiệu bang các yếu tố: - Phành công của thương hiệu này chính là thành công của tôi.
- Tôi thích thú với những gi liên quan đến thương hiệu này. - Khi có ai đó ca ngợi thương hiệu này, tôi cảm thấy như chính mình được khen ngợi. - Khi tôi nói chuyện về thương hiệu nay, tôi thường dùng “Chúng ta” (We) hơn là “Họ” (They). - Nếu có một câu chuyện trên phương tiện truyền thông phê bình thương hiệu này, tôi cảm thay ngượng nghiu.
- Nếu có ai đó phê bình thương hiệu này, tôi cảm thay như minh bị xúc phạm.3 NHÂN CÁCH THƯƠNG HIỆU Aaker (1997) đã xây dựng một mô hình gồm năm yếu tố dùng để đo lường nhân cách thương hiệu. Công trình này của bà là tiên dé dé tao ra một mô hình đo lường nhân cách thương hiệu, xét riêng trong phạm vị tiếp thị thương hiệu. Trước đó rất nhiều nhà nghiên cứu đã từng sử dụng các thang đo khác nhau, không đồng nhất hoặc là những thang đo có san từ những nhà tâm lý học về nhân cách con người ma các thang đo này chưa có cơ sở chắc chăn đối với lĩnh vực Maketing. Aaker đã giải quyết được tất cả những vẫn đề này bằng cách đưa ra một mô hình lý thuyết về nhân cách thương hiệu dựa trên 5 tính cách cua con người.
Công trình của Aaker (1997) phân tích ty lệ riêng biệt của 40 thương hiệu về 114 đặc điểm nhân cách thông qua 631 câu trả lời được chọn lọc tại Mỹ. Các thành phan quan trọng được kế đến trong nghiên cứu được đúc kết từ 5 nhân tổ nỗi bat. 12 Thang đo nhân cách thương hiệu đã rất thành công trong việc đáp ứng được những tiêu chí đáng tin cậy đối với những người trong ngành và đã được kiểm tra rất nhiều lần; cũng như là đáp ứng được các giá trị về mặt nội dung, cau trúc và tính logic của nó. Những kiểm tra về giá trị cầu trúc đã chứng minh rang các đặc điểm liên quan chặt chẽ đến từng nhân cách riêng biệt đã gan kết mật thiết với những đặc điểm có cùng tính cách không có nhiều liên hệ với những đặc điểm thuộc nhân cách khác.
Hơn nữa, dù khi đó không có nhiều cơ sở lý thuyết nói rõ rằng điều gì cầu thành nên việc các cau trúc thương hiệu sẽ dự báo, tuy nhiên những nỗ lực trong phác thảo nên cơ sở dự báo đã được xác lập theo hai hướng. Đầu tiên, giả định rằng những thương hiệu có tính cách mạnh mẽ được gan với phân khúc tiêu dùng cao cấp và tham khảo này đã được kiểm tra và củng cô. Giả định răng: mối liên hệ giữa việc tự thể hiện với các thương hiệu đã được sử dụng thì có giá trị cao hơn so với mối liên hệ giữa việc tự thể hiện với các thương hiệu chưa được sử dụng. Kết quả là các thành phần chủ yếu trong nghiên cứu đã được phân tích thành năm nhân t6 cốt lõi.