CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm Làng là một tổ chức ở nông thôn nước ta, là sản phẩm tự nhiên phát sinh từ quá trình định cư và cộng cư của con người, ở đó họ sống, làm việc, quan hệ, vui chơi, thể hiện mối ứng xử văn hoá với thiên nhiên, xã hội và bản thân họ [6]. Nghề trước tiên được hiểu là nghề thủ công như nghề dệt vải, nghề đúc đồng, nghề khảm trai, nghề gốm sứ,.
Lúc đầu nghề chỉ làm phụ trong các gia đình ở nông thôn, chủ yếu lúc nông nhàn. Nhưng dần dần số người làm nghề thủ công càng nhiều, tách rời khỏi nông nghiệp và họ sinh sống chính bằng thu nhập từ nghề đó ngay tại làng quê. Ngày nay ngoài nghề thủ công trên, các hoạt động cung ứng dịch vụ ở nông thôn cũng được xếp vào nghề và người ta gọi chung là ngành nghề phi nông nghiệp. Ngành nghề phi nông nghiệp được mở rộng, bao gồm các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp như: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống.
Ngành nghề phi nông nghiệp còn được gọi là ngành nghề nông thôn. “Ngành nghề nông thôn là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, bao gồm công nghiệp, thủ công nghiệp và các hoạt động dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống” [6]. Theo Trần Quốc Vượng (1999), “Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương. song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả,.
cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài”. Khái niệm làng nghề theo Thông tư 116/2006/TT- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [7]. Khái niệm làng nghề và làng nghề truyền thống theo Nghị định số 52/2018/NĐ- CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn.
Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời”. Vai trò của làng nghề Làng nghề góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, hạn chế di dân tự do: Sản xuất của làng nghề chủ yếu bằng phương pháp thủ công, không đòi hỏi cao về chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ hay trình độ ngoại ngữ. Do đó phát triển làng nghề tạo việc làm cho nhiều lao động. Trước hết là trong gia đình, trong làng xã, ngoài ra còn thu hút được nhiều lao động từ các địa phương khác.
Mặc khác, làng nghề phát triển sẽ hình thành các nghề khác, các hoạt động dịch vụ liên quan, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút thêm nhiều lao động. Điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội, an ninh trật tự, bởi vì hạn chế được vấn đề di dân từ vùng này sang vùng khác, từ nông thôn ra thành thị [1]. Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng nguồn lực trong nhân dân: Việt Nam là quốc gia chủ yếu sản xuất nông nghiệp nhưng ngày nay đất đai đô thị hóa nên ruộng đất bị giảm, nông nghiệp chủ yếu là theo thời vụ. Nên lực lượng lao động nhàn rỗi tăng nhanh.
Chính vì vậy, nghành nghề phi nông nghiệp dần dần phát triển, thu hút nguồn lao động nhàn rỗi rất mạnh. Ngành nghề phi nông nghiệp đa phần không đòi hỏi vốn đầu tư lớn; bởi rất nhiều nghề chỉ cần một số công cụ thủ công, thô sơ do người thợ thủ công tự sản xuất được hoặc đặt mua với số vốn nhỏ. Hơn nữa đặc điểm sản xuất trong các làng nghề là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các gia đình ở nông thôn. Với mức đầu tư không lớn, đây là lợi thế để các làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp tăng thu nhập cho người lao động.
Phát triển làng nghề là góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH-HĐH: Phát triển làng nghề tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách kinh tế giữa nông thôn và thành thị. Làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động, khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi một sự thường xuyên cung ứng dịch vụ vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động. Sự phát triển này đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó đã tạo ra nền kinh tế đa dạng ở nông thôn.
Làng nghề thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng, thay đổi bộ mặt nông thôn: Làng nghề phát triển có nhu cầu xây dựng nhà xưởng, đường sá, hệ thống cấp điện, nước, Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 bưu điện… Ngược lại làng nghề phát triển, người dân có thu nhập cao, có điều kiện đóng góp để xây dựng cơ sở hạ tầng, đồng thời người dân có nhu cầu và điều kiện trao đổi hàng hoá, mua sắm các tiện nghi sinh hoạt, xây dựng nhà cửa và do đó hình thành trung tâm giao lưu buôn bán. Những trung tâm này ngày càng đựơc mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn. Làng nghề truyền thống có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc: Sản phẩm của mỗi một làng nghề mang những nét, những sắc thái độc đáo của dân tộc. Những giá trị văn hóa của dân tộc thể hiện tư duy của người Việt, phong tục tập quán đặc sắc, truyền thống dân tộc, phong cách sống.
đều được thể hiện qua nét vẽ, hình mẫu, cách trang trí và cấu trúc của sản phẩm. Điều đó chỉ có được ở nghề truyền thống mới lột tả hết giá trị nhân văn, giá trị văn hóa. Những sản phẩm thủ công đều chứa đựng tình cảm, lòng yêu thiên nhiên đất nước qua bàn tay tài hoa của con người. Đây cũng chính là ưu thế của các sản phẩm truyền thống của người Việt khi mở rộng giao lưu trên thị trường quốc tế và mở rộng quan hệ văn hóa, nghệ thuật với các nước trên thế giới.
Vì thế chúng ta cần gìn giữ và không ngừng phát triển những văn hoá tốt đẹp ẩn chứa trong các sản phẩm này. Làng nghề góp phần phát triển du lịch: Giữa du lịch làng nghề và làng nghề truyền thống có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ tác động qua lại với nhau. Phát triển du lịch tại các làng nghề là một giải pháp hữu hiệu để phát triển kinh tế - xã hội ở làng nghề nói chung theo hướng tích cực và bền vững. Ngược lại các làng nghề cũng tạo nên sức hấp dẫn mới lạ thu hút du khách và có những tác động mạnh mẽ trở lại đối với du lịch trong một mục tiêu phát triển chung.
Làng nghề là nơi bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật, kỹ thuật sản xuất từ đời này sang đời khác đúc kết ở những nghệ nhân tài hoa. Phân loại làng nghề - Theo thời gian hình thành, hoạt động: Làng nghề truyền thống: Là những làng nghề xuất hiện từ lâu, được truyền qua nhiều thế hệ và còn tồn tại cho đến ngày nay. Làng nghề mới: Là làng nghề xuất hiện trong những năm gần đây. Những làng nghề hình thành do sự lan tỏa của làng nghề truyền thống hoặc được du nhập từ các địa phương khác.
Một số làng nghề ra đời từ chủ trương chính sách của địa phương để tạo việc làm cho người lao động. - Theo ngành nghề: Làng nghề được chia thành các loại làng nghề với những nghề cụ thể. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Sơ đồ về các làng nghề Làng Làng nghề Làng Làng nghề Làng chế nghề nghề sản nghề biến thủ công xuất buôn lương công nghiệp vật bán, thực, mỹ tiêu liệu dịch thực nghệ dùng xây vụ phẩm dựng Sơ đồ 1. Sơ đồ về các làng nghề - Theo quy mô làng nghề: Làng nghề quy mô lớn, lan tỏa liên kết nhiều thôn/làng làm cùng một nghề hoặc cùng một không gian địa lý lãnh thổ, tạo thành vùng nghề hoặc xã nghề; ở đó các làng nghề có quy mô lao động phi nông nghiệp rất lớn, không chỉ với lực lượng lao động tại chỗ mà còn thu hút lao động ở các làng khác đến làm thuê.
Làng nghề quy mô nhỏ, là trong phạm vi một làng theo hành chính địa phương. Ở các làng nghề này thường hoạt động kinh doanh một ngành nghề phi nông nghiệp, được truyền trong phạm vi dòng tộc. - Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề: Các làng nghề vừa sản xuất nông nghiệp vừa kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp Các làng nghề thủ công nghiệp chuyên nghiệp Các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu [1]. Phân loại các làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất (Nguồn: Nghiên cứu về các làng nghề ở Việt Nam) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.